Thừa Thiên - Huế: Người “giữ lửa” lò ngói gốm men Cung đình

Những viên ngói men hoàng lưu ly. Ảnh: Đỗ Trưởng – TTXVN
Những viên ngói men hoàng lưu ly. Ảnh: Đỗ Trưởng – TTXVN

Xuất thân từ một người làm du lịch nhưng “cơ duyên” đã đưa ông Đặng Uyển ở phường Thuận Hòa, thành phố Huế (tỉnh Thừa Thiên - Huế) gắn bó với xưởng sản xuất ngói gốm và đã phục chế thành công những viên ngói tráng men hoàng lưu ly và thanh lưu ly, một loại ngói được lợp trên mái của các cung điện xưa. Trên hành trình đến với nghề ngói gốm cung đình gặp không ít lần thất bại, nhưng bằng tình yêu nghề và yêu văn hóa truyền thống dân tộc, ông Đặng Uyển đã vực dậy xưởng gốm thành công, tạo ra những viên ngói chất lượng cao, góp phần vào quá trình trùng tu những công trình di tích quan trọng thuộc Quần thể Di tích Cố đô Huế - Di sản Văn hóa Thế giới.

Thừa Thiên - Huế: Người “giữ lửa” lò ngói gốm men Cung đình ảnh 1Ông Đặng Uyển nghiên cứu phục chế những viên ngói cổ. Ảnh: Đỗ Trưởng – TTXVN

Tìm ra “bài thuốc men” cổ

Ấn tượng và nét đặc trưng riêng có ở các công trình kiến trúc cung đình triều Nguyễn hiện nay chính là phần mái ngói hoàng lưu ly và thanh lưu ly. Màu sắc của những viên ngói không chỉ thể hiện cho sự phân biệt quyền lực tối cao của nhà vua, mà còn chứa đựng giá trị thẩm mỹ và triết lý sâu xa.

Theo Tiến sĩ Lê Thị An Hòa, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, lưu ly là tên gọi của viên ngọc quý ở vùng Trung Á và triều Nguyễn đã dùng tên đó để đặt tên cho hai loại ngói hoàng lưu ly (ngói tráng men màu vàng) và thanh lưu ly (ngói tráng men màu xanh lục). Kết cấu của ngói lưu ly cũng chính là loại ngói âm dương trong văn hóa người Việt, thể hiện mối quan hệ giữa trời và đất.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phan Thanh Bình, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học nghệ thuật Huế cho rằng, thông qua loại ngói được lợp cho thấy vị trí, chức năng, tầm quan trọng của mỗi công trình. Cụ thể, những vị trí nhà vua thường ngự sẽ được lợp ngói hoàng lưu ly bởi màu vàng là biểu tượng của Thiên tử, của ánh sáng. Điều này cũng dễ dàng lý giải bởi trong thuyết Ngũ hành vị trí của vua luôn ở trung tâm, ở giữa thiên hạ, vị trí cao nhất và vì vậy mà tất cả những gì liên quan đến nhà vua như trang phục, vật ngự dùng và ngay cả mái ngói trên cung điện cũng đều có màu vàng. Ngược lại, ngói thanh lưu ly với màu xanh lục được lợp ở các mái phụ hoặc trên công trình dành cho quan lại, hoàng thân.

Thừa Thiên - Huế: Người “giữ lửa” lò ngói gốm men Cung đình ảnh 2Những viên ngói làm bằng đất sét được phơi trong xưởng nhiều tuần lễ trước khi được tráng men và nung ở nhiệt độ cao. Ảnh: Đỗ Trưởng – TTXVN

Để làm lên những viên ngói với ý nghĩa biểu tượng cao như vậy, người thợ ở những lò gốm cung đình xưa phải trải qua rất nhiều công đoạn, với những bí quyết riêng có mà đa phần đến thời đại hiện nay đã bị thất truyền, nhất là cách pha chế nước men tạo màu sắc đặc trưng của ngói hoàng lưu ly và thanh lưu ly.

Xưởng sản xuất ngói gốm cổ Huế của ông Đặng Uyển nằm trên một khu đất rộng ở phường Xuân Phú, thành phố Huế. Gần đến Tết Nguyên đán, các lò nung tại xưởng luôn đỏ lửa ngày đêm để kịp cho ra lò những mẻ ngói cung đình cung cấp cho khách hàng gần xa. Tuy nhiên, ít người biết rằng xưởng gốm này từng đứng trước nguy cơ phải giải thể, đóng cửa do sản phẩm không tìm được thị trường đầu ra, phải chất thành từng đống trong nhà kho, nhiều người thợ lành nghề đã phải bỏ xưởng đi tìm công việc khác. Trong thời điểm khó khăn nhất, năm 2015, ông Đặng Uyển đã được giao làm Giám đốc xưởng sản xuất ngói gốm, đó cũng là hành trình vực dậy, tìm ra hướng đi để xưởng chuyên đi sâu sản xuất các loại ngói gốm tráng men cung đình cao cấp.

Thừa Thiên - Huế: Người “giữ lửa” lò ngói gốm men Cung đình ảnh 3Ông Đặng Uyển pha chế bài men bí truyền để tạo lên những viên ngói Cung đình. Ảnh: Đỗ Trưởng – TTXVN

Trong khu vực “bí mật” nhất ở Xưởng sản xuất ngói gốm cổ Huế là phòng pha chế men, chỉ có ông Đặng Uyển và một vài người thợ chính mới có nhiệm vụ làm việc tại đây. Trước đó, từ một người tay ngang chuyển qua lĩnh vực gốm, ông Uyển vừa phải tự học hỏi từ chính những công nhân của mình, vừa đi đến nhiều làng gốm cổ trong nước như làng gốm Bát Tràng ở Hà Nội để “tầm sư học đạo”. Bên cạnh đó, ông cũng tham khảo nhiều tư liệu lịch sử quý từ các nhà nghiên cứu Huế, qua đó đúc rút ra những kinh nghiệm quý báu đối với nghề.

“Bí quyết tạo ra màu vàng và màu xanh lục trên viên ngói cung đình quyết định bởi công thức pha chế men, giống như cách bốc thuốc. Đối với bài thuốc men cung đình là sự kết hợp của chín thành phần, gồm đất sét, đá xay, cao lanh, các loại màu tổng hợp… Tất cả được đong đếm bằng cân tiểu ly, theo một tỷ lệ chuẩn nhất định mới thành công. Chẳng hạn, nước men khi pha chế có màu trắng khi tráng lên viên ngói và nung ở nhiệt độ trên 1.200 độ C sẽ tạo ra màu vàng; tương tự nước men màu đỏ kết hợp ở nhiệt độ cao lại tạo ra màu xanh lục. Khi ra lò các viên ngói còn có những vết chân rạn bên trong nước men, làm cho viên ngói như được phủ thêm lớp màu của thời gian”, ông Đặng Uyển nói.

Thừa Thiên - Huế: Người “giữ lửa” lò ngói gốm men Cung đình ảnh 4Những viên ngói được công nhân làm thu công một cách tỉ mỉ. Ảnh: Đỗ Trưởng – TTXVN

Hiện nay, nhiều công đoạn sản xuất ngói của xưởng đã được đầu tư máy móc hiện đại, kết hợp với bàn tay tài hoa của người thợ thủ công, góp phần nâng cao chất lượng, sự đồng đều của từng viên ngói, qua đó đáp ứng những tiêu chuẩn khắt khe trong quá trình trùng tu di tích. Các lò nung gốm cũng được chuyển đổi từ lò đốt củi sang công nghệ lò nung bằng ga để bảo vệ môi trường.

“Với lò nung bằng ga, người thợ có thể điều khiển được nhiệt độ phù hợp để đất sét và nước men cùng tan chảy thành một khối kết dính trong một thời điểm, qua đó tạo ra những sản phẩm chất lượng tốt nhất, có thể chịu được thời tiết khắc nghiệt nắng nóng, mưa dầm ở xứ Huế. Thời gian nung ngói trong lò kéo dài 24 giờ đồng hồ, sau đó phải mất 3 ngày để nhiệt độ trong lò hạ xuống thấp bằng với nhiệt độ bên ngoài, từ đó mới đưa sản phẩm ra ngoài. Một viên ngói đẹp không chỉ đáp ứng tiêu chuẩn màu men, họa tiết hoa văn mà còn ở tiếng kêu đanh chắc khi gõ nhẹ trên từng viên ngói”, ông Đặng Uyển chia sẻ.

Góp phần “hồi sinh” các di tích

Cố đô Huế là mảnh đất của những di sản vật thể và phi vật thể, với 5 di sản văn hóa thế giới được Tổ chức UNESCO vinh danh, nổi bật nhất là Quần thể Di tích Cố đô Huế. Ngoài ra, địa phương còn có gần 1.000 di tích lịch sử văn hóa, trong đó có 89 di tích cấp quốc gia. Trải qua sự thăng trầm của thời gian, những công trình kiến trúc độc đáo hàng trăm năm tuổi dần bị xuống cấp, đòi hỏi cần có sự trùng tu kịp thời.

Thừa Thiên - Huế: Người “giữ lửa” lò ngói gốm men Cung đình ảnh 5Ông Đặng Uyển (trái) giới thiệu sản phẩm ngói men Cung đình thanh lưu ly và hoàng lưu ly tới khách hàng. Ảnh: Đỗ Trưởng – TTXVN

Những năm gần đây, nhiều công trình kiến trúc quan trọng thuộc Quần thể Di tích Huế đã được trùng tu, tôn tạo, góp phần từng bước lấy lại diện mạo của kinh đô xưa. Các sản phẩm ngói tráng men hoàng lưu ly và thanh lưu ly ở Xưởng sản xuất ngói gốm cổ Huế của ông Đặng Uyển đã được Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế lựa chọn lợp trên mái của nhiều di tích như cửa Ngọ Môn, lăng Gia Long, lăng Tự Đức, lăng Thiệu Trị, lăng Dục Đức, Trường Lang, Nhật Thành Lâu, cầu ngói Thanh Toàn, Bia Quốc học… Hiện tại, Xưởng sản xuất ngói gốm cổ Huế đang cung cấp ngói để trùng tu di tích Đàn Nam Giao và sắp tới là Điện Thái Hòa, một công trình quan trọng bậc nhất trong khu vực Đại Nội.

Trước mỗi dự án nhận cung cấp vật liệu ngói trùng tu cho di tích, ông Đặng Uyển đều tham khảo qua các tư liệu lịch sử, bởi loại ngói hoàng lưu ly và thanh lưu ly thể hiện sự trang trọng, mạnh mẽ, mang phong cách của chủ nhân ở triều đại đó. Đồng thời, những viên ngói này còn chứa đựng tinh thần tự chủ, tự lập đối mặt với gió mưa và ánh men của những viên ngói tôn thêm sự vững chãi cho mỗi công trình.

“Điện Thái Hòa là nơi nhà vua ngự ngai vàng, tổ chức các buổi thiết triều, đại lễ và nghi thức quan trọng, ghi dấu lịch sử thăng trầm của 13 vị Hoàng đế triều đại nhà Nguyễn. Do sự xuống cấp nghiêm trọng của công trình, tháng 11/2021, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế đã khởi công Dự án Bảo tồn, tu bổ tổng thể di tích Điện Thái Hòa, kéo dài khoảng bốn năm. Với tầm quan trọng của công trình này nên công tác nghiên cứu tư liệu và tuyển chọn nguyên vật liệu được xưởng chuẩn bị từ sớm để có thể cung cấp sản phẩm ngói và họa tiết trang trí bằng gốm tráng men chất lượng cao nhất cho công trình. Theo tính toán ban đầu, xưởng sẽ phải mất một năm để cho ra lò những viên ngói hoàng lưu ly và thanh lưu ly, cùng nhiều hoa văn họa tiết trang trí để phục vụ trùng tu Điện Thái Hòa”, ông Đặng Uyển nói.

Thừa Thiên - Huế: Người “giữ lửa” lò ngói gốm men Cung đình ảnh 6Những viên ngói men hoàng lưu ly. Ảnh: Đỗ Trưởng – TTXVN

Trong kiến trúc ở các cung điện xưa, phần mái có ý nghĩa rất quan trọng, ngoài chức năng bao che, phần mái chính là diện mạo, sắc thái và điểm nhấn của công trình. Trong khu vực Hoàng Thành Huế, ngói hoàng lưu ly được lợp cho những công trình ở trục Trung đạo và Dũng đạo, còn ngói thanh lưu ly được lợp trên những công trình phụ xung quanh. Mái của các cung điện sẽ được lợp bởi bốn lớp ngói khác nhau, lớp cuối cùng giáp với phần rui gỗ là lớp ngói liệt chiếu được tráng men vàng với chức năng trang trí cho mặt dưới của hệ thống mái, tiếp đến là lớp ngói liệt để tạo mặt phẳng cho mái, bên ngoài là lớp ngói âm xếp chồng lên nhau như máng nước nhỏ để thoát nước mưa và gắn kết trên cùng là lớp ngói ống dương.

Ông Nguyễn Thế Sơn, Phó Giám đốc Ban Quản lý dự án Di tích Cố đô Huế cho biết, mái ngói giữ chức năng che chắn cho hệ thống kết cấu gỗ của công trình di tích. Nếu những viên ngói lợp chất lượng không đảm bảo, trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt của Huế, nắng nóng gay gắt, mùa mưa kéo dài sẽ là tác nhân dẫn đến làm bong tróc lớp men trên mặt ngói, khiến cho nước mưa lâu ngày thấm dột làm công trình nhanh xuống cấp. Trước đây, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế có một lò ngói gốm thủ công, nhưng quá trình hoạt động rơi vào suy thoái phải đóng cửa. May mắn hiện nay tại thành phố Huế có Xưởng sản xuất ngói gốm cổ Huế chuyên cung cấp các sản phẩm ngói gốm tráng men chất lượng cho các dự án trùng tu của đơn vị.

Thừa Thiên - Huế: Người “giữ lửa” lò ngói gốm men Cung đình ảnh 7Công đoạn tráng men từng viên ngói trước khi đưa vào lò nung. Ảnh: Đỗ Trưởng – TTXVN

Trung bình mỗi năm, Xưởng sản xuất ngói gốm cổ Huế đưa ra thị trường từ 5 – 7 triệu viên ngói tráng men các loại. Ngoài cung cấp vật liệu trùng tu tại địa phương, khoảng 40% trong số này được tiêu thụ tại nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước. Thời gian gần đây, nhiều dự án đầu tư xây dựng các khu nghỉ dưỡng cao cấp ở ven biển miền Trung cũng đã tìm đến và đặt mua sản phẩm ngói cung đình của xưởng. Ông Mark Smith, Chủ dự án xây dựng một khu nghỉ dưỡng tại thành phố Đà Nẵng cho biết: “Khu nghỉ dưỡng của chúng tôi lấy cảm hứng từ phong cách kiến trúc ở Lăng Minh Mạng. Để chuẩn bị thực hiện dự án, chúng tôi đã đi tìm hiểu nhiều xưởng sản xuất gốm ở khắp nơi và thấy rằng những viên ngói ở Xưởng sản xuất ngói gốm cổ Huế có nước men rất đẹp giống như vật liệu được trang trí trên Lăng Minh Mạng, cùng đội ngũ thợ lành nghề và một quy trình sản xuất thân thiện với môi trường. Đó là điều chúng tôi rất ấn tượng và sẽ là yếu tố để chúng tôi cân nhắc hợp tác đặt mua sản phẩm phục vụ cho công trình”.

Trên hành trình “giữ lửa” lò ngói gốm men cung đình, ông Đặng Uyển cũng có không ít những trăn trở để mở rộng thị trường, không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, tìm nguồn nguyên liệu đất sét bền vững hay công việc truyền nghề… Nhưng trên tất cả, động lực lớn nhất cũng là niềm hạnh phúc và tự hào đối với người đàn ông ngoài tuổi lục tuần này là được ngắm nhìn những viên ngói hoàng lưu ly và thanh lưu ly của xưởng được lợp trên những mái cung điện, lăng tẩm rêu phong, góp phần giữ gìn “hồn cốt” của di sản Huế mà tiền nhân để lại cho thế hệ hôm nay và mai sau.

Đỗ Trưởng

(TTXVN)

Có thể bạn quan tâm

Độc đáo nghề làm mão, mặt nạ của đồng bào Khmer

Độc đáo nghề làm mão, mặt nạ của đồng bào Khmer

Đó là chủ đề trưng bày chuyên đề do Bảo tàng tỉnh Đắk Lắk phối hợp với Bảo tàng tỉnh Vĩnh Long tổ chức, ngày 11/9. Trưng bày giới thiệu đến công chúng những giá trị đặc sắc của nghề làm mão, mặt nạ truyền thống - di sản văn hóa gắn với đời sống tín ngưỡng và các loại hình nghệ thuật biểu diễn dân gian của đồng bào Khmer.

Nhịp cầu nối đôi bờ biên giới với những câu chuyện phối hợp và sẻ chia

Nhịp cầu nối đôi bờ biên giới với những câu chuyện phối hợp và sẻ chia

Tiếng hát “Việt Nam - Trung Hoa” vang lên trong buổi giao lưu tại phường Hà Giang 1, tỉnh Tuyên Quang, mở đầu cho những câu chuyện giữa cán bộ làm nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biên giới hai nước. Phía sau những tiết mục văn nghệ, trận bóng bàn và hành trình tìm hiểu các điểm đến của địa phương là một mối quan hệ được bồi đắp bằng nhiều năm phối hợp, chia sẻ và đồng hành.

Gìn giữ bản sắc văn hóa, tạo động lực phát triển vùng biên

Gìn giữ bản sắc văn hóa, tạo động lực phát triển vùng biên

Thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, tỉnh Lạng Sơn xác định, xây dựng và phát triển nền văn hóa toàn diện, giàu bản sắc, nhân văn, khoa học, hiện đại, trở thành nền tảng vững chắc, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực cho phát triển nhanh và bền vững.

Khai hội truyền thống Đền Minh Lương

Khai hội truyền thống Đền Minh Lương

Trong tiết thu dịu mát, tiếng trống khai hội vang lên giữa không gian cổ kính của Đền Minh Lương, xã Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang, mở đầu những ngày hội đậm sắc màu văn hóa, tín ngưỡng.

Đặc sắc Lễ hội Trung Nguyên Kiến Tiêu Nghinh ông Quan Thánh Đế Quân xuất du

Đặc sắc Lễ hội Trung Nguyên Kiến Tiêu Nghinh ông Quan Thánh Đế Quân xuất du

Sáng 6/9 (tức ngày 25/7 âm lịch), tại phường Phan Thiết (tỉnh Lâm Đồng), đoàn Quan Thánh Đế Quân xuất du diễn ra trong sự thích thú của đông đảo người dân địa phương và du khách. Đây là phần hội quan trọng và đặc sắc nhất của Lễ hội Trung Nguyên Kiến Tiêu Nghinh ông Quan Thánh Đế Quân xuất du lần thứ 15 - năm 2026.

'Đánh thức' nếp nhà xưa và các giá trị văn hóa bản địa

'Đánh thức' nếp nhà xưa và các giá trị văn hóa bản địa

Nằm nép mình bên những ghềnh đá cổ ven biển Sa Huỳnh, làng Gò Cỏ (phường Sa Huỳnh, tỉnh Quảng Ngãi) đang trở thành điểm đến hấp dẫn du khách trong và ngoài nước nhờ mô hình du lịch cộng đồng gắn liền với việc bảo tồn không gian kiến trúc truyền thống và các giá trị văn hóa bản địa.

Thắt chặt tình đoàn kết, hữu nghị giữa nhân dân khu vực biên giới Việt Nam - Lào

Thắt chặt tình đoàn kết, hữu nghị giữa nhân dân khu vực biên giới Việt Nam - Lào

Từ ngày 31/8 - 2/9, tại khu vực Cửa khẩu Quốc tế Lóng Sập, xã Lóng Sập diễn ra các hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch thu hút đông đảo du khách và nhân dân biên giới Việt Nam và Lào tham gia. Đây là sự kiện trong chuỗi hoạt động thuộc Tuần Văn hóa - Du lịch Mộc Châu năm 2026, do Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La tổ chức.

Rộn ràng Tết Độc lập ở các bản làng vùng cao Điện Biên

Rộn ràng Tết Độc lập ở các bản làng vùng cao Điện Biên

Tết Độc lập 2/9 không chỉ rộn ràng ở các đô thị mà còn lan tỏa đến những bản làng vùng cao Điện Biên. Trong sắc cờ đỏ, đồng bào các dân tộc khoác lên mình trang phục truyền thống, hòa vào các hoạt động văn hóa, vui hội và đón du khách, cùng lan tỏa niềm tự hào về quê hương, đất nước.

Lai Châu: Trích đoạn Lễ hội Gầu tào văn hóa dân tộc Mông chào mừng Tết Độc lập

Lai Châu: Trích đoạn Lễ hội Gầu tào văn hóa dân tộc Mông chào mừng Tết Độc lập

Trong khuôn khổ các hoạt động chào mừng Tết Độc lập năm 2026, ngày 2/9/2026, tại Không gian văn hóa Mông thuộc sân vận động xã Than Uyên, Bảo tàng tỉnh Lai Châu phối hợp với UBND xã Than Uyên tổ chức trình diễn cúng cây nêu trích đoạn trong Lễ hội Gầu tào của dân tộc Mông. Đây là một trong những điểm nhấn đặc sắc, thu hút đông đảo nhân dân và du khách thập phương đến tham quan, trải nghiệm. 

Gần 3.000 người tham gia giải chạy “Đón bình minh trên biển” vào sáng 2/9

Gần 3.000 người tham gia giải chạy “Đón bình minh trên biển” vào sáng 2/9

Sáng 2/9, tại Quảng trường Tháp Nghinh Phong (phường Tuy Hòa), Giải chạy Tuy Hòa bán marathon 2026 “Đón bình minh trên biển” do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk tổ chức đã hoàn thành các phần thi. Giải có sự tham gia của gần 3.000 vận động viên, xuất phát vào lúc 4 giờ sáng 2/9 với hành trình đi qua các tuyến đường ở phường, kết nối các địa điểm du lịch như Tháp Nghinh Phong, Tháp Nhạn và khu vực biển Tuy Hòa.

Lai Châu chào mừng Tết Độc lập

Lai Châu chào mừng Tết Độc lập

Sáng 2/9/2026, tại Sân vận động xã Than Uyên, tỉnh Lai Châu diễn ra Lễ thượng cờ chào mừng Tết Độc lập năm 2026 với sự tham gia của hơn 2.000 cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, học sinh, nhân dân các dân tộc tỉnh Lai Châu cùng du khách. Sau lễ thượng cờ là các hoạt động múa sạp, diễu hành đường phố mang đậm sắc màu văn hóa các dân tộc vùng cao Lai Châu.

Mộc Châu - Tiếng gọi mùa yêu

Mộc Châu - Tiếng gọi mùa yêu

Nằm trong chuỗi các hoạt động Tuần Văn hóa - Du lịch Mộc Châu năm 2026, tối 1/9, tại Quảng trường 8/5 (phường Mộc Châu), tỉnh Sơn La tổ chức Chương trình nghệ thuật với chủ đề "Mộc Châu - Tiếng gọi mùa yêu", chào mừng kỷ niệm 81 năm ngày "Tết Độc lập" - Quốc khánh 2/9. Chương trình thu hút đông đảo du khách và nhân dân các dân tộc tỉnh Sơn La đến dự.

Về nơi Tết Độc lập đậm sắc Mường

Về nơi Tết Độc lập đậm sắc Mường

Trong không khí đón mừng Tết Độc lập 2/9, đồng bào Mường ở Lạc Sơn, tỉnh Phú Thọ lại sum họp, tổ chức các hoạt động theo phong tục được duy trì qua nhiều thế hệ. Từ bữa cơm đoàn tụ, những món quà biếu cha mẹ đến bánh uôi, tiếng chiêng, lời hát đối, những phong tục ấy góp phần tạo nên nét văn hóa đặc sắc trong ngày Tết của đồng bào Mường nơi đây.

Tiếng nhạc ngũ âm giữ hồn văn hóa Khmer ở An Giang

Tiếng nhạc ngũ âm giữ hồn văn hóa Khmer ở An Giang

Với đồng bào Khmer Nam Bộ, nhạc ngũ âm không chỉ góp phần tạo nên không khí trang nghiêm trong các nghi lễ Phật giáo hay rộn ràng trong những lễ hội truyền thống, mà còn là một phần văn hóa được gìn giữ và trao truyền qua nhiều thế hệ. Tại các ngôi chùa Khmer ở An Giang, những lớp học nhạc ngũ âm đang giúp thế hệ trẻ hiểu, yêu và tiếp tục gìn giữ những thanh âm đặc trưng của dân tộc mình.

Sức trẻ gìn giữ âm nhạc truyền thống Tây Nguyên

Sức trẻ gìn giữ âm nhạc truyền thống Tây Nguyên

Phía Tây của tỉnh Quảng Ngãi là nơi mang đậm nét văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên; trong đó âm nhạc đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống của bà con nhân dân nơi đây.