Tết sớm trên vùng biên giới Bù Gia Mập

Ngày 18/1, không khí Tết Nguyên đán Bính Ngọ đã rộn ràng khắp vùng biên giới Bù Gia Mập (Đồng Nai) thông qua chương trình “Xuân tình nguyện 2026” do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã Bù Gia Mập phối hợp cùng Chi cục Chăn nuôi và Thú y Thành phố Hồ Chí Minh, Công ty trách nhiệm hữu hạn Thực phẩm Lộc An, Chi đoàn cơ sở Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Đồng Nai... tổ chức.

dong-nai-180126-1.jpg
Tặng học bổng cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn.

Xã Bù Gia Mập là xã biên giới, vùng sâu, vùng xa của tỉnh Đồng Nai có gần 75% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số như: S’tiêng, M’nông... Dù được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước nhưng do điều kiện canh tác còn hạn chế, đời sống của bà con nơi đây vẫn còn nhiều khó khăn. Chính vì vậy, hoạt động của đoàn tình nguyện như luồng gió ấm áp về với bà con nhân dịp Tết đến xuân về.

Từ sáng sớm, hàng trăm hộ đồng bào dân tộc thiểu số từ các thôn đã kéo về trung tâm xã chung vui với chương trình “Xuân tình nguyện”. Bên cạnh nhu yếu phẩm, hình ảnh những chiếc quần áo, sách, vở mới đã tạo nên ngày hội xuân ấm ấp, vui tươi.

Cầm trên tay phần quà nặng tình nghĩa, bà Thị Driêu thôn Bù Dốt, một hộ dân tộc thiểu số có hoàn cảnh khó khăn xúc động chia sẻ: Bà con ở đây còn nghèo lắm, vẫn còn nhiều thiếu thốn. Trong những ngày giáp Tết, được đoàn tình nguyện tặng gạo, mì tôm, nước mắm và bộ đồ mới cho các con, mình vui lắm, cảm ơn Đảng, Nhà nước và đoàn từ thiện.

Còn chị Thị Phương, gia đình hộ nghèo thôn Bù La vui mừng: Các con tôi vui từ tối qua tới giờ khi nghe tin được nhận quà. Có cặp sách mới để ra Tết đi học, có áo mới để đi chơi hội, gia đình tôi đỡ phần nào lo sắm đồ dùng mới. Sự quan tâm hôm nay giúp đồng bào chúng tôi thấy ấm lòng, có thêm động lực để chăm chỉ phát triển kinh tế bền vững hơn.

Tặng quà Tết cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn.

Tặng quà Tết cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn.

Bà Trương Vũ Yến Nhi, Ủy viên Ban Chấp hành Tỉnh đoàn, Phó Bí thư đoàn các cơ quan Đảng tỉnh Đồng Nai chia sẻ: Thông qua chương trình này, chúng tôi phối hợp với các đơn vị liên quan để mang đến những phần quà thiết thực cho các em học sinh, hộ dân có hoàn cảnh khó khăn. Với tinh thần “không ai bị bỏ lại phía sau”, chúng tôi hy vọng bà con tại xã Bù Gia Mập sẽ có thêm niềm vui và sự ấm lòng khi đón Tết cổ truyền sắp tới.

Ông Điểu Kiêng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy xã Bù Gia Mập cho biết: Xã Bù Gia Mập là địa bàn biên giới có gần 75% là đồng bào dân tộc thiểu số, đời sống bà con vẫn còn nhiều khó khăn. Vì vậy, sự hỗ trợ từ các cơ quan đơn vị, đoàn tình nguyện vào dịp Tết đến Xuân về mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Những món quà này không chỉ giúp bà con có cái Tết đủ đầy hơn mà còn là sự an ủi, động viên tinh thần rất lớn.

Thay mặt chính quyền và nhân dân địa phương, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy xã Bù Gia Mập xin ghi nhận và gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến các nhà tài trợ, các mạnh thường quân đã dành sự quan tâm đặc biệt cho vùng biên Bù Gia Mập. Địa phương trân trọng tri ân và hy vọng tiếp tục nhận được sự đồng hành, gắn kết của quý vị trong những chương trình an sinh xã hội tiếp theo, để cùng chung tay giúp bà con vươn lên trong cuộc sống.

Tặng quà Tết cho hộ gia đình nghèo, hoàn cảnh khó khăn.

Tặng quà Tết cho hộ gia đình nghèo, hoàn cảnh khó khăn.

Tại chương trình, Ban Tổ chức đã trao tặng bảng tượng trưng 20 triệu đồng hỗ trợ công tác an sinh xã hội tại xã; 30 suất học bổng kèm theo cặp sách và dụng cụ học tập cho học sinh vượt khó; 30 phần nhu yếu phẩm bánh Tết; hàng trăm bộ quần áo mới và quà bánh cho thiếu nhi đồng bào dân tộc thiểu số. Ngoài ra, Ban Tổ chức còn trực tiếp đến thăm và trao 3 phần quà tại gia đình cho các em học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.

Chương trình “Xuân tình nguyện” năm 2026 khép lại trong không khí nghĩa tình. Những phần quà Tết, những tấm áo mới đã mang sắc xuân tươi thắm về với bà con dân tộc thiểu số biên giới, đồng thời thắp sáng niềm tin về một năm mới ấm no cho đồng bào nơi đây./.

Dân tộc M'nông

Tên tự gọi: Mnông.

Nhóm địa phương: Mnông Gar, Mnông Nông, Mnông Chil, Mnông Kuênh, Mnông Rlâm, Mnông Preh, Mnông Prâng, Mnông Ðíp, Mnông Bhiêt, Mnông Sitô, Mnông Bu Ðâng, Mnông Bu Nor, Mnông Bu Ðêh...

Dân số: 102.741 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).

Lịch sử: Người Mnông là cư dân sinh tụ lâu đời ở miền trung Tây Nguyên nước ta.

Hoạt động sản xuất: Người Mnông trồng lúa nương trên rẫy bằng phương pháp "đao canh hoả chủng": phát, đốt rồi chọc lỗ tra hạt; thu hoạch theo lối tuốt lúa bằng tay. Họ trồng lúa nước bằng phương pháp "đao canh thuỷ nậu" trên những vùng đầm lầy, dùng trâu để quần ruộng cho nhão đất rồi gieo hạt, không cấy mạ như ở đồng bằng. Ðiều đáng lưu ý là vai trò của cái cuốc trong nền nông nghiệp cổ truyền Mnông. Ði đôi với nền sản xuất nông phẩm, việc săn bắn, hái lượm còn giữ vai trò quan trọng trong cuộc sống hàng ngày.

Sản xuất thủ công nghiệp gia đình phổ biến là nghề đan đồ gia dụng bằng nguyên liệu mây, tre, lá; thứ đến là nghề trồng bông dệt vải do phụ nữ đảm nhiệm. Trong mỗi làng còn có một số người biết làm gốm thô, nặn bằng tay và nung lộ thiên. Sản phẩm là nồi đất các loại, bát ăn cơm và vò, hũ. Nghề rèn nông cụ không được phát triển lắm trong các vùng Mnông. Ðặc biệt ở vùng Buôn Ðôn, cư dân có nghề săn bắt và thuần dưỡng voi rừng rất nổi tiếng. Cho đến nay nghề này vẫn được tiếp tục duy trì tuy số voi săn bắt được hàng năm đã giảm đi đáng kể.

Ăn: Họ ăn cơm gạo tẻ nấu trong những nồi đất nung, xa xưa thì phổ biến là cơm lam (gạo nếp nấu trong ống nứa). Bữa ăn trưa ở trên ruộng rẫy thường là món cháo chua đựng trong những trái bầu khô. Thức ăn chủ yếu là muối ớt, canh rau rừng, thịt chim, thú và cá suối bắt được. Việc chăn nuôi gia súc, gia cầm không phát triển. Rau củ được trồng trên rẫy để bổ sung cho nguồn thức ăn do hái lượm đem lại. Thức uống phổ biến là rượu cần.

Mặc: Về mùa nóng, đàn ông xưa kia thường đóng khố ở trần; còn đàn bà thì quấn váy tấm và cũng ở trần. Về mùa lạnh, họ khoác thêm trên mình một tấm mền, kiểu phục sức rất phổ biến ở Trường Sơn - Tây Nguyên. Hiện nay trong trang phục Mnông đã tiếp thu nhiều yếu tố Việt. Tập quán "cà răng căng tai" phổ biến trong xã hội cổ truyền, đến nay chỉ còn lại dấu ấn ở lứa tuổi những người cao niên.

: Hiện nay người Mnông cư trú tập trung theo nhóm địa phương, chủ yếu ở các huyện: Lắc, Mdrắc, Ðắc Nông, Ðắc Mil, Krông Pách, Ea Súp, Buôn Ðôn... thuộc tỉnh Ðắk Lắk; một bộ phận cư trú ở phía bắc tỉnh Sông Bé và tây nam tỉnh Lâm Ðồng; địa bàn phân bố về phía tây đến tận miền đông Cam-pu-chia, giáp ranh với biên giới nước ta. Tuỳ theo vùng và từng nhóm địa phương mà họ xây cất nhà trệt hoặc nhà sàn.

Nhà trệt có mái tranh gần sát đất và nền đất là mặt bằng sinh hoạt, rất phổ biến ở nhóm Mnông Gar, Mnông Preh, Mnông Prâng... Còn nhà sàn thường là sàn thấp, chỉ cách mặt đất khoảng 0m70 đến1m00 và phổ biến ở nhóm Mnông Kuênh, Mnông Chil, Mnông Bhiêt... Riêng nhóm Mnông Rlâm ở vùng hồ Lắc xây cất nhà sàn cao theo kiến trúc của người Ê Ðê. Dù là nhà sàn hay nhà trệt thì mái vẫn là cỏ tranh: khung và sườn nhà được kết hợp 2 loại nguyên liệu là tre nứa và gỗ cây... Các bộ phận được liên kết bằng chạc, ngoãm, dây mây và dây rừng.

Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu là cái gùi cõng trên lưng nhờ có 2 quai quàng qua đôi vai. Việc vận chuyển bằng voi là phương thức đặc biệt được chú trọng ở vùng người Mnông. Việc đi lại, vận chuyển trên sông, hồ có thuyền độc mộc.

Quan hệ xã hội: Ðơn vị cư trú cơ bản gọi là bon hay uôn, tương ứng với làng, xóm. Các gia đình trong làng có quan hệ láng giềng, quan hệ huyết thống và quan hệ hôn nhân. Làng nhỏ có độ mươi nóc nhà, làng lớn có khi tập trung đến vài chục nóc. Quan hệ huyết thống ở đây tính theo dòng họ mẹ. Dấu vết của chế độ mẫu hệ còn rất đậm nét trong mọi quan hệ xã hội hiện nay. Song tập quán mẫu hệ đã và đang tan rã ở nhiều thang bậc khác nhau theo từng nhóm địa phương.

Trong xã hội cổ truyền người đứng đầu mỗi làng gọi là Rnút hay Kroanh bon, bên cạnh có người phụ tá gọi là Rnoi, Rnớp. Khi cần chiến đấu thì cử ra một chức sắc gọi là Né tăm lăm lở làm thủ lĩnh quân sự. Xã hội Mnông vận hành theo tập quán pháp và Tập quán pháp ca được truyền khẩu qua các thế hệ để làm chuẩn mực cho mọi ứng xử trong đời sống.

Cưới xin: Phụ nữ thường chủ động hơn trong việc hôn nhân. Lễ cưới do 2 bên cùng tổ chức. Sau hôn nhân phổ biến là cư trú phía nhà gái. Ở nhiều nhóm địa phương lại phổ biến hình thức luân cư song phương. Con sinh ra đều mang họ mẹ. Trong tập quán cưới xin có 3 nghi lễ là Sa ur, Tâm ốp và Tám nsông tương ứng với lễ chạm ngõ, lễ ăn hỏi và lễ thành hôn. Chế độ một vợ một chồng là quy tắc chặt chẽ trong quan hệ hôn nhân. Luật tục Mnông phạt vạ rất nghiêm khắc với tội loạn luân và ngoại tình.

Ma chay: Khi có người chết, cả làng nghỉ việc đồng áng để cùng lo mai táng, ma chay. Thi hài được quàn tại nhà khoảng 2 ngày đối với người chết già, chết vì bệnh tật. Họ rất kinh hãi và chối bỏ việc ma chay đối với mọi cái chết do tai nạn gây nên (chết đuối, ngã cây, rắn cắn, hổ vồ... và chết do chiến tranh, đâm chém). Những cái chết "bất đắc kỳ tử" như vừa nêu thì thi hài không được đem vào nhà mà phải mai táng tức khắc một cách thầm lặng. Thổ táng là hình thức duy nhất trong việc tang ma, không có tập quán cải táng. Mọi người chết đều được chia tài sản để mang về "lập nghiệp" ở thế giới của ông bà gọi là Phan.

Nhà mới: Khi một ngôi nhà được xây cất hoàn tất thì lễ khánh thành để vào nhà mới sẽ được tổ chức linh đình bằng một ngày tiệc mặn cúng hiến sinh heo. Sau bữa ăn rồi mới đến tiệc rượu cần rất rôm rả trong tiếng nhạc cồng chiêng.

Lễ tết: Lễ hội đâm trâu là lễ hội cổ truyền được coi trọng nhất. Kết thúc mùa thu hoạch lúa hàng năm, mỗi làng đều tổ chức tết ăn mừng cơm mới, tạ ơn trời đất và thần lúa. Trâu được hiến sinh trong hội lễ tưng bừng để chuẩn bị cho một mùa vụ mới tràn đầy hy vọng.

Lịch: Nông lịch cổ truyền Mnông tính theo lịch âm, dựa vào quy trình canh tác rẫy. Mỗi năm cũng có 12 tháng, mỗi tháng có từ 29 đến 30 ngày.

Học: Trong xã hội cổ truyền Mnông chưa có chữ viết, chỉ có văn chương truyền miệng. Việc giáo dục, học tập được thực hiện bằng phương pháp chỉ dẫn trực tiếp, làm mẫu noi theo, bắt chước. Thập kỷ gần đây mới xuất hiện chữ viết nhưng sự phổ biến rộng rãi đang vấp phải không ít trở ngại.

Văn nghệ: Kho tàng truyện cổ, đặc biệt là sử thi và tập quán pháp ca tiềm ẩn nhiều giá trị, đã và đang được khai thác giới thiệu. Tục ngữ, ca dao, dân ca rất phong phú. Nhạc cụ có cồng chiêng, kèn bầu, kèn sừng trâu, kèn môi, đàn độc huyền, đàn 8 dây, sáo dọc. Ðặc biệt là vỏ trái bầu khô được sử dụng một cách phổ biến để tạo nên bộ phận khuếch đại âm thanh trong nhiều nhạc cụ bằng tre, nứa. Người ta đã tìm thấy ở vùng cư trú của người Mnông bộ đàn đá nguyên thuỷ nổi tiếng từ giữa thế kỷ XX.

Chơi: Trẻ em thường thích chơi diều, đánh cù, bịt mắt bắt dê, chạy, nhảy...

Theo cema.gov.vn

Dân tộc M'nông
Dân tộc Xtiêng

Tên gọi khác: Xa Ðiêng hay Xa Chiêng.

Nhóm địa phương: Bù Lơ, Bù Ðek (Bù Ðêh), Bù Biêk.

Dân số: 85.436 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á) tương đối gần gũi với tiếng Mạ, Mnông, Chơ Ro. Chữ viết hình thành từ trước năm 1975, theo chữ cái La-tinh.

Lịch sử: Người Xtiêng sinh tụ lâu đời ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên và miền đông Nam bộ.

Hoạt động sản xuất: Nguồn lương thực chính là lúa gạo, khoảng 80% lúa gạo do rẫy cung cấp. Nhóm Bù Lơ ở cao, sâu hơn hoàn toàn làm rẫy. Nhóm Bù Ðeh (Bù Ðêk) ở vùng thấp làm ruộng nước từ khoảng 100 năm, như cách thức canh tác của người Việt sở tại. Lúa rẫy có các giống khác nhau, được trồng theo lối "phát-đốt-chọc-trỉa", kết quả mùa màng phụ thuộc lớn vào thiên nhiên và việc bảo về trước sự phá phách của chim muông. Công cụ làm rẫy chủ yếu gồm rìu và dao xà gạc để khai phá rừng, sau khi đốt thì dùng cây cào tre có 5 răng để dọn rồi đốt lại, khi trỉa dùng gậy nhọn (mỗi tay cầm một chiếc) để chọc lỗ, đồng thời gieo hạt giống theo, làm cỏ bằng loại cuốc con (về sau thay thế bằng cái xà - bát người Việt sử dụng), dùng tay tuốt lúa. Hái lượm, săn bắt và kiếm cá đưa lại nguồn lợi quan trọng thiết thực. Gia súc phổ biến gồm: trâu, bò, lợn, chó, một số hộ nuôi voi; gia cầm chủ yếu là gà. Có nghề dệt vải và đan lát. Việc mua bán thường dùng vật đổi vật (nay dùng tiền) có quan hệ hàng hoá với người Việt, Khơme, Mnông, Mạ và cả với bên Campuchia.

Ăn: Người Xtiêng ăn cơm tẻ, cơm nếp. Thực phẩm thường ngày của họ chủ yếu là những thứ kiếm được trong rừng và sông suối (nay có mua ở chợ hay của thương nhân). Thức uống truyền thống nước lã, rượu cần. Ðồ đựng cơm canh, nước đều là vỏ bầu chế tác có hình dạng thích hợp. Họ hút thuốc lá bằng tẩu (nay ít thấy).

: Người Xtiêng phân bố tập trung tại tỉnh Bình Phước, một số ở Tây Ninh và Ðồng Nai. Vùng cao ở nhà trệt, mái trùm gần xuống mặt đất và có nơi uốn tròn ở hai đầu hồi và ở một mặt bên. Vùng thấp thường làm nhà sàn khá khang trang, vách dựng nghiêng phía trên ra ngoài. Theo nếp xưa, mỗi làng chỉ gồm một vài ngôi nhà dài, nay hình thức nhà ngắn của từng hộ đang phát triển.

Mặc: Thông thường, đàn ông đóng khố, ở trần, đàn bà mặc áo, quấn váy. Trước kia, phụ nữ nghèo ở nhiều nơi cũng dùng khố. Họ ưa đeo nhiều trang sức, thường dùng các loại vòng kim loại và chuỗi cườm, thậm chí một cánh tay đeo tới trên 20 chiếc vòng nhôm nay bạc, có cả loại vòng ống quấn từ sợi dây đồng dài ôm quanh ống chân, ống tay. Loại hoa tai lớn bằng ngà voi được ưa chuộng. Nay nam giới mặc như người Việt, nữ hay dùng áo cánh, sơ mi, ở vùng gần người Khơ Me cũng thường gặp phụ nữ Xtiêng quấn váy Khơ Me.

Phương tiện vận chuyển: Các loại gùi rất thông dụng, cách gùi như ở các tộc Thượng khác. Nhóm gần người Việt và Khơ Me, các loại xe gỗ 2 bánh dùng đôi bò kéo từ lâu đã trở thành một phương tiện vận chuyển phổ biến.

Quan hệ xã hội: Mỗi cặp vợ chồng và con cái là một "bếp" (nak). Nhiều bếp hợp thành một nhà (yau). Mỗi làng xưa gồm một vài nhà, càng về sau số nhà càng tăng do việc tách hộ ở riêng. Mỗi người không chỉ thuộc về một "bếp", một nhà, một làng, mà còn là thành viên của một dòng họ nhất định và nằm trong các mối quan hệ họ hàng nhất định và nằm trong các mối quan hệ họ hàng khác nữa. Về tổ chức xã hội truyền thống, làng là đơn vị bao trùm và nổi bật: trong tự bảo quản ở thì ông "già làng" và các bô lão có uy tín cao khác đóng vai trò quan trọng đặc biệt. Xưa kia, ngoài một số ít người giàu có và đa số thuộc lớp nghèo, xã hội Xtiêng đã có những "nô lệ gia đình" do phải ở đợ, hoặc bị mua về...

Cưới xin: Thông thường nếu nhà trai có đủ của cải sính lễ, cô dâu về ở đằng chồng, nhưng thực tế phần đông phải ở rể do chưa có đủ đồ dẫn cưới theo yêu cầu của nhà gái (ché quý, chiêng cồng, trâu...); riêng ở vùng Bình Long, chàng rể luôn phải về ở nhà vợ. Tập tục hôn nhân giữa các nơi, các nhóm có những điểm khác nhau, chẳng hạn: Nhóm Bù Ðek cho phép con trai cô với con gái cậu cũng như con gái cậu với con gái cô lấy nhau, nhưng ở nhóm Bù Lơ chỉ con trai cô được lấy con gái cậu với điều kiện cậu là anh của cô, cũng chỉ được chấp nhận một lần trong mỗi gia đình.

Sinh đẻ: Phụ nữ kiêng cữ cẩn thận ngay từ thời kỳ mang thai. Việc sinh nở xưa kia, phụ nữ tự xoay xở ngoài rừng một mình. Nay nhiều người ở vùng có tập quán dựng kho thóc trong nhà vẫn ra đẻ ở ngôi nhà nhỏ dựng gần bên nhà ở, bởi họ cho rằng nếu đẻ ở nhà sẽ xúc phạm đến "thần lúa", đẻ xong sẽ phải cúng một con lợn cho "thần lúa".

Trong ngày lễ mừng lúa mới, người Xtiêng thường tổ chức đâm trâu. Khi giết một trâu, họ chỉ dựng đoạn thây cây gạo làm cột. Nếu đâm nhiều trâu, lần đầu gia chủ làm loại cột đơn giản gâng srung, những lần sau họ dựng cột gâng rai với nhiều hoa văn trang trí. Ðây là phần ngọn của cây cột đâm trâu gâng rai.

Ma chay: Quan tài gỗ độc mộc đẽo từ cây rừng. Nếu chết bình thường thì họ chôn trong bãi mộ của làng. Trong quan tài, cùng với tử thi, có bỏ một ít gạo, thuốc lá... Những ché, nồi, dụng cụ... "chia" cho người chết đều để trên và quanh mộ. Người Xtiêng không có tục thăm viếng mồ mả. Có người mới chết, cả làng không gõ cồng chiêng và vui nhộn trong khoảng 10 ngày. Những trường hợp chết bất bình thường phải cúng quải tốn kém hơn, kiêng cữ nhiều hơn, lễ thức làm ngoài khu gia cư của làng và không được chôn vào bãi mộ của làng.

Thờ cúng: Người ta tin con người, con vật, cây cối cũng như muôn vật đều có siêu nhiên, tựa như "hồn". "Thần linh" cũng có rất nhiều: thần sấm sét, thần mặt trời, thần núi, thần lúa... Thần lúa được hình dung là người phụ nữ trẻ và đẹp. Trong các lễ cúng, các vị thần hoặc các siêu nhiên nói chung được nhắc đến để cầu xin, hay tạ ơn, hay thông báo điều gì đó. Vật hiến tế là rượu, gà, lợn, trâu, bò, số lượng càng nhiều và con vật càng lớn chứng tỏ lễ cúng càng to, thần linh càng quyền thế, quan trọng.

Lễ tết: Có rất nhiều lễ cúng lớn nhỏ khác nhau trong đời sống của người Xtiêng. Trong đó, lễ hội đâm trâu là lớn nhất, thường được tổ chức mừng được mùa lớn (gia đình thu hoạch lúa từ 100 gùi cỡ to trở lên - loại gùi có tên Sah cach), mừng chiến thắng kẻ thù, mừng làm ăn phát đạt, mừng con cái lớn khôn... Cùng với hiến sinh trâu còn thường có cả bò, lợn. Nếu hiến sinh một trâu, cột lễ để buộc trâu làm đơn giản, nhưng từ 2 trâu trở lên thì cột lễ trang trí đẹp, làm công phu. Tết Xtiêng được gọi là "lễ cúng rơm", sau khi tuốt lúa rẫy xong, trước khi đốt rẫy vụ sau: lễ thức ngày tết có nội dung tạ ơn thần lúa sau một mùa.

Văn nghệ: Người Xtiêng rất yêu âm nhạc. Nhạc cụ quan trọng nhất, đồng thời là một trong số gia tài quý ở xã hội truyền thống, là cồng và chiêng; nhóm Bù Lơ chủ yếu dùng chiêng, mỗi bộ 6 chiếc, nhóm Bù Ðek (Bù Ðêk) chủ yếu dùng cồng, mỗi bộ 5 chiếc. Riêng trong đám ma, chỉ dùng 3 cồng hoặc 3 chiêng. Ngoài ra, còn có tù và, trống, khèn bầu, các loại đàn. Người Xtiêng cũng có kho tàng truyện cổ khá phong phú, có những điệu hát của mình. Tuy nhiên, đến nay, tương tự như nhiều nơi khác, ngay cả cồng, chiêng cũng chỉ còn rất ít so với xưa kia.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Xtiêng

Có thể bạn quan tâm

Mùa Xuân theo chân người lính gác biên

Mùa Xuân theo chân người lính gác biên

Khi muôn nẻo đường đất nước rợp sắc đào, sắc mai và từng mái ấm rộn ràng đón Tết Bính Ngọ 2026, nơi tuyến đầu biên giới Tây Nam, những người lính mang quân hàm xanh lặng lẽ bước vào mùa Xuân theo cách riêng. Không có khoảnh khắc sum vầy bên gia đình trong thời khắc đón năm mới, mùa Xuân của những người lính gắn với đường tuần tra, cột mốc chủ quyền và ca trực xuyên đêm giữ bình yên cho Tổ quốc.

Xuân yên vui trên những bản vùng cao Lào Cai

Xuân yên vui trên những bản vùng cao Lào Cai

Xuân đã về trên những bản làng vùng cao của Lào Cai. Để bà con được vui xuân, đón Tết, lực lượng Công an xã luôn sát cánh cùng già làng, trưởng bản, cùng các lực lượng ở cơ sở giữ vững an ninh trật tự.

Canh giữ biên cương cho mùa Xuân trọn vẹn

Canh giữ biên cương cho mùa Xuân trọn vẹn

Tết đến, Xuân về, khi khắp mọi miền Tổ quốc rộn ràng không khí đoàn viên, sum họp thì ở nơi biên cương xứ Lạng, những cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng vẫn lặng lẽ thực hiện nhiệm vụ tại các lán chốt, cửa khẩu và khu vực ra vào biên giới, canh giữ bình yên để nhân dân đón Tết an toàn, trọn vẹn. Trực chốt trong những ngày Tết không chỉ là nhiệm vụ thường xuyên mà còn thể hiện tinh thần trách nhiệm, sự hy sinh thầm lặng và ý chí kiên cường của người lính quân hàm xanh nơi tuyến đầu Tổ quốc.

Tết ấm no trong những căn nhà mới vùng tâm lũ

Tết ấm no trong những căn nhà mới vùng tâm lũ

Sau hơn 2 tháng kể từ trận lũ lịch sử tháng 11/2025, tại các xã, phường vùng Đông của tỉnh Đắk Lắk, nhiều căn nhà mới đã hoàn thành trong niềm hân hoan, phấn khởi của người dân. Từ đống hoang tàn, đổ nát, bùn đất, cuộc sống vùng lũ đã thật sự đổi thay từ quyết định của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính: Chiến dịch Quang Trung thần tốc xây dựng lại nhà cho người dân trước Tết Nguyên đán.

Tết đầu tiên có điện lưới quốc gia ở Ba Thâu

Tết đầu tiên có điện lưới quốc gia ở Ba Thâu

Giữa những ngày cả nước rộn ràng đón Tết, ở những bản làng xa xôi vẫn có những công trình điện được gấp rút hoàn thành. Với quyết tâm không để người dân nào bị bỏ lại phía sau trong hành trình tiếp cận điện lưới quốc gia, Tổng công ty Điện lực miền Bắc đang nỗ lực xóa các “vùng lõm” về điện, đưa ánh sáng đến từng thôn bản, thắp lên niềm tin và cơ hội phát triển cho những vùng còn nhiều khó khăn.

Nhân dân Đắk Lắk nô nức đón chào năm mới Bính Ngọ 2026​

Nhân dân Đắk Lắk nô nức đón chào năm mới Bính Ngọ 2026​

Chào đón thời khắc giao thừa Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, tối 16/2 (ngày 29 tháng Chạp), hàng nghìn người dân từ vùng trung tâm đến khắp các thôn, buôn trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đã nô nức xuống phố, hòa mình vào dòng người du xuân, thưởng thức các chương trình nghệ thuật đặc sắc, màn bắn pháo hoa và cảm nhận rõ nét mùa xuân mới đang về.

Giữ vững bình yên vùng biển cực Nam Tổ quốc

Giữ vững bình yên vùng biển cực Nam Tổ quốc

Trong không khí rộn ràng của mùa Xuân mới đang đến cận kề, khi mọi nhà sum vầy đón Tết cổ truyền của dân tộc, cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng tỉnh Cà Mau vẫn ngày đêm bám đơn vị, bám địa bàn, tăng cường tuần tra, kiểm soát, bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh biên giới quốc gia, giữ bình yên vùng biển cực Nam của Tổ quốc.

Điện về thắp sáng bản đồng bào Thái giữa đại ngàn Pù Huống

Điện về thắp sáng bản đồng bào Thái giữa đại ngàn Pù Huống

Bản Na Ngân (xã Nga My, tỉnh Nghệ An) có 156 hộ với gần 740 nhân khẩu đều là dân tộc Thái, nằm cách trung tâm xã hơn 20 km, biệt lập giữa đại ngàn Pù Huống. Từ sau cơn bão số 3 xảy ra vào cuối tháng 7/2025, cả bản mất điện do hệ thống cột điện bị gãy, nghiêng đổ, đường dây truyền tải bị đứt, hư hỏng. Đến nay, sau gần 7 tháng “khát” điện, bản làng Na Ngân đã có điện trở lại. Niềm vui có điện của người dân trong bản càng được nhân lên khi bản làng kịp có điện trước thời điểm Tết nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 chỉ còn tính bằng ngày.

Sắc xuân trên những khu tái định cư biên giới

Sắc xuân trên những khu tái định cư biên giới

Nhờ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, thông qua các chương trình, dự án đầu tư, xây dựng các khu tái định cư tại khu vực biên giới của tỉnh Thanh Hóa, nhiều hộ dân xã biên giới đã được di dời khỏi vùng có nguy cơ sạt lở đất, lũ ống, lũ quét về khu tái định cư mới an toàn. Hiện, đời sống của người dân ở các khu tái định cư đang ngày càng ổn định hơn, cuộc sống ngày càng khởi sắc, họ đang dọn dẹp nhà cửa, chuẩn bị thực phẩm để đón một năm mới vui vẻ, ấm áp bên người thân, gia đình.

Mang Tết đến với chiến sĩ trẻ

Mang Tết đến với chiến sĩ trẻ

Thực hiện nhiệm vụ được giao, dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, Sư đoàn 10 (Quân đoàn 34) có gần 10.000 chiến sỹ trẻ ăn Tết tại đơn vị, trực sẵn sàng chiến đấu; trong đó đa số là chiến sỹ trẻ lần đầu đón Xuân tại đơn vị.

Xe ngựa - Biểu tượng văn hóa 'độc bản' miền biên viễn Tây Nam

Xe ngựa - Biểu tượng văn hóa 'độc bản' miền biên viễn Tây Nam

Giữa dòng chảy hối hả của nhịp sống hiện đại, tiếng vó ngựa lọc cọc vẫn vang vọng khắp các phum, sóc như một biểu tượng kiêu hãnh của văn hóa bản địa vùng Bảy Núi An Giang. Xe ngựa không chỉ là phương tiện mưu sinh mà đã trở thành biểu tượng văn hóa “độc bản”, lưu giữ linh hồn và tính cách phóng khoáng của những người dân chân chất nơi biên viễn Tây Nam.

Vùng đất anh hùng trên hành trình đổi mới

Vùng đất anh hùng trên hành trình đổi mới

Trên dải biên cương phía Bắc của Tổ quốc, các xã biên giới phía Bắc của tỉnh Tuyên Quang như: Thanh Thủy, Lao Chải... gắn liền với những dấu mốc lịch sử hào hùng của cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới. Từng là chiến trường ác liệt, nơi nhiều cán bộ, chiến sĩ và đồng bào các dân tộc anh dũng hy sinh, giờ đây các xã vùng biên này đang vươn lên mạnh mẽ, chuyển mình từ vùng đất chiến tranh thành những địa bàn biên giới phát triển toàn diện về kinh tế - xã hội, gắn với củng cố vững chắc quốc phòng - an ninh.

Xuân mới trên những bản làng vùng cao

Xuân mới trên những bản làng vùng cao

Xuân mới đang về trên những bản làng vùng cao tỉnh Tuyên Quang. Khi sắc đào rừng bắt đầu bung nở, hơi ấm mùa Xuân lan tỏa trong từng nếp nhà, niềm vui cũng theo đó nhân lên từ những đổi thay rõ rệt. Đó là những mái nhà mới kiên cố thay thế nhà tạm, nhà dột nát, những vật nuôi sinh kế được trao tận tay hộ nghèo, cận nghèo.

Xuân trên những công trình mở lối tương lai

Xuân trên những công trình mở lối tương lai

Những ngày giáp Tết Nguyên đán, khi xuân đã về trên từng tuyến phố, làng quê, từng mái nhà, từng góc nhỏ… thì tại các công trình giao thông trọng điểm tại TP Hồ Chí Minh, nhịp lao động vẫn diễn ra khẩn trương, đều đặn. Giữa tiếng máy móc vang vọng, giữa những ca làm việc nối tiếp nhau không ngơi nghỉ, mùa xuân hiện hữu theo một cách rất riêng - mùa xuân của lao động, của cống hiến và của niềm tin vào những con đường đang mở lối cho phát triển.

Niềm vui có điện trước thềm năm mới của người dân Sáng Nhè

Niềm vui có điện trước thềm năm mới của người dân Sáng Nhè

Những ngày trước Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, người dân ở hai bản Phảng Củ và bản Háng Chua, xã Sáng Nhè, tỉnh Điện Biên vui mừng, phấn khởi khi được sử dụng điện lưới quốc gia, ánh điện thắp sáng cả bản làng trước thềm Xuân mới mang theo bao ước vọng về một tương lai tươi sáng.

Tết đoàn viên của người dân xã đảo Nhơn Châu

Tết đoàn viên của người dân xã đảo Nhơn Châu

Những ngày giáp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, xã đảo Nhơn Châu (tỉnh Gia Lai) rộn ràng không khí mừng Đảng, mừng Xuân. Trên đảo Cù Lao Xanh, Tết không chỉ là thời khắc chuyển giao năm mới mà còn là dịp để cộng đồng cư dân biển đảo sum vầy, gắn kết trong tinh thần đoàn viên, sẻ chia và gìn giữ những giá trị truyền thống.

Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước TP Cần Thơ tổ chức kỳ thi Pali Roong năm học 2025 - 2026

Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước TP Cần Thơ tổ chức kỳ thi Pali Roong năm học 2025 - 2026

Ngày 14/2, trong không khí phấn khởi đầu xuân, Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước TP Cần Thơ tổ chức lễ tổng kết, công bố kết quả và trao thưởng Kỳ thi Pali Roong (Pali sơ cấp) tại chùa Sê Rây Ta Mơn, đánh dấu một bước tiến mới trong phong trào giáo dục ngôn ngữ và giáo lý dân tộc trên địa bàn.

Đổi thay ở vùng biên xứ Lạng

Đổi thay ở vùng biên xứ Lạng

Không khí Xuân đang lan tỏa khắp bản làng, thôn xóm nằm ẩn khuất sau dãy núi trập trùng nơi biên giới Lạng Sơn. Trên con đường kiên cố sạch sẽ dẫn vào vùng biên giới, cờ đỏ sao vàng tung bay trong nắng mới. Tiếng nói cười nô đùa của trẻ con, sắc áo mới rộn ràng của đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, Dao, Kinh… hòa cùng sắc hoa đào, hoa mận tạo nên bức tranh đa sắc, tươi vui.

Tết ấm áp cho giáo viên vùng cao

Tết ấm áp cho giáo viên vùng cao

Không còn là những mùa Xuân "vắng bóng" quà Tết, năm nay, hàng nghìn giáo viên cắm bản tại các rẻo cao của tỉnh Nghệ An đã đón nhận niềm vui kép từ chính sách của Nhà nước và sự chung tay của cộng đồng. Những món quà không chỉ mang giá trị vật chất mà còn là sự ghi nhận xứng đáng cho lòng tận tụy, trở thành điểm tựa tinh thần để các "kỹ sư tâm hồn" vững tin bám trường, bám bản.

Sắc Xuân nơi ngã ba biên giới Sín Thầu​

Sắc Xuân nơi ngã ba biên giới Sín Thầu​

Xã Sín Thầu, vùng đất nơi ngã ba biên giới Việt Nam – Lào – Trung Quốc những ngày giáp Tết Nguyên đán đang khoác lên mình sắc Xuân rực rỡ. Giữa núi rừng hùng vĩ của dãy Khoang La San, bản làng người Hà Nhì như bừng tỉnh, tràn đầy sức sống mới trong cảnh sắc thiên nhiên, trong trang phục truyền thống rực rỡ và niềm vui hiện hữu trên từng gương mặt người dân.

Từ vùng thiên tai đến mùa Xuân an lành

Từ vùng thiên tai đến mùa Xuân an lành

Những ngày giáp Tết, khi nắng Xuân bắt đầu hong khô những cánh đồng từng ngập sâu dưới nước, cuộc sống, sinh hoạt của người dân ở các xã phía Tây tỉnh Gia Lai cũng dần trở lại nhịp thường ngày.

Ánh sáng trên rẻo cao Sáng Nhè

Ánh sáng trên rẻo cao Sáng Nhè

Từng một thời 'nhòe đi' trong khói đèn dầu và bóng tối, Sáng Nhè hôm nay đã thực sự rạng ngời đúng như tên gọi của mình. Với tinh thần 'hò kéo pháo' giữa thời bình, những chiến sĩ Công an đã đưa dòng điện về bản, thắp lên mùa xuân tri thức và viết tiếp giấc mơ thoát nghèo cho những mầm non nơi rẻo cao Điện Biên.

Rộn ràng chợ hoa Cần Thơ ngày cận Tết

Rộn ràng chợ hoa Cần Thơ ngày cận Tết

Những ngày cận Tết Nguyên đán, không khí tại các chợ hoa xuân ở TP Cần Thơ trở nên nhộn nhịp khi hàng trăm gian hàng đồng loạt khoe sắc. Đào hồng, mai vàng, quất trĩu quả rực rỡ, thu hút đông đảo người dân đến tham quan, chọn mua. Các nhà vườn tất bật vận chuyển, chăm sóc và hoàn thiện sản phẩm, chủ động nguồn hàng để đáp ứng nhu cầu mua sắm tăng cao dịp cuối năm.

Ông Danh Ét kiểm tra chất lượng phát triển của hoa trước khi xuất ra thị trường Tết.

Niềm vui xuân mới trên những phum sóc của đồng bào Khmer

Những ngày giáp Tết, vùng đông đồng bào Khmer lại rộn ràng sắc xuân mới. Trên những cánh đồng lúa đang bước vào vụ thu hoạch, làng nghề tất bật sản xuất, những tuyến đường nông thôn bê tông hóa thẳng tắp dẫn qua các phum sóc, nhà cửa khang trang nối tiếp nhau. Không khí càng thêm hân hoan khi đồng bào Khmer nơi đây đón Tết, xuân về trong điều kiện đủ đầy và ấm áp.

Xuân về Bản Giáng

Xuân về Bản Giáng

Những ngày giáp Tết Nguyên đán, con đường bê tông phẳng lỳ dẫn vào thôn Bản Giáng, xã Trung Sơn (Tuyên Quang) rộn ràng bước chân người qua lại. Vùng đất từng là “miền xa” cách trở, nhiều khó khăn, nay đã thay đổi diện mạo, với đường thông, điện sáng, nhà cửa khang trang, đời sống bà con ngày càng nâng lên. Xuân mới về trên bản vùng cao mang theo niềm vui, niềm tin và khát vọng vươn lên của đồng bào dân tộc Nùng nơi đây.

Thiết thực chăm lo Tết cho người dân có hoàn cảnh khó khăn

Thiết thực chăm lo Tết cho người dân có hoàn cảnh khó khăn

Trong không khí rộn ràng của mùa Xuân mới, hòa chung niềm vui chào mừng thành công Đại hội Đảng các cấp, các địa phương của tỉnh Thanh Hóa đã sôi nổi triển khai nhiều hoạt động vui Tết gắn với chăm lo đời sống cho người nghèo và các đối tượng yếu thế.

Tết Quân dân - mô hình dân vận ý nghĩa tô thắm thêm tình gắn bó keo sơn

Tết Quân dân - mô hình dân vận ý nghĩa tô thắm thêm tình gắn bó keo sơn

Được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2007, qua 20 lần tổ chức, Tết Quân dân đã trở thành hoạt động không thể thiếu của lực lượng vũ trang thành phố Cần Thơ mỗi dịp Tết đến, Xuân về. Đây không chỉ là dịp để các đơn vị quân đội thực hiện các hoạt động đền ơn, đáp nghĩa, an sinh xã hội mà còn là dịp giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ, thắt chặt tình đoàn kết quân dân.

Cuộc sống mới của đồng bào vùng bị mưa lũ Sơn La

Cuộc sống mới của đồng bào vùng bị mưa lũ Sơn La

Cuối tháng 7, đầu tháng 8/2025, tỉnh Sơn La xảy ra các đợt mưa lũ khiến hơn 2.600 nhà ở bị thiệt hại, ảnh hưởng; trong đó 52 nhà bị đổ sập, cuốn trôi hoàn toàn, 279 nhà di dời khẩn cấp, 90 nhà hư hỏng. Mưa lũ đi qua để lại những hậu quả vô cùng nặng nề.