Tâm huyết khôi phục giá trị truyền thống của dân tộc Mường

Giữa nhịp sống hiện đại với nhiều thay đổi, một số giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Mường đang dần ít hiện diện trong đời sống. Từ sự gắn bó với văn hóa dân tộc, chị Bùi Thị Linh (Bông Klăng), ở phường Hòa Bình, tỉnh Phú Thọ đã dành nhiều tâm huyết cho việc khôi phục, giới thiệu những nét đẹp văn hóa Mường đến với cộng đồng.

van-hoa3-16726.jpg
Chị Bùi Thị Linh (Bông Klăng) cùng thầy mo trong nghi lễ nhập trạch, mát nhà, lập ban thờ thổ công thổ địa truyền thống của người Mường ở xóm Nưa Tháu, phường Thống Nhất (Phú Thọ).

Từ tình yêu với cội nguồn

Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất giàu truyền thống văn hóa Mường, từ nhỏ chị Bùi Thị Linh đã được nuôi dưỡng trong không gian văn hóa của dân tộc mình qua những câu chuyện dân gian, tiếng chiêng, lời Mo Mường và các phong tục gắn bó với đời sống cộng đồng. Những giá trị ấy dần trở thành tình yêu, sự gắn bó và cũng là động lực để chị tìm cách gìn giữ bản sắc văn hóa của quê hương.

Khi trưởng thành, chứng kiến nhiều nét đẹp truyền thống dần ít xuất hiện trong đời sống thường ngày, chị Linh không khỏi trăn trở. Những bộ váy Mường nhiều khi chỉ còn được sử dụng trong các dịp lễ hội; tiếng nói, làn điệu dân ca và một số phong tục truyền thống cũng ít được thế hệ trẻ quan tâm như trước. Từ suy nghĩ đó, chị lựa chọn hành trình gìn giữ văn hóa theo cách của riêng mình.

Chị Bùi Thị Linh chia sẻ: “Xuất phát từ tình yêu với bản sắc văn hóa dân tộc, từ niềm đam mê và sự gắn bó với văn hóa Mường, tôi nhận thấy mình cần có trách nhiệm với gia đình, tổ tiên và cộng đồng trong việc gìn giữ những giá trị mà cha ông để lại”.

Chị dành nhiều tâm huyết phục dựng hình ảnh người phụ nữ Mường thông qua trang phục truyền thống; chú trọng khôi phục từ kiểu dáng, màu sắc đến các chi tiết hoa văn trên cạp váy, cách vấn khăn và cách thể hiện trang phục sao cho phù hợp với nét đẹp truyền thống.

Theo chị Linh, bộ váy Mường không chỉ là trang phục mà còn chứa đựng những giá trị văn hóa, phản ánh sự khéo léo, quan niệm thẩm mỹ và dấu ấn riêng của cộng đồng. Vì vậy, việc gìn giữ trang phục cũng chính là gìn giữ một phần bản sắc dân tộc.

Tái hiện làng nghề dệt vải truyền thống gắn với trang phục của đồng bào Mường trong hoạt động quảng bá dân tộc tại Khu dự án bất động sản" Mường Center" phường Kỳ Sơn, tỉnh Phú Thọ.

Tái hiện làng nghề dệt vải truyền thống gắn với trang phục của đồng bào Mường trong hoạt động quảng bá dân tộc tại Khu dự án bất động sản" Mường Center" phường Kỳ Sơn, tỉnh Phú Thọ.

Không chỉ mặc trang phục truyền thống trong các dịp lễ hội, chị Bùi Thị Linh còn đưa váy áo Mường vào các hoạt động giao lưu, sinh hoạt cộng đồng và giới thiệu trên các nền tảng mạng xã hội. Qua đó, chị mong muốn thay đổi cách nhìn của nhiều người, để trang phục dân tộc không chỉ xuất hiện trong không gian lễ nghi mà trở thành một phần tự nhiên của đời sống.

Gìn giữ để văn hóa Mường tiếp tục hiện diện

Ngoài những bộ trang phục, chị Linh còn tích cực tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ tại địa phương, góp phần duy trì những nét đẹp truyền thống của dân tộc Mường. Thông qua các câu lạc bộ, những buổi sinh hoạt cộng đồng, chị cùng mọi người trao đổi, chia sẻ về văn hóa Mường, đồng thời khuyến khích thế hệ trẻ tìm hiểu và trân trọng những giá trị của dân tộc.

Với mong muốn tạo sự gắn kết giữa các thế hệ, chị Linh tham gia hướng dẫn trẻ em tìm hiểu tiếng Mường, các điệu múa truyền thống và những nét đẹp trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Theo chị, bảo tồn văn hóa không chỉ là lưu giữ những giá trị của quá khứ mà cần làm cho những giá trị ấy tiếp tục hiện diện trong cuộc sống hiện tại.

Những hoạt động của chị Bùi Thị Linh cũng tạo sự kết nối với nhiều người có chung tình yêu với văn hóa Mường. Bà Nguyễn Thị Quý, tổ 7, phường Hòa Bình, tỉnh Phú Thọ, sau khi nghỉ hưu đã cùng các thành viên thành lập Câu lạc bộ văn hóa, văn nghệ nhằm tạo không gian giao lưu, học hỏi và góp phần bảo tồn các giá trị truyền thống.

Bà Nguyễn Thị Quý chia sẻ: “Tôi tham gia câu lạc bộ để học hỏi thêm về bảo tồn di sản văn hóa, đồng thời mong muốn cùng mọi người tiếp tục phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường. Qua các buổi sinh hoạt, tôi thấy ngày càng có nhiều người, nhất là các bạn trẻ quan tâm hơn đến văn hóa Mường. Đó là điều rất đáng quý và cũng là động lực để Câu lạc bộ tiếp tục duy trì hoạt động”.

Từ những việc làm cụ thể, câu chuyện của chị Bùi Thị Linh không chỉ dừng lại ở nỗ lực của một cá nhân mà còn cho thấy sự thay đổi trong cách tiếp cận việc bảo tồn văn hóa truyền thống. Thay vì chỉ lưu giữ trong không gian lễ hội hay ký ức của các thế hệ trước, những giá trị văn hóa Mường đang được các bạn trẻ tìm cách đưa trở lại đời sống bằng những hình thức gần gũi, phù hợp với hiện tại.

Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật tỉnh Phú Thọ Lê Va cho rằng: Văn hóa Mường là một kho tàng đặc sắc, không chỉ được cộng đồng người Mường trân trọng mà còn nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, nhà văn hóa. Để những giá trị ấy được gìn giữ và phát huy, yếu tố quan trọng trước hết là cần có những con người tâm huyết, trong đó có sự tham gia ngày càng tích cực của thế hệ trẻ.

Chị Bùi Thị Linh (Bông Klăng) chia sẻ về những giá trị văn hóa Mường qua màu sắc đến các chi tiết hoa văn trên cạp váy của người Mường.

Chị Bùi Thị Linh (Bông Klăng) chia sẻ về những giá trị văn hóa Mường qua màu sắc đến các chi tiết hoa văn trên cạp váy của người Mường.

Theo ông Lê Va, trước đây công tác bảo tồn văn hóa chủ yếu gắn với vai trò của các nghệ nhân lớn tuổi. Hiện nay, những người trẻ như Bùi Thị Linh đã có thêm nhiều điều kiện để tiếp cận tri thức, ứng dụng công nghệ, sử dụng các nền tảng truyền thông nhằm giới thiệu, quảng bá văn hóa dân tộc. Đây là hướng đi cần được khuyến khích để các giá trị truyền thống không chỉ được lưu giữ mà còn được phát huy trong đời sống.

Ông Lê Va cũng cho biết, Thời gian tới, việc bảo tồn văn hóa cần gắn với phát triển, tạo môi trường để những người tâm huyết có điều kiện sáng tạo, đưa các giá trị văn hóa trở thành nguồn lực phục vụ cộng đồng. Trong đó, sự kết nối giữa văn hóa với giáo dục, du lịch và phát triển công nghiệp văn hóa cần tăng cường, để những nét đẹp truyền thống vừa được bảo tồn, vừa có khả năng lan tỏa và tạo ra giá trị trong xã hội hiện đại.

Giờ đây, nhiều người biết đến chị Bùi Thị Linh với cái tên thân thuộc Bông Klăng, một loài hoa gắn với đời sống văn hóa, tín ngưỡng và những câu chuyện dân gian của đồng bào Mường. Tên gọi ấy cũng phần nào phản ánh hành trình mà chị đang lựa chọn gìn giữ và lan tỏa bản sắc văn hóa dân tộc, để những giá trị truyền thống không chỉ được lưu giữ trong ký ức mà tiếp tục hiện diện, phát triển và tỏa sáng trong đời sống đương đại./.

Bài và ảnh: Vũ Hà/TTXVN
Dân tộc Mường

Tên tự gọi: Mol (hoặc Mon, Moan, Mual).

Nhóm địa phương: Ao Tá (Âu Tá), Mọi Bi.

Dân số: 1.268.963 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường (ngữ hệ Nam Á).

Lịch sử: Cùng nguồn gốc với người Việt cư trú lâu đời ở vùng Hoà Bình, Thanh Hoá, Phú Thọ...

Hoạt động sản xuất: Nông nghiệp ruộng nước chiếm vị trí hàng đầu, cây lúa là cây lương thực chính. Công cụ làm đất phổ biến là chiếc cày chìa vôi và chiếc bừa đơn, nhỏ có răng bằng gỗ hoặc tre. Lúa chín dùng hái gặt bó thành cum gùi về nhà phơi khô xếp để trên gác, khi cần dùng, lấy từng cum bỏ vào máng gỗ, dùng chân chà lấy hạt rồi đem giã. Trong canh tác ruộng nước, người Mường có nhiều kinh nghiệm làm thuỷ lợi nhỏ.

Ngoài ruộng nước, người Mường còn làm nương rẫy, chăn nuôi gia đình, săn bắn, đánh cá, hái lượm và sản xuất thủ công nghiệp (dệt vải, đan lát...).

Ăn: Họ thích ăn các món đồ như xôi đồ, cơm tẻ đồ, rau, cá đồ. Cơm, rau đồ chín được dỡ ra rá tãi đều cho khỏi nát trước khi ăn. Rượu cần của người Mường nổi tiếng bởi cách chế biến và hương vị đậm đà của men được đem ra mời khách quý và uống trong các cuộc vui tập thể.

Phụ nữ cũng như nam giới thích hút thuốc lào bằng loại ống điếu to. Ðặc biệt, phụ nữ còn có phong tục nhiều người cùng chuyền nhau hút chung một điếu thuốc.


Mặc: Bộ y phục nữ đa dạng hơn nam giới và còn giữ được nét độc đáo. Khăn đội đầu là một mảnh vải trắng hình chữ nhật không thêu thùa, yếm, áo cánh (phổ biến là màu trắng) thân rất ngắn thường xẻ ở ngực và váy dài đến mắt cá chân gồm hai phần chính là thân váy và cạp váy. Cạp váy nổi tiếng bởi các hoa văn được dệt kỳ công. Trang sức gồm vòng tay, chuỗi hạt và bộ xà tích 2 hoặc 4 giây bạc có treo hộp quả đào và móng vuốt hổ, gấu bịt bạc.

Thầy mo khi hành lễ mặc y phục riêng. Ðó là chiếc áo dài 5 thân cài khuy bên nách phải, nhuộm màu xanh hoặc đen, thắt dây lưng trắng, đội mũ vải nhọn đầu. Thầy mỡi khi cúng chữa bệnh thường đội mũ chầu.

Ở: Người Mường sống tập trung thành làng xóm ở chân núi, bên sườn đồi, nơi đất thoải gần sông suối... ở tỉnh Hoà Bình, Thanh Hoá, Phú Thọ. Mỗi làng có khoảng vài chục nóc nhà, khuôn viên của mỗi gia đình thường nổi bật lên những hàng cau, cây mít. Ðại bộ phận ở nhà sàn, kiểu nhà bốn mái. Phần trên sàn người ở, dưới gầm đặt chuồng gia súc, gia cầm, để cối giã gạo, các công cụ sản xuất khác.

Làm nhà mới, khi dựng cột bếp, người Mường có tục làm lễ nhóm lửa. Gia chủ lấy bẹ chuối cắt hình 3 con cá to kẹp vào thanh nứa buộc lên cột bếp, ở cột cái của bếp còn đặt một quả bí xanh. Trước lúc đun nấu ở nhà mới, gia chủ làm lễ nhóm lửa xin thần bếp cho đặt 3 hòn đầu rau và hòn đá cái. Ðêm đó gia chủ mời mọi người uống rượu cần dưới ánh sáng của ngọn lửa không tắt.

Phương tiện vận chuyển: Phụ nữ phổ biến dùng loại gùi đan bằng giang hoặc tre, 4 góc nẹp thành thẳng đứng, có dây đeo qua trán hoặc qua vai để chuyên chở. Ðôi dậu, đòn gánh có mấu 2 đầu, đòn xóc cũng thường được sử dụng.

Nước sạch được chứa trong ống nứa to, dài hơn 1 mét vác vai từ bến nước về dựng bên vách để dùng dần.

Quan hệ xã hội: Quan hệ trong làng xóm với nhau chủ yếu là quan hệ láng giềng. Gia đình 2-3 thế hệ chiếm phổ biến. Con cái sinh ra lấy họ cha. Quyền con trai trưởng được coi trọng va con trai trong gia đình được thừa kế tài sản.

Cưới xin: Trai gái tự do yêu đương tìm hiểu, ưng ý nhau thì báo để gia đình chuẩn bị lễ cưới. Ðể dẫn đến đám cưới phải qua các bước: ướm hỏi (kháo thếng), lễ bỏ trầu (ti nòm bánh), lễ xin cưới (nòm khảu), lễ cưới lần thứ nhất (ti cháu), lễ đón dâu (ti du). Trong ngày cưới, ông mối dẫn đầu đoàn nhà trai khoảng ba, bốn chục người gồm đủ nội, ngoại, bạn bè mang lễ vật sang nhà gái tổ chức cưới. Chú rể mặc quần áo đẹp chít khăn trắng, gùi một chón (gùi) cơm đồ chín (bằng khoảng 10 đấu gạo), trên miệng chón để 2 con gà sống thiến luộc chín. Trong lễ đón dâu, cô dâu đội nón, mặc váy áo đẹp ngoài cùng là chiếc áo dài màu đen thắt 2 vạt ở phía trước. Cô dâu mang về nhà chồng thường là 2 chăn, 2 cái đệm, 2 quả gối tựa để biếu bố mẹ chồng và hàng chục gối con để nhà trai biếu cô dì, chú bác.

Sinh đẻ: Khi người vợ sắp sinh con, người chồng phải chuẩn bị nhiều củi, làm một bếp riêng ở gian trong và quây phên nứa thành một buồng kín cho vợ đẻ. Khi vợ chuyển dạ đẻ, người chồng đi báo tin cho mẹ vợ và chị em họ hàng nội ngoại biết để đến nhà cùng nhau chờ đợi. Bà đỡ cắt rốn cho đứa trẻ bằng dao nứa lấy từ đầu chiếc dui trên mái nhà. Nếu là con trai thì dùng dao nứa mái nhà trước, nếu là con gái thì dùng dao nứa mái nhà sau. Cuống rốn của các con trong gia đình được đựng chung trong một ống nứa, họ tin rằng làm như thế lớn lên anh em sẽ thương yêu nhau.

Ngày sinh con, gia đình tổ chức ăn mừng, mời thầy mo cùng trừ mọi điều xấu hại đến mẹ con. Ðẻ được 3-7 ngày thường có nhiều anh em, bà con đến thăm hỏi tặng quà. Bà ngoại mừng cháu bao giờ cũng có vài vuông vải tự dệt, gia đình khá giả mừng thêm chiếc vòng bạc đeo cổ, anh em thân thích thì mừng gạo, mừng tiền.

Người đẻ thường ăn cơm nếp cẩm với lá tắc chiềng (loại lá thuốc chống được bệnh sài), uống nước nấu với các loại lá cây thuốc và trong thời gian cữ (7 đến 10 ngày) nhất là 3 ngày đầu luôn luôn phải sưởi bên bếp lửa. Trẻ sơ sinh nếu là trai thì được âu yếm gọi là lọ mạ (thóc giống), nếu là gái thì lại trìu mến gọi là cách tắc (rau cỏ). Thường thì trẻ khoảng 1 tuổi mới được đặt tên gọi chính thức.

Ma chay: Người chết tắt thở, con trai trưởng cầm dao nín thở chặt 3 nhát vào khung cửa sổ gia thờ, sau đó gia đình nổi chiêng phát tang. Thi hài người chết được liệm nhiều lớp vải và quần áo theo phong tục rồi để vào trong quan tài làm bằng thân cây khoét rỗng, bên ngoài phủ áo vẩy rồng bằng vải.

Tang lễ do thầy mo chủ trì, dẫn dắt. Bên cạnh hình thức chịu tang của con trai, con gái như vẫn bình thường thấy ở người Việt, riêng con dâu, cháu dâu chịu tang cha mẹ, ông bà còn có bộ tang phục riêng gọi là bộ quạt ma.

Lịch: Lịch cổ truyền người Mường gọi là sách đoi làm bằng 12 thẻ tre tương ứng với 12 tháng. Trên mỗi thẻ có khắc ký hiệu khác nhau để biết tính toán, xem ngày, giờ tốt xấu cho khởi sự công việc.

Người Mường ở Mường Bi có cách tính lịch khác với người Mường ở các nơi khác gọi là cách tính ngày lùi, tháng tới. Tháng giêng lịch Mường Bi ứng với tháng 10 của lịch Mường các nơi khác và tháng 10 âm lịch.

Văn nghệ: Hát Xéc bùa (có nơi gọi Xắc bùa hay Khoá rác) được nhiều người ưa thích. Thường (có nơi gọi Ràng thường hoặc Xường) là loại dân ca ca ngợi lao động, và các nét đẹp phong tục dân tộc. Bọ mẹng là hình thức hát giao du tâm sự tình yêu. Ví đúm cũng là loại dân ca phổ biến.

Bên cạnh đó, người Mường còn có các thể loại hát khác như hát ru, hát đồng dao... Ðặc biệt, ở người Mường phải kể đến lễ ca. Ðó là những áng mo, bài khấn do thầy mo đọc và hát trong đám tang.

Ngoài sáo, nhị, trống, kèn... thì cồng chiêng là nhạc cụ đặc sắc.

Chơi: Trò chơi của người Mường gần gũi với mọi đối tượng. Có những trò chơi được tổ chức chu đáo, công phu như: thi bắn nỏ, đánh đu, ném còn... Các trò chơi của lứa tuổi thiếu niên nhi đồng được tổ chức linh hoạt ở mọi nơi, mọi lúc với những điều kiện chơi đàn giản, tiện lợi như trò đánh cá cắt, trò cò le, trò đánh chó hoặc buôn chó, trò đánh mảng, trò chăm chỉ, chằm chăn.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Mường

Có thể bạn quan tâm

Giữ mạch nguồn văn hóa Mông ở Điện Biên

Giữ mạch nguồn văn hóa Mông ở Điện Biên

Là một trong ba dân tộc có dân số đông nhất tỉnh Điện Biên, đồng bào Mông sinh sống chủ yếu ở các vùng núi cao và vẫn gìn giữ nhiều giá trị văn hóa đặc sắc, từ tiếng khèn, trang phục truyền thống, nghề thủ công đến những phong tục, lễ hội. Trong nhịp sống hôm nay, những giá trị ấy đang tiếp tục được trao truyền và phát huy, góp phần làm nên bản sắc văn hóa riêng có của Điện Biên.

Lãnh đạo Cần Thơ thăm, chúc mừng đồng bào Khmer dịp lễ Sene Dolta

Lãnh đạo Cần Thơ thăm, chúc mừng đồng bào Khmer dịp lễ Sene Dolta

Chiều 2/10, nhân dịp lễ Sene Dolta năm 2026 của đồng bào Khmer, đoàn công tác của thành phố Cần Thơ do Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Cần Thơ Đồng Văn Thanh làm trưởng đoàn đến thăm Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Thạnh Phú cùng Chùa Prek On Đớk (Cần Đước) tại xã Nhu Gia.

Giữ hồn văn hóa Tây Nguyên từ những người trẻ

Giữ hồn văn hóa Tây Nguyên từ những người trẻ

Giữa nhịp sống hiện đại, những giai điệu truyền thống ở phía Tây Quảng Ngãi đang được các nghệ sĩ trẻ nỗ lực gìn giữ và truyền lại cho thế hệ mai sau. Từ những buôn làng, âm nhạc đang tiếp tục được trao truyền bằng tình yêu và niềm tự hào văn hóa dân tộc.

Sôi nổi Lễ mừng cơm mới của người Mông vùng cao Púng Luông

Sôi nổi Lễ mừng cơm mới của người Mông vùng cao Púng Luông

Khi những thửa ruộng bậc thang vùng cao khoác lên mình sắc vàng mùa lúa chín, đồng bào Mông xã Púng Luông, Lào Cai lại tưng bừng tổ chức Lễ mừng cơm mới-nghi lễ truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, vừa có ý nghĩa tâm linh, vừa là điểm nhấn thu hút du khách trải nghiệm.

Lung linh Lễ hội Ánh sáng biên cương

Lung linh Lễ hội Ánh sáng biên cương

Tối 19/9, Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn tổ chức Lễ hội Ánh sáng biên cương lần thứ nhất năm 2026 với chủ đề “Sắc màu xứ Lạng”.

Độc đáo nghề làm mão, mặt nạ của đồng bào Khmer

Độc đáo nghề làm mão, mặt nạ của đồng bào Khmer

Đó là chủ đề trưng bày chuyên đề do Bảo tàng tỉnh Đắk Lắk phối hợp với Bảo tàng tỉnh Vĩnh Long tổ chức, ngày 11/9. Trưng bày giới thiệu đến công chúng những giá trị đặc sắc của nghề làm mão, mặt nạ truyền thống - di sản văn hóa gắn với đời sống tín ngưỡng và các loại hình nghệ thuật biểu diễn dân gian của đồng bào Khmer.

Nhịp cầu nối đôi bờ biên giới với những câu chuyện phối hợp và sẻ chia

Nhịp cầu nối đôi bờ biên giới với những câu chuyện phối hợp và sẻ chia

Tiếng hát “Việt Nam - Trung Hoa” vang lên trong buổi giao lưu tại phường Hà Giang 1, tỉnh Tuyên Quang, mở đầu cho những câu chuyện giữa cán bộ làm nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biên giới hai nước. Phía sau những tiết mục văn nghệ, trận bóng bàn và hành trình tìm hiểu các điểm đến của địa phương là một mối quan hệ được bồi đắp bằng nhiều năm phối hợp, chia sẻ và đồng hành.

Gìn giữ bản sắc văn hóa, tạo động lực phát triển vùng biên

Gìn giữ bản sắc văn hóa, tạo động lực phát triển vùng biên

Thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, tỉnh Lạng Sơn xác định, xây dựng và phát triển nền văn hóa toàn diện, giàu bản sắc, nhân văn, khoa học, hiện đại, trở thành nền tảng vững chắc, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực cho phát triển nhanh và bền vững.

Khai hội truyền thống Đền Minh Lương

Khai hội truyền thống Đền Minh Lương

Trong tiết thu dịu mát, tiếng trống khai hội vang lên giữa không gian cổ kính của Đền Minh Lương, xã Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang, mở đầu những ngày hội đậm sắc màu văn hóa, tín ngưỡng.

Đặc sắc Lễ hội Trung Nguyên Kiến Tiêu Nghinh ông Quan Thánh Đế Quân xuất du

Đặc sắc Lễ hội Trung Nguyên Kiến Tiêu Nghinh ông Quan Thánh Đế Quân xuất du

Sáng 6/9 (tức ngày 25/7 âm lịch), tại phường Phan Thiết (tỉnh Lâm Đồng), đoàn Quan Thánh Đế Quân xuất du diễn ra trong sự thích thú của đông đảo người dân địa phương và du khách. Đây là phần hội quan trọng và đặc sắc nhất của Lễ hội Trung Nguyên Kiến Tiêu Nghinh ông Quan Thánh Đế Quân xuất du lần thứ 15 - năm 2026.

'Đánh thức' nếp nhà xưa và các giá trị văn hóa bản địa

'Đánh thức' nếp nhà xưa và các giá trị văn hóa bản địa

Nằm nép mình bên những ghềnh đá cổ ven biển Sa Huỳnh, làng Gò Cỏ (phường Sa Huỳnh, tỉnh Quảng Ngãi) đang trở thành điểm đến hấp dẫn du khách trong và ngoài nước nhờ mô hình du lịch cộng đồng gắn liền với việc bảo tồn không gian kiến trúc truyền thống và các giá trị văn hóa bản địa.