Tết sớm trên vùng biên giới Bù Gia Mập

Ngày 18/1, không khí Tết Nguyên đán Bính Ngọ đã rộn ràng khắp vùng biên giới Bù Gia Mập (Đồng Nai) thông qua chương trình “Xuân tình nguyện 2026” do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã Bù Gia Mập phối hợp cùng Chi cục Chăn nuôi và Thú y Thành phố Hồ Chí Minh, Công ty trách nhiệm hữu hạn Thực phẩm Lộc An, Chi đoàn cơ sở Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Đồng Nai... tổ chức.

dong-nai-180126-1.jpg
Tặng học bổng cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn.

Xã Bù Gia Mập là xã biên giới, vùng sâu, vùng xa của tỉnh Đồng Nai có gần 75% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số như: S’tiêng, M’nông... Dù được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước nhưng do điều kiện canh tác còn hạn chế, đời sống của bà con nơi đây vẫn còn nhiều khó khăn. Chính vì vậy, hoạt động của đoàn tình nguyện như luồng gió ấm áp về với bà con nhân dịp Tết đến xuân về.

Từ sáng sớm, hàng trăm hộ đồng bào dân tộc thiểu số từ các thôn đã kéo về trung tâm xã chung vui với chương trình “Xuân tình nguyện”. Bên cạnh nhu yếu phẩm, hình ảnh những chiếc quần áo, sách, vở mới đã tạo nên ngày hội xuân ấm ấp, vui tươi.

Cầm trên tay phần quà nặng tình nghĩa, bà Thị Driêu thôn Bù Dốt, một hộ dân tộc thiểu số có hoàn cảnh khó khăn xúc động chia sẻ: Bà con ở đây còn nghèo lắm, vẫn còn nhiều thiếu thốn. Trong những ngày giáp Tết, được đoàn tình nguyện tặng gạo, mì tôm, nước mắm và bộ đồ mới cho các con, mình vui lắm, cảm ơn Đảng, Nhà nước và đoàn từ thiện.

Còn chị Thị Phương, gia đình hộ nghèo thôn Bù La vui mừng: Các con tôi vui từ tối qua tới giờ khi nghe tin được nhận quà. Có cặp sách mới để ra Tết đi học, có áo mới để đi chơi hội, gia đình tôi đỡ phần nào lo sắm đồ dùng mới. Sự quan tâm hôm nay giúp đồng bào chúng tôi thấy ấm lòng, có thêm động lực để chăm chỉ phát triển kinh tế bền vững hơn.

Tặng quà Tết cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn.

Tặng quà Tết cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn.

Bà Trương Vũ Yến Nhi, Ủy viên Ban Chấp hành Tỉnh đoàn, Phó Bí thư đoàn các cơ quan Đảng tỉnh Đồng Nai chia sẻ: Thông qua chương trình này, chúng tôi phối hợp với các đơn vị liên quan để mang đến những phần quà thiết thực cho các em học sinh, hộ dân có hoàn cảnh khó khăn. Với tinh thần “không ai bị bỏ lại phía sau”, chúng tôi hy vọng bà con tại xã Bù Gia Mập sẽ có thêm niềm vui và sự ấm lòng khi đón Tết cổ truyền sắp tới.

Ông Điểu Kiêng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy xã Bù Gia Mập cho biết: Xã Bù Gia Mập là địa bàn biên giới có gần 75% là đồng bào dân tộc thiểu số, đời sống bà con vẫn còn nhiều khó khăn. Vì vậy, sự hỗ trợ từ các cơ quan đơn vị, đoàn tình nguyện vào dịp Tết đến Xuân về mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Những món quà này không chỉ giúp bà con có cái Tết đủ đầy hơn mà còn là sự an ủi, động viên tinh thần rất lớn.

Thay mặt chính quyền và nhân dân địa phương, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy xã Bù Gia Mập xin ghi nhận và gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến các nhà tài trợ, các mạnh thường quân đã dành sự quan tâm đặc biệt cho vùng biên Bù Gia Mập. Địa phương trân trọng tri ân và hy vọng tiếp tục nhận được sự đồng hành, gắn kết của quý vị trong những chương trình an sinh xã hội tiếp theo, để cùng chung tay giúp bà con vươn lên trong cuộc sống.

Tặng quà Tết cho hộ gia đình nghèo, hoàn cảnh khó khăn.

Tặng quà Tết cho hộ gia đình nghèo, hoàn cảnh khó khăn.

Tại chương trình, Ban Tổ chức đã trao tặng bảng tượng trưng 20 triệu đồng hỗ trợ công tác an sinh xã hội tại xã; 30 suất học bổng kèm theo cặp sách và dụng cụ học tập cho học sinh vượt khó; 30 phần nhu yếu phẩm bánh Tết; hàng trăm bộ quần áo mới và quà bánh cho thiếu nhi đồng bào dân tộc thiểu số. Ngoài ra, Ban Tổ chức còn trực tiếp đến thăm và trao 3 phần quà tại gia đình cho các em học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.

Chương trình “Xuân tình nguyện” năm 2026 khép lại trong không khí nghĩa tình. Những phần quà Tết, những tấm áo mới đã mang sắc xuân tươi thắm về với bà con dân tộc thiểu số biên giới, đồng thời thắp sáng niềm tin về một năm mới ấm no cho đồng bào nơi đây./.

Dân tộc M'nông

Tên tự gọi: Mnông.

Nhóm địa phương: Mnông Gar, Mnông Nông, Mnông Chil, Mnông Kuênh, Mnông Rlâm, Mnông Preh, Mnông Prâng, Mnông Ðíp, Mnông Bhiêt, Mnông Sitô, Mnông Bu Ðâng, Mnông Bu Nor, Mnông Bu Ðêh...

Dân số: 102.741 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).

Lịch sử: Người Mnông là cư dân sinh tụ lâu đời ở miền trung Tây Nguyên nước ta.

Hoạt động sản xuất: Người Mnông trồng lúa nương trên rẫy bằng phương pháp "đao canh hoả chủng": phát, đốt rồi chọc lỗ tra hạt; thu hoạch theo lối tuốt lúa bằng tay. Họ trồng lúa nước bằng phương pháp "đao canh thuỷ nậu" trên những vùng đầm lầy, dùng trâu để quần ruộng cho nhão đất rồi gieo hạt, không cấy mạ như ở đồng bằng. Ðiều đáng lưu ý là vai trò của cái cuốc trong nền nông nghiệp cổ truyền Mnông. Ði đôi với nền sản xuất nông phẩm, việc săn bắn, hái lượm còn giữ vai trò quan trọng trong cuộc sống hàng ngày.

Sản xuất thủ công nghiệp gia đình phổ biến là nghề đan đồ gia dụng bằng nguyên liệu mây, tre, lá; thứ đến là nghề trồng bông dệt vải do phụ nữ đảm nhiệm. Trong mỗi làng còn có một số người biết làm gốm thô, nặn bằng tay và nung lộ thiên. Sản phẩm là nồi đất các loại, bát ăn cơm và vò, hũ. Nghề rèn nông cụ không được phát triển lắm trong các vùng Mnông. Ðặc biệt ở vùng Buôn Ðôn, cư dân có nghề săn bắt và thuần dưỡng voi rừng rất nổi tiếng. Cho đến nay nghề này vẫn được tiếp tục duy trì tuy số voi săn bắt được hàng năm đã giảm đi đáng kể.

Ăn: Họ ăn cơm gạo tẻ nấu trong những nồi đất nung, xa xưa thì phổ biến là cơm lam (gạo nếp nấu trong ống nứa). Bữa ăn trưa ở trên ruộng rẫy thường là món cháo chua đựng trong những trái bầu khô. Thức ăn chủ yếu là muối ớt, canh rau rừng, thịt chim, thú và cá suối bắt được. Việc chăn nuôi gia súc, gia cầm không phát triển. Rau củ được trồng trên rẫy để bổ sung cho nguồn thức ăn do hái lượm đem lại. Thức uống phổ biến là rượu cần.

Mặc: Về mùa nóng, đàn ông xưa kia thường đóng khố ở trần; còn đàn bà thì quấn váy tấm và cũng ở trần. Về mùa lạnh, họ khoác thêm trên mình một tấm mền, kiểu phục sức rất phổ biến ở Trường Sơn - Tây Nguyên. Hiện nay trong trang phục Mnông đã tiếp thu nhiều yếu tố Việt. Tập quán "cà răng căng tai" phổ biến trong xã hội cổ truyền, đến nay chỉ còn lại dấu ấn ở lứa tuổi những người cao niên.

: Hiện nay người Mnông cư trú tập trung theo nhóm địa phương, chủ yếu ở các huyện: Lắc, Mdrắc, Ðắc Nông, Ðắc Mil, Krông Pách, Ea Súp, Buôn Ðôn... thuộc tỉnh Ðắk Lắk; một bộ phận cư trú ở phía bắc tỉnh Sông Bé và tây nam tỉnh Lâm Ðồng; địa bàn phân bố về phía tây đến tận miền đông Cam-pu-chia, giáp ranh với biên giới nước ta. Tuỳ theo vùng và từng nhóm địa phương mà họ xây cất nhà trệt hoặc nhà sàn.

Nhà trệt có mái tranh gần sát đất và nền đất là mặt bằng sinh hoạt, rất phổ biến ở nhóm Mnông Gar, Mnông Preh, Mnông Prâng... Còn nhà sàn thường là sàn thấp, chỉ cách mặt đất khoảng 0m70 đến1m00 và phổ biến ở nhóm Mnông Kuênh, Mnông Chil, Mnông Bhiêt... Riêng nhóm Mnông Rlâm ở vùng hồ Lắc xây cất nhà sàn cao theo kiến trúc của người Ê Ðê. Dù là nhà sàn hay nhà trệt thì mái vẫn là cỏ tranh: khung và sườn nhà được kết hợp 2 loại nguyên liệu là tre nứa và gỗ cây... Các bộ phận được liên kết bằng chạc, ngoãm, dây mây và dây rừng.

Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu là cái gùi cõng trên lưng nhờ có 2 quai quàng qua đôi vai. Việc vận chuyển bằng voi là phương thức đặc biệt được chú trọng ở vùng người Mnông. Việc đi lại, vận chuyển trên sông, hồ có thuyền độc mộc.

Quan hệ xã hội: Ðơn vị cư trú cơ bản gọi là bon hay uôn, tương ứng với làng, xóm. Các gia đình trong làng có quan hệ láng giềng, quan hệ huyết thống và quan hệ hôn nhân. Làng nhỏ có độ mươi nóc nhà, làng lớn có khi tập trung đến vài chục nóc. Quan hệ huyết thống ở đây tính theo dòng họ mẹ. Dấu vết của chế độ mẫu hệ còn rất đậm nét trong mọi quan hệ xã hội hiện nay. Song tập quán mẫu hệ đã và đang tan rã ở nhiều thang bậc khác nhau theo từng nhóm địa phương.

Trong xã hội cổ truyền người đứng đầu mỗi làng gọi là Rnút hay Kroanh bon, bên cạnh có người phụ tá gọi là Rnoi, Rnớp. Khi cần chiến đấu thì cử ra một chức sắc gọi là Né tăm lăm lở làm thủ lĩnh quân sự. Xã hội Mnông vận hành theo tập quán pháp và Tập quán pháp ca được truyền khẩu qua các thế hệ để làm chuẩn mực cho mọi ứng xử trong đời sống.

Cưới xin: Phụ nữ thường chủ động hơn trong việc hôn nhân. Lễ cưới do 2 bên cùng tổ chức. Sau hôn nhân phổ biến là cư trú phía nhà gái. Ở nhiều nhóm địa phương lại phổ biến hình thức luân cư song phương. Con sinh ra đều mang họ mẹ. Trong tập quán cưới xin có 3 nghi lễ là Sa ur, Tâm ốp và Tám nsông tương ứng với lễ chạm ngõ, lễ ăn hỏi và lễ thành hôn. Chế độ một vợ một chồng là quy tắc chặt chẽ trong quan hệ hôn nhân. Luật tục Mnông phạt vạ rất nghiêm khắc với tội loạn luân và ngoại tình.

Ma chay: Khi có người chết, cả làng nghỉ việc đồng áng để cùng lo mai táng, ma chay. Thi hài được quàn tại nhà khoảng 2 ngày đối với người chết già, chết vì bệnh tật. Họ rất kinh hãi và chối bỏ việc ma chay đối với mọi cái chết do tai nạn gây nên (chết đuối, ngã cây, rắn cắn, hổ vồ... và chết do chiến tranh, đâm chém). Những cái chết "bất đắc kỳ tử" như vừa nêu thì thi hài không được đem vào nhà mà phải mai táng tức khắc một cách thầm lặng. Thổ táng là hình thức duy nhất trong việc tang ma, không có tập quán cải táng. Mọi người chết đều được chia tài sản để mang về "lập nghiệp" ở thế giới của ông bà gọi là Phan.

Nhà mới: Khi một ngôi nhà được xây cất hoàn tất thì lễ khánh thành để vào nhà mới sẽ được tổ chức linh đình bằng một ngày tiệc mặn cúng hiến sinh heo. Sau bữa ăn rồi mới đến tiệc rượu cần rất rôm rả trong tiếng nhạc cồng chiêng.

Lễ tết: Lễ hội đâm trâu là lễ hội cổ truyền được coi trọng nhất. Kết thúc mùa thu hoạch lúa hàng năm, mỗi làng đều tổ chức tết ăn mừng cơm mới, tạ ơn trời đất và thần lúa. Trâu được hiến sinh trong hội lễ tưng bừng để chuẩn bị cho một mùa vụ mới tràn đầy hy vọng.

Lịch: Nông lịch cổ truyền Mnông tính theo lịch âm, dựa vào quy trình canh tác rẫy. Mỗi năm cũng có 12 tháng, mỗi tháng có từ 29 đến 30 ngày.

Học: Trong xã hội cổ truyền Mnông chưa có chữ viết, chỉ có văn chương truyền miệng. Việc giáo dục, học tập được thực hiện bằng phương pháp chỉ dẫn trực tiếp, làm mẫu noi theo, bắt chước. Thập kỷ gần đây mới xuất hiện chữ viết nhưng sự phổ biến rộng rãi đang vấp phải không ít trở ngại.

Văn nghệ: Kho tàng truyện cổ, đặc biệt là sử thi và tập quán pháp ca tiềm ẩn nhiều giá trị, đã và đang được khai thác giới thiệu. Tục ngữ, ca dao, dân ca rất phong phú. Nhạc cụ có cồng chiêng, kèn bầu, kèn sừng trâu, kèn môi, đàn độc huyền, đàn 8 dây, sáo dọc. Ðặc biệt là vỏ trái bầu khô được sử dụng một cách phổ biến để tạo nên bộ phận khuếch đại âm thanh trong nhiều nhạc cụ bằng tre, nứa. Người ta đã tìm thấy ở vùng cư trú của người Mnông bộ đàn đá nguyên thuỷ nổi tiếng từ giữa thế kỷ XX.

Chơi: Trẻ em thường thích chơi diều, đánh cù, bịt mắt bắt dê, chạy, nhảy...

Theo cema.gov.vn

Dân tộc M'nông
Dân tộc Xtiêng

Tên gọi khác: Xa Ðiêng hay Xa Chiêng.

Nhóm địa phương: Bù Lơ, Bù Ðek (Bù Ðêh), Bù Biêk.

Dân số: 85.436 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á) tương đối gần gũi với tiếng Mạ, Mnông, Chơ Ro. Chữ viết hình thành từ trước năm 1975, theo chữ cái La-tinh.

Lịch sử: Người Xtiêng sinh tụ lâu đời ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên và miền đông Nam bộ.

Hoạt động sản xuất: Nguồn lương thực chính là lúa gạo, khoảng 80% lúa gạo do rẫy cung cấp. Nhóm Bù Lơ ở cao, sâu hơn hoàn toàn làm rẫy. Nhóm Bù Ðeh (Bù Ðêk) ở vùng thấp làm ruộng nước từ khoảng 100 năm, như cách thức canh tác của người Việt sở tại. Lúa rẫy có các giống khác nhau, được trồng theo lối "phát-đốt-chọc-trỉa", kết quả mùa màng phụ thuộc lớn vào thiên nhiên và việc bảo về trước sự phá phách của chim muông. Công cụ làm rẫy chủ yếu gồm rìu và dao xà gạc để khai phá rừng, sau khi đốt thì dùng cây cào tre có 5 răng để dọn rồi đốt lại, khi trỉa dùng gậy nhọn (mỗi tay cầm một chiếc) để chọc lỗ, đồng thời gieo hạt giống theo, làm cỏ bằng loại cuốc con (về sau thay thế bằng cái xà - bát người Việt sử dụng), dùng tay tuốt lúa. Hái lượm, săn bắt và kiếm cá đưa lại nguồn lợi quan trọng thiết thực. Gia súc phổ biến gồm: trâu, bò, lợn, chó, một số hộ nuôi voi; gia cầm chủ yếu là gà. Có nghề dệt vải và đan lát. Việc mua bán thường dùng vật đổi vật (nay dùng tiền) có quan hệ hàng hoá với người Việt, Khơme, Mnông, Mạ và cả với bên Campuchia.

Ăn: Người Xtiêng ăn cơm tẻ, cơm nếp. Thực phẩm thường ngày của họ chủ yếu là những thứ kiếm được trong rừng và sông suối (nay có mua ở chợ hay của thương nhân). Thức uống truyền thống nước lã, rượu cần. Ðồ đựng cơm canh, nước đều là vỏ bầu chế tác có hình dạng thích hợp. Họ hút thuốc lá bằng tẩu (nay ít thấy).

: Người Xtiêng phân bố tập trung tại tỉnh Bình Phước, một số ở Tây Ninh và Ðồng Nai. Vùng cao ở nhà trệt, mái trùm gần xuống mặt đất và có nơi uốn tròn ở hai đầu hồi và ở một mặt bên. Vùng thấp thường làm nhà sàn khá khang trang, vách dựng nghiêng phía trên ra ngoài. Theo nếp xưa, mỗi làng chỉ gồm một vài ngôi nhà dài, nay hình thức nhà ngắn của từng hộ đang phát triển.

Mặc: Thông thường, đàn ông đóng khố, ở trần, đàn bà mặc áo, quấn váy. Trước kia, phụ nữ nghèo ở nhiều nơi cũng dùng khố. Họ ưa đeo nhiều trang sức, thường dùng các loại vòng kim loại và chuỗi cườm, thậm chí một cánh tay đeo tới trên 20 chiếc vòng nhôm nay bạc, có cả loại vòng ống quấn từ sợi dây đồng dài ôm quanh ống chân, ống tay. Loại hoa tai lớn bằng ngà voi được ưa chuộng. Nay nam giới mặc như người Việt, nữ hay dùng áo cánh, sơ mi, ở vùng gần người Khơ Me cũng thường gặp phụ nữ Xtiêng quấn váy Khơ Me.

Phương tiện vận chuyển: Các loại gùi rất thông dụng, cách gùi như ở các tộc Thượng khác. Nhóm gần người Việt và Khơ Me, các loại xe gỗ 2 bánh dùng đôi bò kéo từ lâu đã trở thành một phương tiện vận chuyển phổ biến.

Quan hệ xã hội: Mỗi cặp vợ chồng và con cái là một "bếp" (nak). Nhiều bếp hợp thành một nhà (yau). Mỗi làng xưa gồm một vài nhà, càng về sau số nhà càng tăng do việc tách hộ ở riêng. Mỗi người không chỉ thuộc về một "bếp", một nhà, một làng, mà còn là thành viên của một dòng họ nhất định và nằm trong các mối quan hệ họ hàng nhất định và nằm trong các mối quan hệ họ hàng khác nữa. Về tổ chức xã hội truyền thống, làng là đơn vị bao trùm và nổi bật: trong tự bảo quản ở thì ông "già làng" và các bô lão có uy tín cao khác đóng vai trò quan trọng đặc biệt. Xưa kia, ngoài một số ít người giàu có và đa số thuộc lớp nghèo, xã hội Xtiêng đã có những "nô lệ gia đình" do phải ở đợ, hoặc bị mua về...

Cưới xin: Thông thường nếu nhà trai có đủ của cải sính lễ, cô dâu về ở đằng chồng, nhưng thực tế phần đông phải ở rể do chưa có đủ đồ dẫn cưới theo yêu cầu của nhà gái (ché quý, chiêng cồng, trâu...); riêng ở vùng Bình Long, chàng rể luôn phải về ở nhà vợ. Tập tục hôn nhân giữa các nơi, các nhóm có những điểm khác nhau, chẳng hạn: Nhóm Bù Ðek cho phép con trai cô với con gái cậu cũng như con gái cậu với con gái cô lấy nhau, nhưng ở nhóm Bù Lơ chỉ con trai cô được lấy con gái cậu với điều kiện cậu là anh của cô, cũng chỉ được chấp nhận một lần trong mỗi gia đình.

Sinh đẻ: Phụ nữ kiêng cữ cẩn thận ngay từ thời kỳ mang thai. Việc sinh nở xưa kia, phụ nữ tự xoay xở ngoài rừng một mình. Nay nhiều người ở vùng có tập quán dựng kho thóc trong nhà vẫn ra đẻ ở ngôi nhà nhỏ dựng gần bên nhà ở, bởi họ cho rằng nếu đẻ ở nhà sẽ xúc phạm đến "thần lúa", đẻ xong sẽ phải cúng một con lợn cho "thần lúa".

Trong ngày lễ mừng lúa mới, người Xtiêng thường tổ chức đâm trâu. Khi giết một trâu, họ chỉ dựng đoạn thây cây gạo làm cột. Nếu đâm nhiều trâu, lần đầu gia chủ làm loại cột đơn giản gâng srung, những lần sau họ dựng cột gâng rai với nhiều hoa văn trang trí. Ðây là phần ngọn của cây cột đâm trâu gâng rai.

Ma chay: Quan tài gỗ độc mộc đẽo từ cây rừng. Nếu chết bình thường thì họ chôn trong bãi mộ của làng. Trong quan tài, cùng với tử thi, có bỏ một ít gạo, thuốc lá... Những ché, nồi, dụng cụ... "chia" cho người chết đều để trên và quanh mộ. Người Xtiêng không có tục thăm viếng mồ mả. Có người mới chết, cả làng không gõ cồng chiêng và vui nhộn trong khoảng 10 ngày. Những trường hợp chết bất bình thường phải cúng quải tốn kém hơn, kiêng cữ nhiều hơn, lễ thức làm ngoài khu gia cư của làng và không được chôn vào bãi mộ của làng.

Thờ cúng: Người ta tin con người, con vật, cây cối cũng như muôn vật đều có siêu nhiên, tựa như "hồn". "Thần linh" cũng có rất nhiều: thần sấm sét, thần mặt trời, thần núi, thần lúa... Thần lúa được hình dung là người phụ nữ trẻ và đẹp. Trong các lễ cúng, các vị thần hoặc các siêu nhiên nói chung được nhắc đến để cầu xin, hay tạ ơn, hay thông báo điều gì đó. Vật hiến tế là rượu, gà, lợn, trâu, bò, số lượng càng nhiều và con vật càng lớn chứng tỏ lễ cúng càng to, thần linh càng quyền thế, quan trọng.

Lễ tết: Có rất nhiều lễ cúng lớn nhỏ khác nhau trong đời sống của người Xtiêng. Trong đó, lễ hội đâm trâu là lớn nhất, thường được tổ chức mừng được mùa lớn (gia đình thu hoạch lúa từ 100 gùi cỡ to trở lên - loại gùi có tên Sah cach), mừng chiến thắng kẻ thù, mừng làm ăn phát đạt, mừng con cái lớn khôn... Cùng với hiến sinh trâu còn thường có cả bò, lợn. Nếu hiến sinh một trâu, cột lễ để buộc trâu làm đơn giản, nhưng từ 2 trâu trở lên thì cột lễ trang trí đẹp, làm công phu. Tết Xtiêng được gọi là "lễ cúng rơm", sau khi tuốt lúa rẫy xong, trước khi đốt rẫy vụ sau: lễ thức ngày tết có nội dung tạ ơn thần lúa sau một mùa.

Văn nghệ: Người Xtiêng rất yêu âm nhạc. Nhạc cụ quan trọng nhất, đồng thời là một trong số gia tài quý ở xã hội truyền thống, là cồng và chiêng; nhóm Bù Lơ chủ yếu dùng chiêng, mỗi bộ 6 chiếc, nhóm Bù Ðek (Bù Ðêk) chủ yếu dùng cồng, mỗi bộ 5 chiếc. Riêng trong đám ma, chỉ dùng 3 cồng hoặc 3 chiêng. Ngoài ra, còn có tù và, trống, khèn bầu, các loại đàn. Người Xtiêng cũng có kho tàng truyện cổ khá phong phú, có những điệu hát của mình. Tuy nhiên, đến nay, tương tự như nhiều nơi khác, ngay cả cồng, chiêng cũng chỉ còn rất ít so với xưa kia.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Xtiêng

Có thể bạn quan tâm

Đắk Lắk siết chặt quản lý hoạt động mua, bán sầu riêng

Đắk Lắk siết chặt quản lý hoạt động mua, bán sầu riêng

UBND tỉnh Đắk Lắk vừa ban hành Quy chế quản lý hoạt động mua, bán sầu riêng trên địa bàn tỉnh nhằm thiết lập kỷ cương trong kinh doanh, xuất khẩu sầu riêng, bảo đảm quyền lợi cho người trồng, đồng thời nâng tầm uy tín, thương hiệu sầu riêng Đắk Lắk trên thị trường trong và ngoài nước.

Giá mía thấp, đường tồn kho cao khiến doanh nghiệp nông dân gặp khó

Giá mía thấp, đường tồn kho cao khiến doanh nghiệp nông dân gặp khó

Dù trong thời điểm thu hoạch chính cho niên vụ 2025 - 2026, nhưng người trồng mía tại tỉnh Đắk Lắk không mấy phấn khởi khi năng suất giảm và giá mía xuống thấp so với mọi năm. Các doanh nghiệp thu mua mía để sản xuất đường cũng gặp khó khăn khi sản phẩm khó tiêu thụ trên thị trường do phải cạnh tranh với đường nhập lậu. Người dân và doanh nghiệp đang tìm giải pháp ổn định chuỗi sản xuất và tiêu thụ mía đường.

Siết chặt các biện pháp phòng, chống bệnh dại trong mùa nắng nóng

Siết chặt các biện pháp phòng, chống bệnh dại trong mùa nắng nóng

Những năm gần đây, bệnh dại tại Đắk Lắk có xu hướng gia tăng và diễn biến khó lường. Thời điểm này, địa phương đang bước vào mùa khô với nhiệt độ tăng cao, kéo theo nguy cơ bùng phát dịch bệnh. Trước thực tế trên, ngành Y tế tỉnh đang khẩn trương triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm kiểm soát, hạn chế tối đa số ca tử vong và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Cà Mau tạo sinh kế giúp đồng bào Khmer vươn lên

Cà Mau tạo sinh kế giúp đồng bào Khmer vươn lên

Những năm qua, cùng với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, sự nỗ lực vươn lên của bản thân, đời sống của đồng bào Khmer trên địa bàn tỉnh Cà Mau không ngừng khởi sắc. Người dân ngày càng an tâm lao động sản xuất, phát triển kinh tế gia đình, bảo tồn, phát huy truyền thống văn hóa, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc. 

Đặt 'chuẩn cao' cho nông sản

Đặt 'chuẩn cao' cho nông sản

Để góp phần phát triển nông nghiệp bền vững và nâng cao thu nhập cho người dân, trong giai đoạn 2026 - 2030, tỉnh Tuyên Quang tập trung thực hiện Đề án đảm bảo an toàn thực phẩm, nâng cao chất lượng nông, lâm, thủy sản trên địa bàn.

Đẩy nhanh tiến độ, bảo đảm an toàn sửa chữa cầu Sông Lô

Đẩy nhanh tiến độ, bảo đảm an toàn sửa chữa cầu Sông Lô

Ngày 25/3, Đoàn công tác của tỉnh Phú Thọ do Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quách Tất Liêm dẫn đầu đã đi kiểm tra thực tế công tác sửa chữa, khắc phục hư hỏng cầu Sông Lô tại xã Đoan Hùng, kiểm tra phương án bảo đảm an toàn giao thông tại cầu Đoan Hùng.

Đổi thay ở xã vùng cao Kỳ Thượng

Đổi thay ở xã vùng cao Kỳ Thượng

Với tài nguyên rừng phong phú, bản sắc văn hóa dân tộc đặc sắc và hệ sinh thái nguyên sơ, xã vùng cao Kỳ Thượng (Quảng Ninh) đang định hướng phát triển theo mô hình kinh tế lâm nghiệp bền vững gắn với du lịch cộng đồng.

'Cứu' hàng trăm tấn mơ, mận Sơn La bị thiệt hại do mưa đá

'Cứu' hàng trăm tấn mơ, mận Sơn La bị thiệt hại do mưa đá

Ngày 24/3, đông đảo đoàn viên, thanh niên các trường đại học, cao đẳng, học sinh đã đến hỗ trợ nhân dân ở một số bản thuộc phường Chiềng An (Sơn La) thu gom, phân loại, vận chuyển quả mơ, mận bị mưa đá làm rụng để mang đi tiêu thụ.

Cử tri đồng bào Khmer đặt niềm tin vào đại biểu trúng cử

Cử tri đồng bào Khmer đặt niềm tin vào đại biểu trúng cử

Sau khi danh sách các đại biểu Quốc hội khoá XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được công bố, cử tri vùng đồng bào Khmer bày tỏ nhiều phấn khởi và tin vào sự lựa chọn đúng đắn qua lá phiếu của mình. Họ hy vọng các đại biểu trúng cử sẽ phản ánh trung thực tâm tư, nguyện vọng và bảo vệ quyền lợi chính đáng của người dân, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số.

Gió lốc gây thiệt hại tại xã Thu Lũm

Gió lốc gây thiệt hại tại xã Thu Lũm

Ngày 22/3, Chủ tịch UBND xã Thu Lũm (Lai Châu) Lê Thanh Tâm cho biết, từ 18 giờ 30 phút đến 20 giờ ngày 21/3, trên địa bàn xã xảy ra gió lốc, ảnh hưởng đến nhiều công trình và nhà dân tại một số bản trong xã.

Tặng 3.000 cây sâm Ngọc Linh giống cho thanh niên vùng khó

Tặng 3.000 cây sâm Ngọc Linh giống cho thanh niên vùng khó

Ngày 21/3, UBND ba xã Tu Mơ Rông, Măng Ri, Đăk Sao (tỉnh Quảng Ngãi) phối hợp với Công ty Cổ phần Vingin (đơn vị sở hữu Thương hiệu Sâm Ngọc Linh K5) tổ chức chương trình “Cội nguồn di sản” kỷ niệm 53 năm tìm thấy cây sâm Ngọc Linh đầu tiên (19/3/1973 - 19/3/2926); tổ chức hoạt động hướng nghiệp cho đoàn viên, thanh niên, gắn với hỗ trợ phát triển vườn sâm Ngọc Linh.

Lan tỏa nghĩa cử cao đẹp hiến máu cứu người

Lan tỏa nghĩa cử cao đẹp hiến máu cứu người

Ngày 21/3, Ban Chỉ đạo vận động hiến máu tình nguyện tỉnh Đắk Lắk phối hợp với Phân hiệu Trường Đại học Luật tại tỉnh Đắk Lắk tổ chức Chương trình hiến máu tình nguyện “Lễ hội Xuân hồng năm 2026”.

Giữ rừng hiệu quả từ gốc

Giữ rừng hiệu quả từ gốc

Dựa vào cộng đồng dân tộc thiểu số tại chỗ để giao khoán, quản lý và bảo vệ rừng đang chứng minh hiệu quả rõ rệt tại nhiều địa phương. Không chỉ góp phần giữ vững diện tích rừng, mô hình này còn tạo sinh kế, nâng cao ý thức trách nhiệm, biến người dân thành lực lượng nòng cốt trong bảo vệ tài nguyên rừng.

Nhộn nhịp mùa "hái lộc" nhung hươu của đồng bào dân tộc Mường

Nhộn nhịp mùa "hái lộc" nhung hươu của đồng bào dân tộc Mường

Về các xã vùng cao Phú Long và Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình những ngày sau Tết Nguyên đán, du khách không chỉ được đắm mình trong không gian xanh mát của đại ngàn mà còn được chứng kiến không khí nhộn nhịp của mùa thu hoạch nhung hươu - loại sản vật đang giúp đồng bào dân tộc Mường nơi đây phát triển kinh tế, vươn lên làm giàu.

Đặc sắc phiên chợ 'mua may, bán rủi' dưới chân dãy Cham Chu hùng vĩ

Đặc sắc phiên chợ 'mua may, bán rủi' dưới chân dãy Cham Chu hùng vĩ

Giữa miền đất trù phú dưới chân dãy Cham Chu hùng vĩ, có một phiên chợ chỉ họp một lần trong năm nhưng lại neo giữ ký ức của bao thế hệ. Chợ Thụt, xã Phù Lưu (tỉnh Tuyên Quang), không chỉ là nơi trao đổi hàng hóa, mà còn là không gian văn hóa đặc biệt, nơi con người tìm về niềm tin, tình thân và những giá trị bền chặt của cộng đồng.

Xây trường nội trú liên cấp - chắp cánh ước mơ cho trẻ em vùng biên

Xây trường nội trú liên cấp - chắp cánh ước mơ cho trẻ em vùng biên

Giữa đại ngàn núi rừng, hai ngôi trường phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở ở các xã A Lưới 3, 4 (thành phố Huế) khang trang, rộng lớn đang dần hình thành. Đây là hai trong những công trình được Đảng, Nhà nước đầu tư xây dựng ở các xã vùng biên A Lưới 1, A Lưới 2, A Lưới 3, A Lưới 4, A Lưới 5 (thành phố Huế). Sau khi các công trình này hoàn thành, học sinh vùng cao nơi đây sẽ được hưởng thụ môi trường giáo dục tốt nhất, với cơ sở hạ tầng hiện đại, sạch đẹp.

Đòn bẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững ở xã miền núi

Đòn bẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững ở xã miền núi

Đông Thọ là xã đặc biệt khó khăn của tỉnh Tuyên Quang với điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều hạn chế, dân số chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số như: Mông, Tày, Cao Lan… Những năm gần đây, nhờ phát huy hiệu quả nguồn lực từ Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025, đời sống người dân ngày càng cải thiện, tạo nền tảng vững chắc cho mục tiêu giảm nghèo bền vững.

Tạo môi trường học tập tốt nhất cho học sinh miền núi biên giới

Tạo môi trường học tập tốt nhất cho học sinh miền núi biên giới

Ngày 19/3, tại thôn Nhân Hòa, xã Hoàng Văn Thụ (Lạng Sơn), Bộ Công an tổ chức khởi công xây dựng Trường Mầm non xã Hoàng Văn Thụ. Cùng ngày, tỉnh Lạng Sơn đồng loạt khởi công 7/11 trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở còn lại tại các xã biên giới: Đồng Đăng, Ba Sơn, Cao Lộc, Hoàng Văn Thụ, Thụy Hùng, Quốc Việt và Kháng Chiến.

Đảm bảo an sinh xã hội gắn với củng cố thế trận biên phòng nơi tuyến biển

Đảm bảo an sinh xã hội gắn với củng cố thế trận biên phòng nơi tuyến biển

Trong một thập kỷ qua, lực lượng Bộ đội Biên phòng thành phố Cần Thơ đã tích cực tham gia phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội tại địa phương thông qua hàng loạt mô hình, chương trình và phong trào thiết thực. Sự đồng hành gắn bó này không chỉ giúp nhân dân nâng cao đời sống vật chất, tinh thần mà còn góp phần củng cố vững chắc "thế trận lòng dân" nơi tuyến biển.

Khởi công Dự án xây dựng Trường phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở Na Sang

Khởi công Dự án xây dựng Trường phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở Na Sang

Sáng 19/3, tại xã Na Sang, Công an tỉnh Điện Biên phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức Lễ khởi công Dự án xây dựng Trường phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở Na Sang. Dự buổi lễ có Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng cùng lãnh đạo tỉnh và các bộ, ngành liên quan.

Phát huy tiềm năng, lợi thế vùng đất 'cột mốc ba biên'

Phát huy tiềm năng, lợi thế vùng đất 'cột mốc ba biên'

Ngày 18/3, trong chuyến công tác tại các xã phía Tây tỉnh Quảng Ngãi (Kon Tum cũ), Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi Nguyễn Hoàng Giang đã có buổi làm việc với Ủy ban nhân dân ba xã biên giới: Dục Nông, Bờ Y, Sa Loong và các xã Măng Đen, Măng Bút, Kon Plong về tình hình kinh tế - xã hội đảm bảo an ninh quốc phòng trong thời gian qua và năm 2026.

Thăm, chúc Tết Ramưwan đồng bào Chăm năm 2026

Thăm, chúc Tết Ramưwan đồng bào Chăm năm 2026

Nhân dịp Tết cổ truyền Ramưwan năm 2026, ngày 18/3, đại diện lãnh đạo Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Lâm Đồng cùng một số sở, ngành tổ chức các đoàn đến thăm và chúc tết đồng bào Chăm đang sinh sống tại một số địa phương trên địa bàn tỉnh.

Thanh niên với chủ quyền biên giới quốc gia

Thanh niên với chủ quyền biên giới quốc gia

Ngày 18/3, tại xã Thới Thuận, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam tỉnh Vĩnh Long phối hợp Đồn Biên phòng Cửa khẩu cảng Giao Long tổ chức chương trình “Tháng Ba biên giới” năm 2026, nhân kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (26/3/1931 - 26/3/2026); 67 năm Ngày truyền thống Bộ đội Biên phòng Việt Nam (3/3/1959 - 3/3/2026) và 37 năm Ngày Biên phòng toàn dân (3/3/1989 - 3/3/2026).