Tạo nền tảng để chuyển 'tài nguyên' thành 'nguồn lực' phát triển mới

Tỉnh Khánh Hòa tích cực triển khai số hóa, xây dựng “chủ quyền văn hóa số” nhằm khơi dậy nguồn lực văn hóa Chăm, mở rộng khả năng tiếp cận, tạo nền tảng cho văn hóa di sản chuyển mình từ “tài nguyên” thành “nguồn lực”, từ “tiềm năng” thành “sản phẩm văn hóa đặc sắc”. Việc này sẽ đóng góp trực tiếp vào sinh kế và tăng trưởng bền vững của tỉnh theo đúng tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.

so2-10726.jpg
Ra mắt “Nền tảng số về di sản văn hóa Chăm tại Khánh Hòa” phục vụ du khách tra cứu, tìm hiểu.

Di sản hòa quyện cùng nhịp sống

Di sản văn hóa là nguồn lực cốt lõi để phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Trong dòng chảy lịch sử văn hóa dân tộc Việt Nam, văn hóa Chăm giữ một vị trí đặc thù với những giá trị nghệ thuật, tôn giáo và kiến trúc độc đáo. Hiện nay, dân tộc Chăm sinh sống tập trung nhiều ở các tỉnh Khánh Hòa, Lâm Đồng và An Giang. Dấu ấn văn hóa Chăm thể hiện rõ nét trong kiến trúc, điêu khắc, phong tục tập quán, lễ hội, tín ngưỡng, tôn giáo, tiếng nói, chữ viết, âm nhạc, nghệ thuật, hoa văn, làng nghề…

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phan Quốc Anh, Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn Dân tộc và Tôn giáo, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Khánh Hòa cho biết, văn hóa Chăm là một dòng chảy liên tục, đa sắc và vô cùng độc đáo. Từ mạng lưới các di tích vật thể quốc gia đặc biệt như tháp Ponagar, tháp Po Klong Garai, tháp Hòa Lai đến các di sản được UNESCO ghi danh như Nghệ thuật làm gốm của người Chăm. Văn hóa Chăm đang ẩn chứa trong mình những trầm tích lịch sử sâu dày. Sự đa dạng nội tại của cộng đồng người Chăm với hệ thống lễ hội truyền thống phong phú như Katê, Ramưwan, các làn điệu dân ca, dân vũ hòa quyện cùng âm thanh của trống Ginăng, trống Paranưng, kèn Saranai..., đã tạo nên một hệ sinh thái nhân văn vô cùng quyến rũ. Các tháp Chăm đều ẩn chứa trong mình những giá trị riêng biệt. Điển hình như tháp Bà Ponagar, đây không chỉ là một công trình kiến trúc gạch nung kỳ vĩ, mà còn là biểu tượng sinh động cho sự giao thoa, hòa hợp văn hóa sâu sắc giữa người Chăm và người Việt trong lịch sử. Đó là một không gian thiêng, một di sản sống đúng nghĩa khi vẫn đang là trung tâm thực hành tín ngưỡng hằng ngày của người dân. Sự đa dạng, chiều sâu tâm linh và tính nguyên bản ấy là chất liệu thượng hạng để xây dựng các sản phẩm du lịch văn hóa độc bản. Du khách trong và ngoài nước tìm đến với di sản Chăm là tìm đến với sự chân thực của trải nghiệm. Tài nguyên di sản Chăm vô cùng dồi dào, nhưng khai thác thế nào để không làm tổn thương đến bản sắc là câu chuyện cần sự cẩn trọng của khoa học.

Nhiều di sản văn hóa Chăm được số hóa phục vụ du khách tra cứu, tìm hiểu.

Nhiều di sản văn hóa Chăm được số hóa phục vụ du khách tra cứu, tìm hiểu.

Tiến sĩ Trịnh Thị Thủy, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch nêu rõ, di sản văn hóa Chăm không chỉ là tài sản quý giá của cộng đồng người Chăm mà còn là một phần không thể tách rời của nền văn hóa Việt Nam đa sắc màu. Đây cũng là nguồn lực đặc biệt quan trọng để phát triển du lịch văn hóa, du lịch trải nghiệm và du lịch sinh thái cộng đồng. Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm gìn giữ, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa các dân tộc. Nhiều dự án trùng tu Tháp Chăm, phục dựng lễ hội, truyền dạy nghề truyền thống được triển khai hiệu quả. Hoạt động du lịch gắn với di sản văn hóa Chăm cũng ngày càng được quan tâm, thu hút đông đảo du khách trong nước và quốc tế. Nhưng thực tiễn cũng cho thấy, tiềm năng từ văn hóa Chăm vẫn chưa được khai thác xứng tầm, nhiều di sản đứng trước nguy cơ xuống cấp, thiếu nguồn lực bảo tồn. Một số giá trị văn hóa phi vật thể có nguy cơ mai một. Sản phẩm du lịch còn đơn điệu, liên kết giữa các địa phương có di sản văn hóa Chăm còn chưa mạnh, sự tham gia của cộng đồng chưa thật sự bền vững.

Để phát huy giá trị di sản trở thành nguồn lực quan trọng, bền vững cần kết hợp hài hòa giữa bảo tồn và phát triển. Trọng tâm là chuyển hóa di sản thành các sản phẩm của ngành công nghiệp văn hóa và du lịch. Để làm được điều đó, rất cần sự chung tay của cộng đồng, nhà khoa học, chuyên gia, doanh nghiệp và chính quyền địa phương.

Tạo xung lực phát triển trên môi trường số

Việc phát huy giá trị di sản văn hóa Chăm gắn với phát triển du lịch không chỉ là tôn vinh giá trị văn hóa truyền thống, mà còn khẳng định giá trị văn hóa của cộng đồng.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phan Quốc Anh Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn Dân tộc và Tôn giáo, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Khánh Hòa chia sẻ, trước nhu cầu phát triển càng càng mạnh của du lịch văn hóa, việc làm cho di sản sống động trở lại, mang tính hữu dụng là rất cần thiết. Khi văn hóa được bảo tồn đúng bản chất và phát huy một cách sáng tạo sẽ trở thành nguồn lực nội sinh mạnh mẽ, phát triển ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội theo đúng tầm nhìn của Đại hội XIV của Đảng.

Tượng thờ Vua Po Klaong Girai được sử dụng mã QR Code để quét tra cứu.

Tượng thờ Vua Po Klaong Girai được sử dụng mã QR Code để quét tra cứu.

Thạc sĩ Hoàng Thị Bích Hạnh, Thường trực Trung tâm Hỗ trợ chuyển đổi số báo chí, Phó Giám đốc Trung tâm Lưu chiểu dữ liệu truyền thông số quốc gia (Cục Báo chí, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) cho rằng, trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trên mọi phương diện của đời sống xã hội, phương thức truyền thông di sản cũng đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, dịch chuyển từ truyền thông một chiều sang đa chiều dựa trên dữ liệu, tương tác và cá nhân hóa. Đối với văn hóa dân tộc Chăm - một kho tàng di sản đồ sộ với hệ thống tháp cổ, điêu khắc, bia ký, nghi lễ và các làng nghề truyền thống..., việc chuyển đổi này không chỉ đơn thuần là quảng bá hình ảnh mà còn mang ý nghĩa sống còn trong việc bảo tồn đúng bản chất, phát huy đúng chiều giá trị của di sản trong đời sống xã hội ngày nay. Trong kỷ nguyên số, du lịch không còn vận hành theo mô hình “quảng bá - thu hút” đơn thuần, mà đang chuyển dịch sang mô hình “trải nghiệm - hiểu biết - tương tác - bền vững”. Đây chính là thực tiễn, là yêu cầu mà du lịch văn hóa cần phải đáp ứng. Do đó, Khánh Hòa cần xây dựng “Kho tri thức di sản Chăm” (Tài nguyên di sản văn hóa Chăm) bằng cách phân nhóm đối tượng, chuẩn hóa dữ liệu 5 lớp, số hóa 3D. Đây là nền tảng để biến di sản thành tài nguyên số có thể tái sử dụng lâu dài. Cần thiết kế trải nghiệm “Học tập thông qua du lịch” theo hành trình người dùng, thực hiện đa phương thức tiếp cận bản đồ di sản số…, cho phép người dùng khám phá, tương tác và di chuyển tron không gian thực được số hóa hoặc không gian mô phỏng 3D; kết nối dữ liệu với vận hành du lịch bền vững.

Ông Lê Văn Hoa, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Khánh Hòa thông tin, Sở đang đẩy mạnh việc số hóa các di sản văn hóa ở tỉnh thông qua phối hợp với Trung tâm Lưu chiểu dữ liệu truyền thông số quốc gia, triển khai tích hợp giải pháp số, hoàn thiện nền tảng số về di sản văn hóa Chăm. Sở đã ra mắt “Nền tảng số về di sản văn hóa Chăm tại Khánh Hòa”; xây dựng cổng thông tin: http://vanhoacham.khanhhoa.gov.vn/, nhằm phục vụ du khách trong nước và quốc tế tra cứu điểm đến, di tích, sự kiện, nội dung di sản. Đặc biệt, 5 địa điểm di tích và bảo tàng liên quan đến di sản văn hoá Chăm được lựa chọn để số hóa hiện vật 3D không gian bảo tàng Khánh Hòa, số hóa hiện vật và tài liệu liên quan tại các tháp ở tỉnh.

Việc chuyển đổi phương thức truyền thông bằng dữ liệu hóa là hướng đi tất yếu để di sản văn hóa Chăm được lưu giữ khoa học, kể lại thuyết phục và trải nghiệm sống động, giúp văn hóa không chỉ được bảo tồn trong bảo tàng mà còn thực sự lan tỏa, đóng góp vào sự phát triển du lịch, giáo dục và kinh tế của Khánh Hòa./.

Dân tộc Chăm

Tên gọi khác: Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Chăm Pa, Hời...

Nhóm địa phương: Chăm Hroi, Chăm Poổng, Chà Và Ku, Chăm Châu Ðốc.

Dân số: 161.729 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Polynéxia (ngữ hệ Nam Ðảo).

Lịch sử: Dân tộc Chăm vốn sinh tụ ở duyên hải miền Trung Việt Nam từ rất lâu đời, đã từng kiến tạo nên một nền văn hoá rực rỡ với ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá Ấn Ðộ. Ngay từ những thế kỉ thứ XVII, người Chăm đã từng xây dựng nên vương quốc Chăm pa. Hiện tại cư dân gồm có hai bộ phận chính: Bộ phận cư trú ở Ninh ThuậnBình Thuận chủ yếu theo đạo Bà la môn (một bộ phận nhỏ người Chăm ở đây theo đạo Islam truyền thống gọi là người Chăm Bà ni). Bộ phận cư trú ở một số địa phương thuộc các tỉnh Châu Ðốc, Tây Ninh, An Giang, Ðồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh theo đạo Islam (Hồi giáo) mới.

Hoạt động sản xuất: Người Chăm có truyền thống nông nghiệp ruộng nước, giỏi làm thuỷ lợi và làm vườn trồng cây ăn trái. Bên cạnh việc làm ruộng nước vẫn tồn tại loại hình ruộng khô một vụ trên sườn núi. Bộ phận người Chăm ở Nam Bộ lại sinh sống chủ yếu bằng nghề chài lưới, dệt thủ công và buôn bán nhỏ, nghề nông chỉ là thứ yếu.

Nghề thủ công phát triển ở vùng Chăm nổi tiếng là dệt lụa tơ tằm và nghề gốm nặn tay, nung trên các lò lộ thiên. Việc buôn bán với các dân tộc láng giềng đã xuất hiện từ xưa. Vùng duyên hải miền Trung đã từng là nơi hoạt động của những đội hải thuyền nổi tiếng trong lịch sử.

Ăn: Người Chăm ăn cơm, gạo được nấu trong những nồi đất nung lớn, nhỏ. Thức ăn gồm cá, thịt, rau củ, do săn bắt, hái lượm và chăn nuôi, trồng trọt đem lại. Thức uống có rượu cần và rượu gạo. Tục ăn trầu cau rất phổ biến trong sinh hoạt và trong các lễ nghi phong tục cổ truyền.

Mặc: Nam nữ đều quấn váy tấm. Ðàn ông mặc áo cánh ngắn xẻ ngực cài khuy. Ðàn bà mặc áo dài chui đầu. Màu chủ đạo trên y phục là màu trắng của vải sợi bông. Ngày nay, trong sinh hoạt hằng ngày, người Chăm ăn mặc như người Việt ở miền Trung, chỉ có chiếc áo dài chui đầu là còn thấy xuất hiện trong giới nữ cao niên.

Vào dịp lễ Ramưwan, nam nữ người Chăm thường khoác lên mình trang phục truyền thống với nhiều sắc màu thể hiện bản sắc riêng của cộng đồng người Chăm. Ảnh Nguyễn Thanh.jpg
Vào dịp lễ Ramưwan, nam nữ người Chăm thường khoác lên mình trang phục truyền thống với nhiều sắc màu thể hiện bản sắc riêng của cộng đồng người Chăm. Ảnh Nguyễn Thanh

: Người Chăm cư trú tại Ninh Thuận, Bình Thuận, ở nhà đất (nhà trệt). Mỗi gia đình có những ngôi nhà được xây cất gần nhau theo một trật tự gồm: nhà khách, nhà của cha mẹ và các con nhỏ tuổi, nhà của các cô gái đã lập gia đình, nhà bếp và nhà tục trong đó có kho thóc, buồng tân hôn và là chỗ ở của vợ chồng cô gái út.

Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu và thường xuyên vẫn là cái gùi cõng trên lưng. Cư dân Chăm cũng là những người thợ đóng thuyền có kỹ thuật cao để hoạt động trên sông và biển. Họ làm ra những chiếc xe bò kéo, trâu kéo có trọng tải khá lớn để vận chuyển trên bộ.

Quan hệ xã hội: Gia đình người Chăm mang truyền thống mẫu hệ, mặc dù xã hội Chăm trước đây là xã hội đẳng cấp, phong kiến. Ở những vùng theo Hồi giáo Islam, tuy gia đình đã chuyển sang phụ hệ, vai trò nam giới được đề cao, nhưng những tập quán mẫu hệ vẫn tồn tại khá đậm nét trong quan hệ gia đình, dòng họ với việc thờ cúng tổ tiên. Cư dân Chăm vốn được phân thành hai thị tộc: Cau và Dừa như hai hệ dòng Niê và Mlô ở dân tộc Ê đê. Về sau thị tộc Cau biến thành tầng lớp của những người bình dân, trong khi thị tộc Dừa trở thành tầng lớp của quý tộc và tăng lữ. Dưới thị tộc là các dòng họ theo huyết hệ mẹ, đứng đầu là một người đàn bà thuộc dòng con út. Mỗi dòng họ lại có nhiều chi họ. Xã hội cổ truyền Chăm được phân thành các đẳng cấp như xã hội Ấn Ðộ cổ đại. Họ có những vùng cư trú riêng và có những ngăn cách rõ rệt: không được thiết lập quan hệ hôn nhân, không sống cùng một xóm, không ăn cùng một mâm...

Cưới xin: Phụ nữ chủ động trong quan hệ luyến ái. Hôn nhân cư trú phía nhà vợ, con sinh ra đều theo họ mẹ. Sính lễ do nhà gái lo liệu. Gia đình một vợ một chồng là nguyên tắc trong hôn nhân.

Ma chay: Người Chăm có hai hình thức đưa người chết về thế giới bên kia là thổ táng và hoả táng. Nhóm cư dân theo đạo Bà la môn thường hoả táng theo giáo luật, còn các nhóm cư dân khác thì thổ táng. Những người trong cùng một dòng họ thì được chôn cất cùng một nơi theo huyết hệ mẹ. 

Nhà mới: Người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận khi dựng nhà mới phải thực hiện một số nghi lễ cúng thần như: cúng Thổ thần để đốn gỗ tại rừng. Khi gỗ vận chuyển về làng phải làm lễ đón cây. Lễ phạt mộc được tổ chức để khởi công cho việc xây cất ngôi nhà. 

Lễ tết: Người ta thực hiện nhiều nghi lễ nông nghiệp trong một chu kỳ năm như: lễ khai mương đắp đập, lễ hạ điền, lễ mừng lúa con, lễ mừng lúa ra đòng. Nhưng lễ lớn nhất vẫn là lễ Bon katê được tổ chức linh đình tại các đền tháp vào giữa tháng mười âm lịch.

Lịch: Người Chăm có nông lịch cổ truyền tính theo lịch âm.

Học: Dân tộc Chăm có chữ từ rất sớm. Hiện tồn tại nhiều bia kí, kinh bằng chữ Chăm. Chữ Chăm được sáng tạo dựa vào hệ thống văn tự Sascrit, nhưng việc sử dụng chữ này còn rất hạn hẹp trong tầng lớp tăng lữ và quý tộc xưa. Việc học hành, truyền nghề, vẫn chủ yếu là truyền khẩu và bắt chước, làm theo. 

Văn nghệ: Nhạc cụ Chăm nổi bật có trống mặt da Paranưng, trống vỗ, kèn xaranai. Nền dân ca - nhạc cổ Chăm đã để lại nhiều ảnh hưởng đến dân ca - nhạc cổ của người Việt ở miền Trung như trống cơm, nhạc nam ai, ca hò Huế... Dân vũ Chăm được thấy trong các ngày hội Bon katê diễn ra tại các đền tháp. 

Thiếu nữ Chăm biểu diễn điệu múa truyền thống trong lễ hội Katê. Ảnh Nguyễn Thanh.jpg
Thiếu nữ Chăm biểu diễn điệu múa truyền thống trong lễ hội Katê. Ảnh Nguyễn Thanh

Chơi: Trẻ em thích đánh cù và thả diều, đánh trận giả, thi cướp cờ, chơi trò bịt mắt bắt dê.  

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Chăm

Có thể bạn quan tâm

Độc đáo nghề làm mão, mặt nạ của đồng bào Khmer

Độc đáo nghề làm mão, mặt nạ của đồng bào Khmer

Đó là chủ đề trưng bày chuyên đề do Bảo tàng tỉnh Đắk Lắk phối hợp với Bảo tàng tỉnh Vĩnh Long tổ chức, ngày 11/9. Trưng bày giới thiệu đến công chúng những giá trị đặc sắc của nghề làm mão, mặt nạ truyền thống - di sản văn hóa gắn với đời sống tín ngưỡng và các loại hình nghệ thuật biểu diễn dân gian của đồng bào Khmer.

Nhịp cầu nối đôi bờ biên giới với những câu chuyện phối hợp và sẻ chia

Nhịp cầu nối đôi bờ biên giới với những câu chuyện phối hợp và sẻ chia

Tiếng hát “Việt Nam - Trung Hoa” vang lên trong buổi giao lưu tại phường Hà Giang 1, tỉnh Tuyên Quang, mở đầu cho những câu chuyện giữa cán bộ làm nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biên giới hai nước. Phía sau những tiết mục văn nghệ, trận bóng bàn và hành trình tìm hiểu các điểm đến của địa phương là một mối quan hệ được bồi đắp bằng nhiều năm phối hợp, chia sẻ và đồng hành.

Gìn giữ bản sắc văn hóa, tạo động lực phát triển vùng biên

Gìn giữ bản sắc văn hóa, tạo động lực phát triển vùng biên

Thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, tỉnh Lạng Sơn xác định, xây dựng và phát triển nền văn hóa toàn diện, giàu bản sắc, nhân văn, khoa học, hiện đại, trở thành nền tảng vững chắc, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực cho phát triển nhanh và bền vững.

Khai hội truyền thống Đền Minh Lương

Khai hội truyền thống Đền Minh Lương

Trong tiết thu dịu mát, tiếng trống khai hội vang lên giữa không gian cổ kính của Đền Minh Lương, xã Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang, mở đầu những ngày hội đậm sắc màu văn hóa, tín ngưỡng.

Đặc sắc Lễ hội Trung Nguyên Kiến Tiêu Nghinh ông Quan Thánh Đế Quân xuất du

Đặc sắc Lễ hội Trung Nguyên Kiến Tiêu Nghinh ông Quan Thánh Đế Quân xuất du

Sáng 6/9 (tức ngày 25/7 âm lịch), tại phường Phan Thiết (tỉnh Lâm Đồng), đoàn Quan Thánh Đế Quân xuất du diễn ra trong sự thích thú của đông đảo người dân địa phương và du khách. Đây là phần hội quan trọng và đặc sắc nhất của Lễ hội Trung Nguyên Kiến Tiêu Nghinh ông Quan Thánh Đế Quân xuất du lần thứ 15 - năm 2026.

'Đánh thức' nếp nhà xưa và các giá trị văn hóa bản địa

'Đánh thức' nếp nhà xưa và các giá trị văn hóa bản địa

Nằm nép mình bên những ghềnh đá cổ ven biển Sa Huỳnh, làng Gò Cỏ (phường Sa Huỳnh, tỉnh Quảng Ngãi) đang trở thành điểm đến hấp dẫn du khách trong và ngoài nước nhờ mô hình du lịch cộng đồng gắn liền với việc bảo tồn không gian kiến trúc truyền thống và các giá trị văn hóa bản địa.

Thắt chặt tình đoàn kết, hữu nghị giữa nhân dân khu vực biên giới Việt Nam - Lào

Thắt chặt tình đoàn kết, hữu nghị giữa nhân dân khu vực biên giới Việt Nam - Lào

Từ ngày 31/8 - 2/9, tại khu vực Cửa khẩu Quốc tế Lóng Sập, xã Lóng Sập diễn ra các hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch thu hút đông đảo du khách và nhân dân biên giới Việt Nam và Lào tham gia. Đây là sự kiện trong chuỗi hoạt động thuộc Tuần Văn hóa - Du lịch Mộc Châu năm 2026, do Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La tổ chức.

Rộn ràng Tết Độc lập ở các bản làng vùng cao Điện Biên

Rộn ràng Tết Độc lập ở các bản làng vùng cao Điện Biên

Tết Độc lập 2/9 không chỉ rộn ràng ở các đô thị mà còn lan tỏa đến những bản làng vùng cao Điện Biên. Trong sắc cờ đỏ, đồng bào các dân tộc khoác lên mình trang phục truyền thống, hòa vào các hoạt động văn hóa, vui hội và đón du khách, cùng lan tỏa niềm tự hào về quê hương, đất nước.

Lai Châu: Trích đoạn Lễ hội Gầu tào văn hóa dân tộc Mông chào mừng Tết Độc lập

Lai Châu: Trích đoạn Lễ hội Gầu tào văn hóa dân tộc Mông chào mừng Tết Độc lập

Trong khuôn khổ các hoạt động chào mừng Tết Độc lập năm 2026, ngày 2/9/2026, tại Không gian văn hóa Mông thuộc sân vận động xã Than Uyên, Bảo tàng tỉnh Lai Châu phối hợp với UBND xã Than Uyên tổ chức trình diễn cúng cây nêu trích đoạn trong Lễ hội Gầu tào của dân tộc Mông. Đây là một trong những điểm nhấn đặc sắc, thu hút đông đảo nhân dân và du khách thập phương đến tham quan, trải nghiệm. 

Gần 3.000 người tham gia giải chạy “Đón bình minh trên biển” vào sáng 2/9

Gần 3.000 người tham gia giải chạy “Đón bình minh trên biển” vào sáng 2/9

Sáng 2/9, tại Quảng trường Tháp Nghinh Phong (phường Tuy Hòa), Giải chạy Tuy Hòa bán marathon 2026 “Đón bình minh trên biển” do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk tổ chức đã hoàn thành các phần thi. Giải có sự tham gia của gần 3.000 vận động viên, xuất phát vào lúc 4 giờ sáng 2/9 với hành trình đi qua các tuyến đường ở phường, kết nối các địa điểm du lịch như Tháp Nghinh Phong, Tháp Nhạn và khu vực biển Tuy Hòa.

Lai Châu chào mừng Tết Độc lập

Lai Châu chào mừng Tết Độc lập

Sáng 2/9/2026, tại Sân vận động xã Than Uyên, tỉnh Lai Châu diễn ra Lễ thượng cờ chào mừng Tết Độc lập năm 2026 với sự tham gia của hơn 2.000 cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, học sinh, nhân dân các dân tộc tỉnh Lai Châu cùng du khách. Sau lễ thượng cờ là các hoạt động múa sạp, diễu hành đường phố mang đậm sắc màu văn hóa các dân tộc vùng cao Lai Châu.

Mộc Châu - Tiếng gọi mùa yêu

Mộc Châu - Tiếng gọi mùa yêu

Nằm trong chuỗi các hoạt động Tuần Văn hóa - Du lịch Mộc Châu năm 2026, tối 1/9, tại Quảng trường 8/5 (phường Mộc Châu), tỉnh Sơn La tổ chức Chương trình nghệ thuật với chủ đề "Mộc Châu - Tiếng gọi mùa yêu", chào mừng kỷ niệm 81 năm ngày "Tết Độc lập" - Quốc khánh 2/9. Chương trình thu hút đông đảo du khách và nhân dân các dân tộc tỉnh Sơn La đến dự.

Về nơi Tết Độc lập đậm sắc Mường

Về nơi Tết Độc lập đậm sắc Mường

Trong không khí đón mừng Tết Độc lập 2/9, đồng bào Mường ở Lạc Sơn, tỉnh Phú Thọ lại sum họp, tổ chức các hoạt động theo phong tục được duy trì qua nhiều thế hệ. Từ bữa cơm đoàn tụ, những món quà biếu cha mẹ đến bánh uôi, tiếng chiêng, lời hát đối, những phong tục ấy góp phần tạo nên nét văn hóa đặc sắc trong ngày Tết của đồng bào Mường nơi đây.

Tiếng nhạc ngũ âm giữ hồn văn hóa Khmer ở An Giang

Tiếng nhạc ngũ âm giữ hồn văn hóa Khmer ở An Giang

Với đồng bào Khmer Nam Bộ, nhạc ngũ âm không chỉ góp phần tạo nên không khí trang nghiêm trong các nghi lễ Phật giáo hay rộn ràng trong những lễ hội truyền thống, mà còn là một phần văn hóa được gìn giữ và trao truyền qua nhiều thế hệ. Tại các ngôi chùa Khmer ở An Giang, những lớp học nhạc ngũ âm đang giúp thế hệ trẻ hiểu, yêu và tiếp tục gìn giữ những thanh âm đặc trưng của dân tộc mình.

Sức trẻ gìn giữ âm nhạc truyền thống Tây Nguyên

Sức trẻ gìn giữ âm nhạc truyền thống Tây Nguyên

Phía Tây của tỉnh Quảng Ngãi là nơi mang đậm nét văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên; trong đó âm nhạc đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống của bà con nhân dân nơi đây.