Chuyển đổi số góp phần lưu giữ giá trị văn hoá Mo Mường

Trước nguy cơ mai một của nhiều loại hình di sản văn hóa phi vật thể, chuyển đổi số đang trở thành giải pháp quan trọng để lưu giữ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống.

Mo Mường là nghi lễ dân gian của Mường do thầy mo thực hiện trong tang lễ, chứa đựng tri thức, tín ngưỡng. Ảnh tư liệu: Lưu Trọng Đạt/TTXVN.

Mo Mường là nghi lễ dân gian của Mường do thầy mo thực hiện trong tang lễ, chứa đựng tri thức, tín ngưỡng. Ảnh tư liệu: Lưu Trọng Đạt/TTXVN.

Đối với Mo Mường - Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia gắn bó với đời sống tinh thần của đồng bào Mường - số hóa không chỉ là yêu cầu từ thực tiễn mà còn mở ra cơ hội để di sản tiếp tục được trao truyền trong đời sống đương đại.

Nguy cơ mai một

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đặt mục tiêu hoàn thành số hóa 100% di sản văn hóa đã được xếp hạng cấp quốc gia vào năm 2026, tiến tới hoàn thiện vào năm 2030. Đây được xem là định hướng quan trọng nhằm đưa các giá trị văn hóa truyền thống bước vào không gian số, góp phần nâng cao hiệu quả bảo tồn và phát huy di sản.

Đối với các xã vùng Mường của tỉnh Phú Thọ như Thượng Cốc, Đại Đồng hay nhiều địa phương thuộc vùng Mường Vang, Mường Động trước đây, Mo Mường vẫn hiện diện trong đời sống văn hóa, tín ngưỡng của người dân. Những lời mo được cất lên trong các nghi lễ truyền thống không chỉ mang ý nghĩa tâm linh mà còn lưu giữ nhiều tri thức dân gian về lịch sử cộng đồng, phong tục tập quán và cách ứng xử của người Mường qua nhiều thế hệ.

Nghệ nhân Nhân dân Bùi Văn Minh, xã Thượng Cốc, tỉnh Phú Thọ cho biết, với người Mường, mỗi bài mo không chỉ là lời cúng trong nghi lễ mà còn là nơi lưu giữ ký ức văn hóa của cộng đồng. Vì vậy, việc gìn giữ các bài mo và không gian thực hành mo luôn được các nghệ nhân đặc biệt quan tâm.

Tuy nhiên, phần lớn các bài mo hiện nay vẫn được truyền dạy bằng hình thức truyền khẩu. Nhiều nghệ nhân am hiểu sâu sắc về Mo Mường đã cao tuổi, trong khi số lượng người trẻ kế cận còn hạn chế. Cùng với sự thay đổi của đời sống xã hội, nhiều nghi lễ truyền thống không còn được tổ chức thường xuyên như trước, khiến không gian thực hành và diễn xướng Mo Mường ngày càng thu hẹp.

Theo Nghệ nhân Nhân dân Bùi Văn Minh, đây là những thách thức lớn đối với công tác bảo tồn Mo Mường hiện nay khi nhiều tri thức dân gian quý giá vẫn đang được lưu giữ chủ yếu thông qua trí nhớ và kinh nghiệm của các nghệ nhân.

Trước yêu cầu bảo tồn di sản trong bối cảnh mới, nhiều địa phương trong tỉnh Phú Thọ đã đẩy mạnh hoạt động sưu tầm, ghi âm, ghi hình và lưu trữ tư liệu liên quan đến Mo Mường. Việc ứng dụng công nghệ số đang được kỳ vọng sẽ góp phần lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống, đồng thời tạo điều kiện để di sản tiếp cận rộng rãi hơn với cộng đồng.

Đưa di sản lên không gian số

Hiện nay, nhiều nghệ nhân đã chủ động sử dụng điện thoại thông minh và các thiết bị ghi hình để lưu lại các nghi lễ. Những hình ảnh, video tư liệu này được lưu trữ hoặc chia sẻ trên các nền tảng số, góp phần quảng bá, lan tỏa giá trị di sản và tạo điều kiện để nhiều người tìm hiểu, tiếp cận hơn với văn hóa Mường.

Nghệ nhân Nhân dân Bùi Văn Minh chia sẻ, việc ghi lại các nghi lễ và chia sẻ trên các nền tảng như Zalo, Facebook không chỉ giúp bảo tồn, lưu trữ tư liệu mà còn tạo điều kiện để những người yêu thích, muốn tìm hiểu và học nghề mo có thêm nguồn tư liệu tham khảo. Qua đó, các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Mường được lan tỏa rộng rãi hơn trong cộng đồng.

Theo các nghệ nhân, việc ứng dụng công nghệ số đã góp phần đưa các bài mo, nghi lễ và không gian thực hành Mo Mường đến gần hơn với công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ. Đây cũng là kênh kết nối hiệu quả để những người thực hành Mo Mường giao lưu, trao đổi kinh nghiệm và hỗ trợ nhau trong quá trình gìn giữ di sản.

Không chỉ phục vụ công tác quảng bá, số hóa, việc ứng dụng công nghệ số còn tạo nền tảng hình thành các nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu, học tập và truyền dạy di sản trong tương lai. Tuy nhiên, quá trình này vẫn gặp nhiều khó khăn khi phần lớn nghệ nhân đang trực tiếp nắm giữ và thực hành di sản chưa được trang bị đầy đủ kiến thức, kỹ năng về công nghệ số.

Nghệ nhân Mo Mường Bùi Văn Hùng, xã Đại Đồng, tỉnh Phú Thọ cho biết, là một thầy mo trẻ, anh chưa được đào tạo bài bản về các kỹ năng quay, dựng phim. Vì vậy, các lớp tập huấn, hướng dẫn của ngành Văn hóa và các cơ quan chuyên môn đã giúp các nghệ nhân từng bước tiếp cận công nghệ, phục vụ việc lưu giữ, quảng bá Mo Mường đến cộng đồng người Mường cũng như đông đảo công chúng.

Theo các chuyên gia, việc số hóa di sản không chỉ dừng lại ở ghi âm, ghi hình mà cần được thực hiện bài bản, khoa học, bảo đảm tính nguyên gốc và xác thực của di sản. Đây là cơ sở quan trọng để xây dựng hệ thống dữ liệu phục vụ lâu dài cho công tác quản lý, nghiên cứu, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa trong dài hạn.

Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Bùi Huy Vọng cho rằng, việc số hóa Mo Mường cần được xác định là nhiệm vụ lâu dài, gắn với mục tiêu bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống trong đời sống hiện đại. Sự biến mất của Mo Mường đang ở tốc độ rất nhanh. Vì vậy, củng cố, lưu giữ và phát huy được các giá trị của Mo Mường cũng là góp phần bảo tồn nền tảng văn hóa của Việt Nam. Đây là yêu cầu rất quan trọng trong công tác phát triển văn hóa hiện nay. Mo Mường cần được quan tâm hơn trong quá trình số hóa để những giá trị quý báu của di sản tiếp tục được trao truyền cho các thế hệ sau.

Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, việc đưa Mo Mường lên không gian số được xem là hướng đi tất yếu. Đây không chỉ là giải pháp lưu giữ những giá trị văn hóa đang có nguy cơ mai một mà còn là cơ hội để di sản vượt qua những giới hạn về không gian và thời gian, tiếp cận với đông đảo công chúng bằng những phương thức mới.

Khi công nghệ được sử dụng đúng cách và gắn với việc tôn trọng các giá trị nguyên gốc, Mo Mường có thêm điều kiện để tiếp tục được trao truyền, thực hành và lan tỏa trong cộng đồng. Đó cũng là cách để hiện thực hóa mục tiêu phát triển văn hóa mà Nghị quyết số 80 của Bộ Chính trị đã đề ra từ những giá trị cụ thể, gần gũi và giàu bản sắc như Mo Mường hôm nay./.

Vũ Hà/TTXVN
Dân tộc Mường

Tên tự gọi: Mol (hoặc Mon, Moan, Mual).

Nhóm địa phương: Ao Tá (Âu Tá), Mọi Bi.

Dân số: 1.268.963 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường (ngữ hệ Nam Á).

Lịch sử: Cùng nguồn gốc với người Việt cư trú lâu đời ở vùng Hoà Bình, Thanh Hoá, Phú Thọ...

Hoạt động sản xuất: Nông nghiệp ruộng nước chiếm vị trí hàng đầu, cây lúa là cây lương thực chính. Công cụ làm đất phổ biến là chiếc cày chìa vôi và chiếc bừa đơn, nhỏ có răng bằng gỗ hoặc tre. Lúa chín dùng hái gặt bó thành cum gùi về nhà phơi khô xếp để trên gác, khi cần dùng, lấy từng cum bỏ vào máng gỗ, dùng chân chà lấy hạt rồi đem giã. Trong canh tác ruộng nước, người Mường có nhiều kinh nghiệm làm thuỷ lợi nhỏ.

Ngoài ruộng nước, người Mường còn làm nương rẫy, chăn nuôi gia đình, săn bắn, đánh cá, hái lượm và sản xuất thủ công nghiệp (dệt vải, đan lát...).

Ăn: Họ thích ăn các món đồ như xôi đồ, cơm tẻ đồ, rau, cá đồ. Cơm, rau đồ chín được dỡ ra rá tãi đều cho khỏi nát trước khi ăn. Rượu cần của người Mường nổi tiếng bởi cách chế biến và hương vị đậm đà của men được đem ra mời khách quý và uống trong các cuộc vui tập thể.

Phụ nữ cũng như nam giới thích hút thuốc lào bằng loại ống điếu to. Ðặc biệt, phụ nữ còn có phong tục nhiều người cùng chuyền nhau hút chung một điếu thuốc.


Mặc: Bộ y phục nữ đa dạng hơn nam giới và còn giữ được nét độc đáo. Khăn đội đầu là một mảnh vải trắng hình chữ nhật không thêu thùa, yếm, áo cánh (phổ biến là màu trắng) thân rất ngắn thường xẻ ở ngực và váy dài đến mắt cá chân gồm hai phần chính là thân váy và cạp váy. Cạp váy nổi tiếng bởi các hoa văn được dệt kỳ công. Trang sức gồm vòng tay, chuỗi hạt và bộ xà tích 2 hoặc 4 giây bạc có treo hộp quả đào và móng vuốt hổ, gấu bịt bạc.

Thầy mo khi hành lễ mặc y phục riêng. Ðó là chiếc áo dài 5 thân cài khuy bên nách phải, nhuộm màu xanh hoặc đen, thắt dây lưng trắng, đội mũ vải nhọn đầu. Thầy mỡi khi cúng chữa bệnh thường đội mũ chầu.

Ở: Người Mường sống tập trung thành làng xóm ở chân núi, bên sườn đồi, nơi đất thoải gần sông suối... ở tỉnh Hoà Bình, Thanh Hoá, Phú Thọ. Mỗi làng có khoảng vài chục nóc nhà, khuôn viên của mỗi gia đình thường nổi bật lên những hàng cau, cây mít. Ðại bộ phận ở nhà sàn, kiểu nhà bốn mái. Phần trên sàn người ở, dưới gầm đặt chuồng gia súc, gia cầm, để cối giã gạo, các công cụ sản xuất khác.

Làm nhà mới, khi dựng cột bếp, người Mường có tục làm lễ nhóm lửa. Gia chủ lấy bẹ chuối cắt hình 3 con cá to kẹp vào thanh nứa buộc lên cột bếp, ở cột cái của bếp còn đặt một quả bí xanh. Trước lúc đun nấu ở nhà mới, gia chủ làm lễ nhóm lửa xin thần bếp cho đặt 3 hòn đầu rau và hòn đá cái. Ðêm đó gia chủ mời mọi người uống rượu cần dưới ánh sáng của ngọn lửa không tắt.

Phương tiện vận chuyển: Phụ nữ phổ biến dùng loại gùi đan bằng giang hoặc tre, 4 góc nẹp thành thẳng đứng, có dây đeo qua trán hoặc qua vai để chuyên chở. Ðôi dậu, đòn gánh có mấu 2 đầu, đòn xóc cũng thường được sử dụng.

Nước sạch được chứa trong ống nứa to, dài hơn 1 mét vác vai từ bến nước về dựng bên vách để dùng dần.

Quan hệ xã hội: Quan hệ trong làng xóm với nhau chủ yếu là quan hệ láng giềng. Gia đình 2-3 thế hệ chiếm phổ biến. Con cái sinh ra lấy họ cha. Quyền con trai trưởng được coi trọng va con trai trong gia đình được thừa kế tài sản.

Cưới xin: Trai gái tự do yêu đương tìm hiểu, ưng ý nhau thì báo để gia đình chuẩn bị lễ cưới. Ðể dẫn đến đám cưới phải qua các bước: ướm hỏi (kháo thếng), lễ bỏ trầu (ti nòm bánh), lễ xin cưới (nòm khảu), lễ cưới lần thứ nhất (ti cháu), lễ đón dâu (ti du). Trong ngày cưới, ông mối dẫn đầu đoàn nhà trai khoảng ba, bốn chục người gồm đủ nội, ngoại, bạn bè mang lễ vật sang nhà gái tổ chức cưới. Chú rể mặc quần áo đẹp chít khăn trắng, gùi một chón (gùi) cơm đồ chín (bằng khoảng 10 đấu gạo), trên miệng chón để 2 con gà sống thiến luộc chín. Trong lễ đón dâu, cô dâu đội nón, mặc váy áo đẹp ngoài cùng là chiếc áo dài màu đen thắt 2 vạt ở phía trước. Cô dâu mang về nhà chồng thường là 2 chăn, 2 cái đệm, 2 quả gối tựa để biếu bố mẹ chồng và hàng chục gối con để nhà trai biếu cô dì, chú bác.

Sinh đẻ: Khi người vợ sắp sinh con, người chồng phải chuẩn bị nhiều củi, làm một bếp riêng ở gian trong và quây phên nứa thành một buồng kín cho vợ đẻ. Khi vợ chuyển dạ đẻ, người chồng đi báo tin cho mẹ vợ và chị em họ hàng nội ngoại biết để đến nhà cùng nhau chờ đợi. Bà đỡ cắt rốn cho đứa trẻ bằng dao nứa lấy từ đầu chiếc dui trên mái nhà. Nếu là con trai thì dùng dao nứa mái nhà trước, nếu là con gái thì dùng dao nứa mái nhà sau. Cuống rốn của các con trong gia đình được đựng chung trong một ống nứa, họ tin rằng làm như thế lớn lên anh em sẽ thương yêu nhau.

Ngày sinh con, gia đình tổ chức ăn mừng, mời thầy mo cùng trừ mọi điều xấu hại đến mẹ con. Ðẻ được 3-7 ngày thường có nhiều anh em, bà con đến thăm hỏi tặng quà. Bà ngoại mừng cháu bao giờ cũng có vài vuông vải tự dệt, gia đình khá giả mừng thêm chiếc vòng bạc đeo cổ, anh em thân thích thì mừng gạo, mừng tiền.

Người đẻ thường ăn cơm nếp cẩm với lá tắc chiềng (loại lá thuốc chống được bệnh sài), uống nước nấu với các loại lá cây thuốc và trong thời gian cữ (7 đến 10 ngày) nhất là 3 ngày đầu luôn luôn phải sưởi bên bếp lửa. Trẻ sơ sinh nếu là trai thì được âu yếm gọi là lọ mạ (thóc giống), nếu là gái thì lại trìu mến gọi là cách tắc (rau cỏ). Thường thì trẻ khoảng 1 tuổi mới được đặt tên gọi chính thức.

Ma chay: Người chết tắt thở, con trai trưởng cầm dao nín thở chặt 3 nhát vào khung cửa sổ gia thờ, sau đó gia đình nổi chiêng phát tang. Thi hài người chết được liệm nhiều lớp vải và quần áo theo phong tục rồi để vào trong quan tài làm bằng thân cây khoét rỗng, bên ngoài phủ áo vẩy rồng bằng vải.

Tang lễ do thầy mo chủ trì, dẫn dắt. Bên cạnh hình thức chịu tang của con trai, con gái như vẫn bình thường thấy ở người Việt, riêng con dâu, cháu dâu chịu tang cha mẹ, ông bà còn có bộ tang phục riêng gọi là bộ quạt ma.

Lịch: Lịch cổ truyền người Mường gọi là sách đoi làm bằng 12 thẻ tre tương ứng với 12 tháng. Trên mỗi thẻ có khắc ký hiệu khác nhau để biết tính toán, xem ngày, giờ tốt xấu cho khởi sự công việc.

Người Mường ở Mường Bi có cách tính lịch khác với người Mường ở các nơi khác gọi là cách tính ngày lùi, tháng tới. Tháng giêng lịch Mường Bi ứng với tháng 10 của lịch Mường các nơi khác và tháng 10 âm lịch.

Văn nghệ: Hát Xéc bùa (có nơi gọi Xắc bùa hay Khoá rác) được nhiều người ưa thích. Thường (có nơi gọi Ràng thường hoặc Xường) là loại dân ca ca ngợi lao động, và các nét đẹp phong tục dân tộc. Bọ mẹng là hình thức hát giao du tâm sự tình yêu. Ví đúm cũng là loại dân ca phổ biến.

Bên cạnh đó, người Mường còn có các thể loại hát khác như hát ru, hát đồng dao... Ðặc biệt, ở người Mường phải kể đến lễ ca. Ðó là những áng mo, bài khấn do thầy mo đọc và hát trong đám tang.

Ngoài sáo, nhị, trống, kèn... thì cồng chiêng là nhạc cụ đặc sắc.

Chơi: Trò chơi của người Mường gần gũi với mọi đối tượng. Có những trò chơi được tổ chức chu đáo, công phu như: thi bắn nỏ, đánh đu, ném còn... Các trò chơi của lứa tuổi thiếu niên nhi đồng được tổ chức linh hoạt ở mọi nơi, mọi lúc với những điều kiện chơi đàn giản, tiện lợi như trò đánh cá cắt, trò cò le, trò đánh chó hoặc buôn chó, trò đánh mảng, trò chăm chỉ, chằm chăn.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Mường

Có thể bạn quan tâm

Khám phá lễ hội đền Đôi Cô Cam Đường tại Lào Cai

Khám phá lễ hội đền Đôi Cô Cam Đường tại Lào Cai

Sáng 22/10, Lễ hội đền Đôi Cô Cam Đường năm 2026 với chủ đề “Đền Đôi Cô Cam Đường - Kết nối cội nguồn, dựng xây quê hương” do phường Cam Đường, tỉnh Lào Cai tổ chức đã chính thức được khai hội thu hút đông đảo du khách thập phương đến chiêm bái. Lễ hội là sự kiện văn hóa có ý nghĩa quan trọng trong đời sống tinh thần của nhân dân địa phương, góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa, phát huy giá trị di tích, tăng cường sự gắn kết cộng đồng và quảng bá hình ảnh phường Cam Đường đến với du khách trong và ngoài tỉnh.

Gìn giữ nghệ thuật múa dân gian của người Cống

Gìn giữ nghệ thuật múa dân gian của người Cống

Gắn với lao động sản xuất, tín ngưỡng và sinh hoạt cộng đồng, nghệ thuật múa dân gian của người Cống ở Điện Biên vừa lưu giữ những giá trị văn hóa đặc trưng, vừa phản ánh đời sống của một dân tộc rất ít người. Việc nghệ thuật múa của người Cống được đưa vào Danh mục quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể mở thêm cơ hội bảo tồn, trao truyền các điệu múa truyền thống, nhất là cho thế hệ trẻ.

Gìn giữ nét đẹp văn hóa Lễ Cơm mới đền Đông Cuông

Gìn giữ nét đẹp văn hóa Lễ Cơm mới đền Đông Cuông

Hằng năm, vào ngày Mão tháng Chín âm lịch, chính quyền và nhân dân xã Đông Cuông, tỉnh Lào Cai tổ chức Lễ hội Cơm mới đền Đông Cuông nhằm tổng kết một năm lao động, sản xuất, bày tỏ lòng tri ân với Mẫu Thượng Ngàn, các đấng thần linh và tổ tiên đã phù hộ cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Năm 2026, ngày Đinh Mão (11/9 âm lịch), tức ngày 20/10 dương lịch là ngày chính lễ với nhiều nghi thức truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa của người Tày Khao.

Độc đáo lễ cúng hồn trâu của người Lự

Độc đáo lễ cúng hồn trâu của người Lự

Trong khuôn khổ Ngày hội Văn hóa dân tộc Lự năm 2026 với chủ đề “Sắc màu văn hóa dân tộc Lự”, UBND xã Khun Há (Lai Châu) tổ chức tái hiện lễ hội Sú Khon Khoài, với điểm nhấn là nghi thức cúng hồn trâu.

Khai mạc Lễ hội Mường Lò năm 2026

Khai mạc Lễ hội Mường Lò năm 2026

Tối 16/10, tại tỉnh Lào Cai, Lễ hội Văn hóa, Du lịch Mường Lò năm 2026 với chủ đề “Tinh hoa Xòe Thái - Sắc màu Tây Bắc” được khai mạc, với điểm nhấn là màn biểu diễn đại Xòe có sự góp mặt của 2.026 người.

Để bản sắc trở thành sức hút của điểm đến

Để bản sắc trở thành sức hút của điểm đến

Từ những sản phẩm dệt lanh qua đôi bàn tay phụ nữ dân tộc Mông, xã Lùng Tám (tỉnh Tuyên Quang) đang tìm hướng kết nối nghề truyền thống với hoạt động trải nghiệm, giới thiệu văn hóa và tiêu thụ sản phẩm.

Đồi Cổ Thạch: Dấu tích xưa giữa miền biển bình yên

Đồi Cổ Thạch: Dấu tích xưa giữa miền biển bình yên

Nằm ở thôn Phú Hạnh, xã Tuy An Đông, tỉnh Đắk Lắk, đồi Cổ Thạch thu hút du khách bởi cảnh quan núi biển giao hòa, con đường đá được người dân truyền lại là có từ hàng trăm năm trước cùng rừng duối lâu năm.

Về 'Ta lêu' nghe tâm tình người H’rê

Về 'Ta lêu' nghe tâm tình người H’rê

Giữa núi rừng Ba Vì, tỉnh Quảng Ngãi, một quán cà phê mang tên “Ta lêu” đang mở ra không gian giao lưu văn hóa độc đáo, nơi những làn điệu dân ca H’rê đến gần hơn với giới trẻ và du khách.

Văn hóa là sức mạnh mềm quốc gia trong kỷ nguyên mới

Văn hóa là sức mạnh mềm quốc gia trong kỷ nguyên mới

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã xác định phát triển nguồn lực con người và phát triển văn hóa được đặt trong nhóm nhiệm vụ trọng tâm, nhằm biến văn hóa thành nền tảng tỉnh thần, sức mạnh nội sinh và động lực to lớn cho phát triển nhanh, bền vững đất nước.

Bảo tồn, phát huy giá trị di sản gốm Chăm

Bảo tồn, phát huy giá trị di sản gốm Chăm

Ngày 29/11/2022, Nghệ thuật làm gốm của người Chăm được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Sau gần 4 năm, vấn đề đặt ra không còn chỉ là quảng bá danh hiệu, mà là phải lượng hóa được sức sống thực sự của nghề, nhận diện những nguy cơ và chứng minh hiệu quả của các giải pháp bảo vệ.

Sẵn sàng cho Lễ hội Văn hóa, Du lịch Mường Lò rực rỡ, văn minh

Sẵn sàng cho Lễ hội Văn hóa, Du lịch Mường Lò rực rỡ, văn minh

Từ ngày 15 - 21/10, tại Nghĩa Lộ (tỉnh Lào Cai) sẽ diễn ra Lễ hội Văn hóa, Du lịch Mường Lò năm 2026. Đêm khai mạc vào tối 16/10 với chương trình nghệ thuật đặc sắc “Xòe Thái - Trọn một vòng yêu” được kỳ vọng là điểm nhấn hội tụ sắc màu Tây Bắc. 

Cao Bằng quảng bá làng nghề truyền thống tới du khách

Cao Bằng quảng bá làng nghề truyền thống tới du khách

Được tổ chức vào các ngày cuối tuần tại phố đi bộ Kim Đồng, Tuần trải nghiệm làng nghề truyền thống “Bàn tay người Cao Bằng” mang đến cho người dân và du khách cơ hội khám phá, trải nghiệm trực tiếp các nét văn hóa độc đáo cùng kỹ thuật chế tác thủ công tinh xảo.

Triển lãm 'Sắc màu văn hóa Chăm', trải nghiệm tour di sản tại Lâm Đồng

Triển lãm 'Sắc màu văn hóa Chăm', trải nghiệm tour di sản tại Lâm Đồng

Chào mừng Lễ hội Katê 2026, chuỗi hoạt động văn hóa dân gian Chăm vừa khai mạc ngày 11/10 tại Lâm Đồng với hơn 1.500 hiện vật gốc cùng các màn trình diễn nghề truyền thống. Đặc biệt, đây là lần đầu tiên địa phương đưa vào vận hành tour tham quan kết nối Đền thờ Pô Nít và làng gốm Bình Đức.

Bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc Thái qua Lễ hội Kin Lẩu Khẩu Mẩu

Bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc Thái qua Lễ hội Kin Lẩu Khẩu Mẩu

Ngày 11/10, Lễ hội Kin Lẩu Khẩu Mẩu năm 2026 được tổ chức tại xã Phong Thổ (tỉnh Lai Châu). Đây là hoạt động văn hóa truyền thống mang đậm bản sắc của đồng bào Thái, gắn với đời sống lao động sản xuất, nền văn minh lúa nước và những phong tục tốt đẹp được gìn giữ.