Chủ động vận hành chính quyền địa phương 2 cấp, tạo động lực phát triển mới

Trong hai ngày 7 và 8/5, Đoàn kiểm tra, giám sát số 20 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư do đồng chí Hoàng Công Huấn, Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương làm Trưởng đoàn đã làm việc với Đảng ủy HĐND tỉnh và Đảng ủy UBND tỉnh Tuyên Quang về việc lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai một số nhiệm vụ chính trị trọng tâm theo Quyết định số 20-QĐNS/TW ngày 23/2/2026 của Bộ Chính trị.

Đoàn kiểm tra giám sát làm việc với Đảng uỷ HĐND tỉnh Tuyên Quang.

Đoàn kiểm tra giám sát làm việc với Đảng uỷ HĐND tỉnh Tuyên Quang.

Làm việc với Đảng ủy HĐND tỉnh Tuyên Quang, Đoàn kiểm tra, giám sát ghi nhận những nỗ lực của cơ quan dân cử cấp tỉnh trong bối cảnh Tuyên Quang thực hiện đồng thời nhiều nhiệm vụ lớn như hợp nhất hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang, vận hành chính quyền địa phương 2 cấp, chuẩn bị và tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI, đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031; đồng thời triển khai các nghị quyết quan trọng của Trung ương.

Báo cáo với Đoàn kiểm tra của Bộ Chính trị, Phó Bí thư Đảng ủy HĐND tỉnh Phạm Thị Minh Xuân cho biết, ngay sau khi được thành lập, Đảng bộ HĐND tỉnh đã nhanh chóng kiện toàn tổ chức, thành lập 4 chi bộ trực thuộc, ban hành quy chế làm việc, chương trình công tác, chương trình kiểm tra, giám sát; bảo đảm hoạt động của HĐND tỉnh thông suốt, không bị gián đoạn. HĐND tỉnh đã tổ chức thành công các kỳ họp khóa XIX và khóa XX, kịp thời kiện toàn nhân sự, tổ chức bộ máy chính quyền cấp tỉnh, cấp xã; ban hành trên 130 nghị quyết trên các lĩnh vực phân cấp, phân quyền, đầu tư công, quy hoạch, phát triển doanh nghiệp, an sinh xã hội, khoa học - công nghệ, chuyển đổi số. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để tỉnh ổn định bộ máy, xử lý các vấn đề phát sinh sau hợp nhất; đồng thời mở đường cho những động lực phát triển mới.

Một điểm nổi bật trong hoạt động của HĐND tỉnh Tuyên Quang là chuyển đổi số được triển khai khá đồng bộ. 100% kỳ họp HĐND tỉnh được tổ chức theo hình thức không giấy tờ; 100% văn bản được ký số; đại biểu HĐND tỉnh được trang bị máy tính bảng phục vụ kỳ họp điện tử. HĐND tỉnh cũng đưa nội dung khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số vào chương trình giám sát năm 2026; đồng thời ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong xử lý, phân công văn bản, tra cứu chính sách và hỗ trợ thẩm tra dự thảo nghị quyết.

Báo cáo, làm rõ thêm một số nội dung với Đoàn kiểm tra, giám sát, đồng chí Nguyễn Văn Sơn, Chủ tịch HĐND tỉnh Tuyên Quang nhấn mạnh, trong điều kiện khối lượng công việc lớn, Đảng ủy HĐND tỉnh luôn giữ vững tinh thần đoàn kết, chủ động đổi mới phương thức lãnh đạo, điều hành, phát huy vai trò của cơ quan dân cử trong quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương. Đồng thời, kiến nghị Trung ương tiếp tục quan tâm tháo gỡ khó khăn về cơ chế, chính sách cho các tỉnh miền núi, biên giới sau hợp nhất; ưu tiên nguồn lực đầu tư hạ tầng giao thông chiến lược, hạ tầng giao thông liên vùng; bố trí nguồn lực cho chuyển đổi số, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo; xem xét đặc thù đa dạng của cấp xã miền núi, biên giới khi xác định biên chế, tổ chức bộ máy.

tuyen-quang-3.jpg
Đoàn kiểm tra giám sát làm việc với Đảng uỷ UBND tỉnh Tuyên Quang.

Tiếp tục chương trình làm việc, Đoàn kiểm tra, giám sát làm việc với Đảng ủy UBND tỉnh. Báo cáo nêu rõ, Đảng bộ UBND tỉnh được thành lập từ ngày 1/7/2025 trên cơ sở hợp nhất Đảng bộ UBND tỉnh Tuyên Quang và Đảng bộ UBND tỉnh Hà Giang. Đến tháng 5/2026, Đảng bộ có 42 tổ chức cơ sở đảng trực thuộc với 7.295 đảng viên. Năm 2025, 100% tổ chức cơ sở đảng trực thuộc xếp loại hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên; Đảng bộ UBND tỉnh xếp loại hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Trong vận hành chính quyền địa phương 2 cấp, Đảng ủy UBND tỉnh đã lãnh đạo UBND tỉnh ban hành đồng bộ các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các cơ quan, đơn vị. Sau hợp nhất, tỉnh thành lập 14 cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, cắt giảm 13 cơ quan cấp sở và 92 đầu mối trực thuộc so với tổng số của hai tỉnh trước sắp xếp. Ở cấp cơ sở, 124 xã, phường đồng loạt vận hành mô hình UBND cấp xã, phường với 4 cơ quan chuyên môn và tổ chức hành chính trực thuộc; 124 Trung tâm Dịch vụ công cấp xã được thành lập, góp phần đưa dịch vụ hành chính công đến gần người dân hơn.

Công tác cán bộ được triển khai khẩn trương, đồng bộ. Tỉnh đã hoàn thành kiện toàn chức danh lãnh đạo UBND cấp tỉnh và 124/124 đơn vị hành chính cấp xã; điều động, bố trí cán bộ từ cấp tỉnh tăng cường cho cơ sở; thực hiện nghiêm chủ trương bố trí Bí thư, Chủ tịch, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra cấp xã không là người địa phương. Từ ngày 1/7/2025 đến nay, toàn tỉnh đã mở 45 lớp bồi dưỡng, tập huấn cho hơn 5.000 lượt cán bộ, công chức, viên chức, tập trung vào các lĩnh vực bầu cử, dịch vụ hành chính công, chuyển đổi số, tổ chức cán bộ, đất đai, tư pháp, tín ngưỡng tôn giáo, tiếng dân tộc Mông…

Làm rõ thêm một số nội dung với Đoàn kiểm tra, giám sát, đồng chí Phan Huy Ngọc, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND tỉnh khẳng định, tỉnh Tuyên Quang xác định việc vận hành chính quyền địa phương 2 cấp không chỉ là yêu cầu về tổ chức bộ máy mà còn là cơ hội để đổi mới phương thức quản trị, nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều hành, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp. Tỉnh sẽ tiếp tục tập trung tháo gỡ khó khăn, khơi thông các nguồn lực, đẩy mạnh chuyển đổi số, cải cách hành chính và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững trong giai đoạn mới.

Đồng chí Hoàng Công Huấn, Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương phát biểu tại buổi làm việc với Đảng uỷ UBND tỉnh Tuyên Quang.

Đồng chí Hoàng Công Huấn, Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương phát biểu tại buổi làm việc với Đảng uỷ UBND tỉnh Tuyên Quang.

Kết thúc 2 ngày làm việc, thay mặt Đoàn kiểm tra, giám sát số 20 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đồng chí Hoàng Công Huấn, Trưởng đoàn công tác biểu dương, ghi nhận và đánh giá cao tinh thần chủ động, trách nhiệm của tỉnh trong triển khai thực hiện các nghị quyết, quy định của Trung ương; đặc biệt là việc nhanh chóng ổn định tổ chức bộ máy sau hợp nhất, vận hành chính quyền địa phương 2 cấp bảo đảm thông suốt, không để gián đoạn hoạt động phục vụ người dân và doanh nghiệp. Đồng chí đánh giá cao những kết quả bước đầu của tỉnh trong đổi mới hoạt động của cơ quan dân cử, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cải cách hành chính, chuyển đổi số, ứng dụng khoa học công nghệ, trí tuệ nhân tạo trong công tác lãnh đạo, điều hành và phục vụ nhiệm vụ chính trị.

Đồng chí Hoàng Công Huấn cũng ghi nhận những kiến nghị, đề xuất của tỉnh liên quan đến cơ chế, chính sách cho địa phương miền núi, biên giới sau hợp nhất; đầu tư hạ tầng giao thông liên vùng; nguồn lực cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đồng chí đề nghị tỉnh tiếp tục rà soát, hoàn thiện các quy định, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy chính quyền 2 cấp, phát huy tinh thần đoàn kết, chủ động, sáng tạo, quyết tâm thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới./.

Tin, ảnh: Minh Tâm/TTXVN
Dân tộc Mông

Tên tự gọi: Mông, Na Miẻo.

Tên gọi khác: Mẹo, Mèo, Miếu Hạ, Mán Trắng.

Nhóm địa phương: Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Ðỏ, Mông Ðen, Mông Xanh, Na Miẻo.

Dân số: 1.068.189 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngôn ngữ hệ Mông - Dao.

Hoạt động sản xuất: Nguồn sống chính là làm nương định canh hoặc nương du canh trồng ngô, lúa, lúa mạch. Nông dân có truyền thống trồng xen canh trên nương cùng với cây trồng chính là các cây ý dĩ, khoai, rau, lạc, vừng, đậu...

Chiếc cày của người Mông rất nổi tiếng về độ bền cũng như tính hiệu quả. Trồng lanh, thuốc phiện (trước đây), các cây ăn quả như táo, lê, đào, mận, dệt vải lanh là những hoạt động sản xuất đặc sắc của người Mông.

Người Mông chăn nuôi chủ yếu trâu, bò, lợn, gà, ngựa. Ngựa thồ là phương tiện vận chuyển rất có hiệu quả trên vùng cao núi đá. Con ngựa rất gần gũi và thân thiết với từng gia đình Mông.

Họ phát triển đa dạng các nghề thủ công như đan lát, rèn, làm yên cương ngựa, đồ gỗ, nhất là các đồ đựng, làm giấy bản, đồ trang sức bằng bạc phục vụ nhu cầu và thị hiếu của người dân. Các thợ thủ công Mông phần lớn là thợ bán chuyên nghiệp làm ra những sản phẩm nổi tiếng như lưỡi cày, nòng súng, các đồ đựng bằng gỗ ghép. Chợ ở vùng Mông thoả mãn vừa nhu cầu trao đổi hàng hoá vừa nhu cầu giao lưu tình cảm, sinh hoạt.

Ăn: Người Mông thường ăn ngày hai bữa, ngày mùa ăn ba bữa. Bữa ăn với các thực phẩm truyền thống có mèn mén (bột ngô đồ) hay cơm, rau xào mỡ và canh. Bột ngô được xúc ăn bằng thìa gỗ. Phụ nữ khéo léo làm các loại bánh bằng bột ngô, gạo vào những ngày tết, ngày lễ.

Người Mông quen uống rượu ngô, rượu gạo, hút thuốc bằng điếu cày. Ðưa mời khách chiếc điếu do tự tay mình nạp thuốc là biểu hiện tình cảm quý trọng. Trước kia, tục hút thuốc phiện tương đối phổ biến với họ.

Mặc: Trang phục của người Mông rất sặc sỡ, đa dạng giữa các nhóm.

Phụ nữ Mông Trắng trồng lanh, dệt vải lanh, váy màu trắng, áo xẻ ngực, thêu hoa văn ở cánh tay, yếm sau. Cạo tóc, để chỏm, đội khăn rộng vành.

Phụ nữ Mông Hoa mặc váy màu chàm có thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ nách, trên vai và ngực đắp vải màu và thêu. Ðể tóc dài, vấn tóc cùng tóc giả.

Phụ nữ Mông Ðen mặc váy bằng vải chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực.

Phụ nữ Mông Xanh mặc váy ống. Phụ nữ Mông Xanh đã có chồng cuốn tóc lên đỉnh đầu, cài bằng lược móng ngựa, đội khăn ra ngoài tạo thành hình như hai cái sừng.Trang trí trên y phục chủ yếu bằng đắp ghép vải màu, hoa văn thêu chủ yếu hình con ốc, hình vuông, hình quả trám, hình chữ thập.

Tuổi thơ hồn nhiên của trẻ em dân tộc Mông ở xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu (Sơn La). Ảnh Lưu Trọng Đạt.jpg
Tuổi thơ hồn nhiên của trẻ em dân tộc Mông ở xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu (Sơn La). Ảnh Lưu Trọng Đạt

Ở: Người Mông quần tụ trong từng bản vài chục nóc nhà. Nhà trệt, ba gian hai chái, có từ hai đến ba cửa. Gian giữa đặt bàn thờ.

Nhà giàu thì tường trình, cột gỗ kê trên đá tảng hình đèn lồng hay quả bí, mái lợp ngói, sàn gác lát ván. Phổ biến nhà bưng ván hay vách nứa, mái tranh.

Lương thực được cất trữ trên sàn gác. Một số nơi có nhà kho chứa lương thực ở ngay cạnh nhà.

Chuồng gia súc được lát ván cao ráo, sạch sẽ.

Ở vùng cao núi đá, mỗi nhà có một khuôn viên riêng cách nhau bằng bức tường xếp đá cao khoảng gần 2 mét.

Phương tiện vận chuyển: Người Mông quen dùng ngựa thồ, gùi có hai quai đeo vai.

Quan hệ xã hội: Bản thường có nhiều họ, trong đó một hoặc hai họ giữ vị trí chủ đạo, có ảnh hưởng chính tới các quan hệ trong bản. Người đứng đầu bản điều chỉnh các quan hệ trong bản, trước kia, cả bằng hình thức phạt vạ lẫn dư luận xã hội. Dân mỗi bản tự nguyện cam kết và tuân thủ quy ước chung của bản về sản xuất, chăn nuôi, bảo vệ rừng và việc giúp đỡ lẫn nhau. Quan hệ trong bản càng gắn bó chặt chẽ hơn thông qua việc thờ cúng chung thổ thần của bản.

Người Mông rất coi trọng dòng họ bao gồm những người có chung tổ tiên. Các đặc trưng riêng với mỗi họ thể hiện ở những nghi lễ cúng tổ tiên, ma cửa, ma mụ... như số lượng và cách bày bát cúng, bài cúng, nơi cúng, ở các nghi lễ ma chay như cách quàn người chết trong nhà, cách để xác ngoài trời trước khi chôn, cách bố trí mộ...

Người cùng họ dù không biết nhau, dù cách xa bao đời nhưng qua cách trao đổi các đặc trưng trên có thể nhận ra họ của mình. Phong tục cấm ngặt những người cùng họ lấy nhau. Tình cảm gắn bó giữa những người trong họ sâu sắc. Trưởng họ là người có uy tín, được dòng họ tôn trọng, tin nghe.

Gia đình nhỏ, phụ hệ. Cô dâu đã qua lễ nhập môn, bước qua cửa nhà trai, coi như đã thuộc vào dòng họ của chồng. Vợ chồng rất gắn bó, luôn ở bên nhau khi đi chợ, đi nương, thăm hỏi họ hàng. Phổ biến tục cướp vợ.

Thờ cúng: Trong nhà có nhiều nơi linh thiêng dành riêng cho việc thờ cúng như nơi thờ tổ tiên, ma nhà, ma cửa, ma bếp. Những người biết nghề thuốc, biết làm thầy còn lập bàn thờ cúng những vị tổ sư nghề của mình. Nhiều lễ cúng kiêng cấm người lạ vào nhà, vào bản. Sau khi cúng ma cầu xin ai thường đeo bùa để lấy khước.

Học: Chữ Mông tuy được soạn thảo theo bộ vần chữ quốc ngữ từ những năm sáu mươi nhưng cho đến nay vẫn chưa thực sự phổ biến.

Lễ tết: Trong khi người Việt đang hối hả kết thúc tháng cuối cùng trong năm thì người Mông đã bước vào Tết năm mới truyền thống từ đầu tháng 12 âm lịch, sớm hơn tết Nguyên đán một tháng theo cách tính lịch cổ truyền của người Mông, phù hợp với nông lịch truyền thống.

Ngày Tết, dân làng thường chơi còn, đu, thổi khèn, ca hát ở những bãi rộng quanh làng. Tết lớn thứ hai là Tết 5 tháng năm (âm lịch). Ngoài hai tết chính, tuỳ từng nơi còn có các Tết vào các ngày 3 tháng 3, 13 tháng 6, 7 tháng 7 (âm lịch).

Các vận động viên dân tộc Mông thi đấu môn bắn nỏ tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc huyện Than Uyên (Lai Châu). Ảnh Quý Trung.jpg
Các vận động viên dân tộc Mông thi đấu môn bắn nỏ tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc huyện Than Uyên (Lai Châu). Ảnh Quý Trung

Văn nghệ: Thanh niên thích chơi khèn, vừa thổi vừa múa. Khèn, trống còn được sử dụng trong đám ma, lúc viếng, trong các lễ cúng cơm. Kèn lá, đàn môi là phương tiện để thanh niên trao đổi tâm tình.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Mông

Có thể bạn quan tâm

Cử tri vùng biên kiến nghị gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường

Cử tri vùng biên kiến nghị gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường

Sáng 2/10, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Tây Ninh tiếp xúc cử tri gồm đại diện các phòng, ban, lực lượng vũ trang, doanh nghiệp và cử tri xã Hòa Hội, Ninh Điền trước Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI. Ông Phạm Hùng Thái, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh chủ trì buổi tiếp xúc.

Đắk Lắk phê bình 35 xã, phường chưa kê khai hoạt động chăn nuôi

Đắk Lắk phê bình 35 xã, phường chưa kê khai hoạt động chăn nuôi

UBND tỉnh Đắk Lắk vừa ban hành văn bản về việc chấn chỉnh việc thực hiện kê khai hoạt động chăn nuôi và đăng ký tài khoản quản trị Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về chăn nuôi. Trong đó, phê bình Chủ tịch UBND 35 xã, phường chưa thực hiện kê khai hoạt động chăn nuôi.

Đào tạo nghề sát nhu cầu, tăng cơ hội việc làm cho lao động dân tộc thiểu số

Đào tạo nghề sát nhu cầu, tăng cơ hội việc làm cho lao động dân tộc thiểu số

Tỉnh Gia Lai đang chuyển mạnh từ đào tạo nghề theo năng lực sẵn có sang đào tạo theo nhu cầu của doanh nghiệp và thị trường lao động, gắn với khả năng tạo sinh kế tại chỗ. Tỉnh phấn đấu đến cuối năm 2026 có khoảng 2.000 lao động dân tộc thiểu số sau học nghề có việc làm hoặc tự tạo việc làm.

Chậm hỗ trợ sau thiên tai do khó xác định mức thiệt hại

Chậm hỗ trợ sau thiên tai do khó xác định mức thiệt hại

Dù lãnh đạo tỉnh Đắk Lắk đã nhiều lần chỉ đạo, đôn đốc các xã, phường sớm giải ngân hỗ trợ cho người dân có đàn gia súc, gia cầm bị thiệt hại trong đợt lũ lụt lịch sử cuối năm 2025 nhưng đến nay, nhiều địa phương vẫn chưa thực hiện được. 

Lâm Đồng sớm xử lý sụt lún, gãy nền đường Tà Đùng - Quảng Sơn

Lâm Đồng sớm xử lý sụt lún, gãy nền đường Tà Đùng - Quảng Sơn

Mưa lớn kéo dài trong thời gian qua đã làm nền đường tại một số vị trí trên tuyến liên xã Tà Đùng – Quảng Sơn, tỉnh Lâm Đồng xuất hiện sụt lún, đứt gãy. Tình trạng này không chỉ tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn giao thông mà còn gây khó khăn cho việc đi lại, vận chuyển nông sản và hoạt động sản xuất của người dân trong khu vực.

Chuyển đổi số thúc đẩy phát triển nông nghiệp miền núi

Chuyển đổi số thúc đẩy phát triển nông nghiệp miền núi

Chuyển đổi số hiện nay đã trở thành xu thế tất yếu thúc đẩy kinh tế, xã hội nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả trong sản xuất. Tỉnh Lạng Sơn cũng đang ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số vào sản xuất, từ đó giúp đổi mới toàn diện trong tư duy quản lý, tổ chức sản xuất, phát triển chuỗi các giá trị, truy xuất nguồn gốc, kết nối thị trường cho các sản phẩm nông sản.

Đổi mới quản trị giáo dục, thu hẹp khoảng cách vùng miền

Đổi mới quản trị giáo dục, thu hẹp khoảng cách vùng miền

Sau hơn một năm vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, giáo dục Tây Ninh đang bước vào giai đoạn chuyển đổi quan trọng. Từ sắp xếp mạng lưới trường lớp, phân bổ nguồn lực, đẩy mạnh chuyển đổi số đến bảo đảm cơ hội học tập cho học sinh vùng biên giới, ngành giáo dục từng bước đổi mới phương thức quản lý, nâng cao hiệu quả hoạt động và hướng tới thu hẹp khoảng cách giáo dục giữa các địa bàn.

Để người dân tái định cư yên tâm an cư

Để người dân tái định cư yên tâm an cư

Hơn hai năm về khu tái định cư sau trận lũ quét lịch sử, nhiều hộ dân xã Mường Xén vẫn chưa nhận được khoản hỗ trợ. Giữa niềm vui có mái nhà mới, bà con lại đối diện với nỗi lo thiếu nước sinh hoạt, gánh nặng chi phí xây dựng và sự mòn mỏi chờ đợi chính sách.

Hơn 80 hộ dân xã Bum Nưa (Lai Châu) mong sớm có nơi an cư

Hơn 80 hộ dân xã Bum Nưa (Lai Châu) mong sớm có nơi an cư

Nà Hừ là bản đông dân nhất xã biên giới Bum Nưa (Lai Châu) với 290 hộ, trên 1.520 nhân khẩu, 100% đồng bào dân tộc Thái. Mỗi mùa mưa lũ đến, nỗi lo về một nơi ở an toàn vẫn là điều trăn trở của hơn 80 hộ dân nơi đây.

Từ những ước mơ nhỏ, mở ra cơ hội lớn

Từ những ước mơ nhỏ, mở ra cơ hội lớn

Có những ước mơ của trẻ em vùng cao không bắt đầu từ những điều lớn lao. Một cuốn sách, một đôi giày mới, được học trong ngôi trường khang trang, có thêm một bữa ăn đủ đầy hay đơn giản là được vui chơi, gặp gỡ những người bạn ở một nơi khác…

Nâng cao chất lượng bữa ăn bán trú cho học sinh vùng cao

Nâng cao chất lượng bữa ăn bán trú cho học sinh vùng cao

Tại các địa phương khu vực phía Tây tỉnh Quảng Ngãi, việc đảm bảo bữa ăn bán trú vừa an toàn vệ sinh thực phẩm, vừa đầy đủ dinh dưỡng luôn được chính quyền địa phương và nhà trường đặc biệt chú trọng. Nhờ đó, không chỉ giúp cho các em học sinh có được thể chất tốt để học tập, mà còn giúp cho phụ huynh học sinh yên tâm với chế độ bán trú của các nhà trường, giúp các em vững bước trên con đường thực hiện ước mơ của mình.

Người dân vùng 'rốn lũ' Đắk Lắk chủ động tránh lũ

Người dân vùng 'rốn lũ' Đắk Lắk chủ động tránh lũ

Rút kinh nghiệm từ đợt lũ lịch sử cuối năm 2025, nhiều hộ dân ở vùng “rốn lũ” xã Hòa Thịnh, xã Đồng Xuân (tỉnh Đắk Lắk) đã chủ động triển khai các giải pháp tránh lũ ngay trước thềm mùa mưa bão năm nay.

Tại nhiều vùng cao, tầm vóc thấp bé và chứng còi xương ở trẻ em vẫn rất phổ biến. Ảnh: V.T

Đẩy lùi nạn tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống-Bài 2: Thể trạng con người còi xương, hệ lụy khôn lường về di truyền

Hệ lụy của hôn nhân cận huyết thống và nạn tảo hôn là căn nguyên khiến thể trạng con người và chất lượng dân số vùng đồng bào dân tộc hạn chế, gen di truyền từ cha mẹ sang con khiến những trẻ em sinh ra thường mắc các bệnh còi xương, thấp bé... và vòng xoáy nghèo đói tiềm ẩn nơi non cao.