Về 'Ta lêu' nghe tâm tình người H’rê

Giữa núi rừng Ba Vì, tỉnh Quảng Ngãi, một quán cà phê mang tên “Ta lêu” đang mở ra không gian giao lưu văn hóa độc đáo, nơi những làn điệu dân ca H’rê đến gần hơn với giới trẻ và du khách.

Anh Lê Quang Đạt trang trí quán cà phê Ta lêu của mình.
Anh Lê Quang Đạt trang trí quán cà phê Ta lêu của mình.

Từ sáng kiến của một người dân địa phương, tiếng hát truyền thống có thêm cơ hội ngân vang trong đời sống thường ngày, góp phần gìn giữ bản sắc dân tộc và tạo điểm nhấn cho du lịch cộng đồng.

Anh Lê Quang Đạt (41 tuổi), trú thôn Giá Vực, xã Ba Vì đặt tên quán cà phê của mình là Ta lêu, gắn với làn điệu dân ca đặc trưng của người H’rê. Dân ca Ta lêu đã được công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể quốc gia. Vì vậy, lựa chọn tên gọi này cũng thể hiện mong muốn của anh trong việc đưa giá trị văn hóa quê hương đến gần hơn với công chúng.

Anh Đạt cho hay, anh muốn tạo dựng một địa điểm khác biệt, nơi mọi người có thể gặp gỡ, trò chuyện và cùng hát cho nhau nghe. Từ ý tưởng ấy, quán không chỉ phục vụ nhu cầu thưởng thức cà phê mà còn trở thành điểm hẹn để người dân và du khách kết nối qua âm nhạc, khám phá nét đẹp văn hóa của đồng bào H’rê.

Khách đến với quán cà phê Ta lêu sẽ được các nghệ nhân H’rê giới thiệu, truyền dạy cách đánh chiêng.
Khách đến với quán cà phê Ta lêu sẽ được các nghệ nhân H’rê giới thiệu, truyền dạy cách đánh chiêng.

Không cầu kỳ trong cách bài trí, quán tạo thiện cảm bởi sự giản dị, gần gũi với cảnh quan núi rừng. Không gian thoáng đãng đem lại cảm giác thư thái cho khách dừng chân; đồng thời tạo nên nét riêng giữa những điểm đến vùng cao.

Anh Trần Tấn Cảnh, du khách đến từ thành phố Đà Nẵng cho biết, anh khá bất ngờ khi tìm thấy một địa điểm mang đậm dấu ấn văn hóa địa phương trong hành trình của mình. “Không gian quán rất tự nhiên, thoáng đãng, giúp tinh thần phấn chấn, thư thái hơn. Quán Ta lêu đã cho tôi một trải nghiệm khó quên khi rời xa phố thị ồn ào”, anh Cảnh chia sẻ.

Điểm nhấn của quán là những buổi giao lưu văn nghệ với sự tham gia của các nghệ nhân địa phương. Qua tiếng hát dân ca và nhịp cồng chiêng, những giá trị văn hóa H’rê được giới thiệu trực tiếp đến người thưởng thức trong không khí gần gũi, tự nhiên. Nhờ đó, di sản không còn là khái niệm xa xôi mà trở thành trải nghiệm sống động, khơi gợi sự tò mò và tình yêu văn hóa truyền thống, nhất là ở người trẻ.

Khách đến với quán cà phê Ta lêu sẽ được các nghệ nhân H’rê giới thiệu, truyền dạy cách đánh chiêng.
Khách đến với quán cà phê Ta lêu sẽ được các nghệ nhân H’rê giới thiệu, truyền dạy cách đánh chiêng.

Bà Phạm Thị Thu, trú xã Ba Vì bày tỏ niềm vui khi thấy các bạn trẻ chăm chú lắng nghe những làn điệu dân ca do bà thể hiện. Với những người dành nhiều năm gìn giữ vốn văn hóa của dân tộc, sự đón nhận ấy là động lực để bà tiếp tục trao truyền cho thế hệ sau. Bởi vậy, những không gian giao lưu như Ta lêu không chỉ tạo cơ hội cho nghệ nhân biểu diễn mà còn góp phần nối dài mạch truyền thống trong đời sống hôm nay.

Cùng với việc bảo tồn cảnh quan, xã Ba Vì quan tâm phát huy giá trị văn hóa địa phương để phát triển du lịch cộng đồng. Trong định hướng này, người dân giữ vai trò quan trọng khi vừa là chủ thể lưu giữ di sản, vừa trực tiếp tạo ra những sản phẩm trải nghiệm mang dấu ấn riêng của quê hương.

Ông Đặng Văn Tĩnh, Chánh Văn phòng UBND xã Ba Vì cho rằng, người dân cần chủ động tìm hiểu, phát huy giá trị văn hóa dân tộc và tích cực tham gia phát triển du lịch cộng đồng. Theo ông, mô hình quán cà phê Ta lêu là một sáng kiến xuất phát từ thực tiễn, góp phần làm phong phú điểm đến, tạo thêm trải nghiệm cho du khách và quảng bá nét đẹp văn hóa địa phương.

Các nghệ nhân H’rê biểu diễn hát dân ca Ta lêu, đánh cồng chiêng phục vụ khách tại quán cà phê Ta lêu.
Các nghệ nhân H’rê biểu diễn hát dân ca Ta lêu, đánh cồng chiêng phục vụ khách tại quán cà phê Ta lêu.

Từ một ý tưởng kinh doanh gắn với tình yêu văn hóa quê hương, Ta lêu cho thấy di sản có thể được gìn giữ bằng những cách làm gần gũi, phù hợp với nhịp sống hiện đại. Khi cộng đồng chủ động chung tay, nghệ nhân tiếp tục trao truyền và thế hệ trẻ đón nhận, những câu hát H’rê sẽ có thêm không gian cất lên, không chỉ lưu giữ ký ức của núi rừng mà còn trở thành nguồn lực góp phần phát triển du lịch, lan tỏa bản sắc văn hóa Ba Vì đến với bạn bè gần xa.

Bài và ảnh: Lê Phước Ngọc/TTXVN
Dân tộc Hrê

Tên tự gọi: Hrê, trước kia thường gắn với tên sông sở tại như: "người Krê" - sông Krế ở Sơn Hà; "người Hrê" - sông Hrê ở Ba Tơ; "người nước Ðinh" - sông Ðinh ở An Lão)...

Tên gọi khác: Chăm Rê, Chom, Thượng Ba Tơ, Mọi Luỹ, Mọi Sơn Phòng, Mọi Ðá Vách, Chăm Quảng Ngãi, Mọi Chòm, Rê, Màn Thạch Bích.

Dân số: 127.420 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (Ngữ hệ Nam Á). Từ thời kỳ trước năm 1975, chữ viết ra đời bằng cách dùng hệ thống kí tự La-tinh để phiên âm, được sử dụng rộng rãi, nhưng nay đã bị mai một.

Lịch sử: Người Hrê thuộc số cư dân sinh tụ rất lâu đời ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên.

Hoạt động sản xuất: Phần lớn người Hrê làm ruộng nước là chính, chỉ có một bộ phận sống chủ yếu nhờ rẫy. Lối canh tác rẫy phát - đốt - chọc trỉa, với bộ nông cụ đơn giản gồm rìu, dao quắm, gậy chọc lỗ, cái nạo cỏ, khi thu hoạch thì dùng tay tuốt lúa. Cách thức làm ruộng tương tự như ở người Việt vùng nam Trung bộ (dùng cày, bừa có đôi trâu kéo, biết gieo mạ và cấy, dùng liềm và vằng để gặt...) nhưng còn thấy dấu vết của tập quán trồng lúa rẫy.

Từng gia đình thường nuôi trâu, lợn, chó, gà. Nghề thủ công chỉ có đan lát và dệt vải nhưng nay cũng không phát triển, nhất là nghề dệt chỉ còn ở vài nơi. Việc giao lưu hàng hoá thường theo hình thức trao đổi vật trực tiếp. Hái lượm, săn bắt và đánh cá cung cấp nguồn thức ăn quan trọng cho mỗi gia đình.

Ăn: Người Hrê thường ngày ăn cơm tẻ, ngày lễ tết có thêm cơm nếp. Thức ăn chủ yếu là những thứ kiếm được và muối ớt, khi có cúng bái thì thịt con vật hiến sinh được dùng làm đồ nhắm và cải thiện bữa ăn. Thức ăn đựng trong các vật làm bằng mo cau. ¡n bốc. Thức uống có nước lã, nước chè xanh, rượu cần (nay rượu cất khá thông dụng). Tập quán hút thuốc lá và ăn trầu cau phổ biến.

Ở: Người Hrê sống chủ yếu ở miền tây tỉnh Quảng Ngãi (các huyện Sơn Hà, Ba Tơ, Minh Long) và tỉnh Bình Ðịnh (huyện An Lão), một số ít ở tỉnh Kon Tum (huyện Kon Plông). Nhà sàn có cửa ra vào ở mỗi đầu và một mặt bên, có 2 hàng cột tạo thành 2 vì cột, trên đỉnh đốc có hình cặp sừng thú, vách nghiêng phía trên ra ngoài. Mặt sàn thường hơi cao một chút về bên không đặt bếp đun, nhằm tạo thế nằm thoải mái: chân thấp hơn đầu. Nhà ở trong làng đều dựng ngang triền đất dốc, tránh để đòn nóc chĩa hướng chắn ngang dòng chảy của sông suối.

Ngày nay, hầu hết người Hrê mặc theo kiểu người Việt: tuy nhiều phụ nữ còn dùng váy nhưng không phải loại vải sợi bông tự làm ra với những dải hoa văn ở hai đầu ống váy và khi mặc không tạo thành hai tầng như xưa.

Mặc: Theo nếp cũ, đàn ông đóng khố, chít khăn, khi dự lễ hội hoặc đi xa thì mặc áo; đàn bà có váy ống mặc kiểu hai tầng. Có áo, khăn trùm đầu. Những vòng đeo trang sức làm bằng đồng bạc, nhôm và chuỗi cườm; riêng nam giới không trang sức ở tai.

Phương tiện vận chuyển: Người Hrê quen dùng gùi sau lưng, mỗi quai gùi quàng giữ vào một vai: chở thóc gạo thì dùng gùi đan dày, chở củi, sắn thì có gùi mắt thưa, đàn ông đi rừng hay đi trận có riêng loại gùi như chiếc túi hoặc gùi ba ngăn. Ngoài ra, người Hrê còn gánh lúa khi gặt và đội đồ vật trên đầu.

Quan hệ xã hội: Già làng có uy tín và ảnh hưởng lớn. Trước kia sự phân hoá xã hội đã khá sâu sắc, chế độ tôi tớ - đặc biệt là đi ở vì nợ - có phần khắc nghiệt hơn nhiều tộc Thượng khác, hiện tượng tranh chiếm và tập trung ruộng đất (theo đó là sự xác lập quyền thế của một số cá nhân) đã tương đối phát triển. Tuy vậy, quan hệ trong làng vẫn thể hiện tinh thần cộng đồng công xã.

Cưới xin: Cư trú phía chồng hay phía vợ là tuỳ thoả thuận giữa hai gia đình, phần đông sẽ dựng nhà ở riêng sau khi có con đầu lòng. Ðám cưới có nghi thức dâu và rể kết gắn với nhau thông qua việc trao bát rượu, miếng trầu cho nhau hay quàng chung một vòng dây sợi... Vợ goá có thể lấy tiếp em chồng, chồng có thể lấy cả em vợ. Con cô - con cậu, con gì - con già, con có chung mẹ hoặc cha đều không được lấy nhau.

Sinh đẻ: Việc sinh đẻ diễn ra bên cạnh bếp lửa trong nhà, có là đỡ hộ sinh, cắt rốn bằng dao, cái rau được gói trong mo cau rồi đem bỏ trong rừng hoặc chôn cạnh nhà. Sản phụ nghỉ ngơi vài chục ngày, kiêng ăn cá niêng, trứng, chuối, thịt gà trắng... Ðứa bé đầy tháng mới làm lễ đặt tên.

Ma chay: Quan tài độc mộc có dáng hao hao chiếc thuyền. Người chết được quàn tại nhà từ 1 đến 3 ngày rồi chôn trong bãi mộ của làng. Mộ đắp thành gò dài trên dựng nhà mồ có nóc mái làm như nhà ở. Tang gia "chia của" tựa hồ cho người chết đi ở riêng: từ đồ ăn thức uống cho đến vật dụng trong nhà, từ trang phục, công cụ lao động... đều có ở mộ.

Thờ cúng: Người Hrê có nhiều kiêng cữ và lễ thức tôn giáo, xuất phát từ quan niệm mọi vật đều có hồn hay ma và con người bị các lực lượng siêu nhiên chi phối. Khi ốm đau, rủi ro, khi làm nhà, mang thai, đẻ khó, có người chết, khi gieo cấy và gặt hái, khi gieo trỉa và tuốt lúa, khi đưa thóc lên kho và lần đầu lấy thóc về ăn... đều cúng bái. Cộng đồng làng chỉ tổ chức cúng cầu an, tránh dịch bệnh, còn lại đều là các lễ cúng của gia đình.

Lễ tết: Lễ hội có đâm trâu là lớn nhất, dù đó là lễ của làng hay một nhà cũng đông vui. Hàng năm, người Hrê ăn tết vào khoảng tháng 10, sau khi thu hoạch lúa, nay nhiều làng theo tết Nguyên đán. Ngày tết có cúng cho trâu và lợn, cầu sinh sôi, cúng mời tổ tiên và cúng sức khoẻ cho mọi người trong nhà; có bánh gói bằng gạo nếp, rượu, thịt... Dịp tết làng làm lễ cúng tập thể cầu mong mưa thuận, đủ nước.

Lịch: Cách tính tương tự âm lịch của người Việt. Trong tháng, phân biệt ngày tốt, ngày xấu và chọn ra những ngày nên làm việc này, không nên làm việc kia.

Văn nghệ: Nhạc cụ thường dùng là bộ chiêng ba chiếc, bộ cồng ba chiếc, trống, các loại đàn ống tre hoặc có vỏ bầu làm hợp âm, sáo, nhị, đàn môi, nữ giới chơi bộ ống vỗ hai chiếc. Dân ca phổ biến nhất là điệu Katê và Ka choi. Truyện cổ (Hmon) được lưu truyền như một vốn quý trong văn hoá dân tộc, gồm những đề tài khác nhau. Các mô típ hoa văn hình học dệt trên vải và thể hiện trên đồ đan cũng mang tính truyền thống lâu đời.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Hrê

Có thể bạn quan tâm

Văn hóa là sức mạnh mềm quốc gia trong kỷ nguyên mới

Văn hóa là sức mạnh mềm quốc gia trong kỷ nguyên mới

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã xác định phát triển nguồn lực con người và phát triển văn hóa được đặt trong nhóm nhiệm vụ trọng tâm, nhằm biến văn hóa thành nền tảng tỉnh thần, sức mạnh nội sinh và động lực to lớn cho phát triển nhanh, bền vững đất nước.

Bảo tồn, phát huy giá trị di sản gốm Chăm

Bảo tồn, phát huy giá trị di sản gốm Chăm

Ngày 29/11/2022, Nghệ thuật làm gốm của người Chăm được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Sau gần 4 năm, vấn đề đặt ra không còn chỉ là quảng bá danh hiệu, mà là phải lượng hóa được sức sống thực sự của nghề, nhận diện những nguy cơ và chứng minh hiệu quả của các giải pháp bảo vệ.

Sẵn sàng cho Lễ hội Văn hóa, Du lịch Mường Lò rực rỡ, văn minh

Sẵn sàng cho Lễ hội Văn hóa, Du lịch Mường Lò rực rỡ, văn minh

Từ ngày 15 - 21/10, tại Nghĩa Lộ (tỉnh Lào Cai) sẽ diễn ra Lễ hội Văn hóa, Du lịch Mường Lò năm 2026. Đêm khai mạc vào tối 16/10 với chương trình nghệ thuật đặc sắc “Xòe Thái - Trọn một vòng yêu” được kỳ vọng là điểm nhấn hội tụ sắc màu Tây Bắc. 

Cao Bằng quảng bá làng nghề truyền thống tới du khách

Cao Bằng quảng bá làng nghề truyền thống tới du khách

Được tổ chức vào các ngày cuối tuần tại phố đi bộ Kim Đồng, Tuần trải nghiệm làng nghề truyền thống “Bàn tay người Cao Bằng” mang đến cho người dân và du khách cơ hội khám phá, trải nghiệm trực tiếp các nét văn hóa độc đáo cùng kỹ thuật chế tác thủ công tinh xảo.

Triển lãm 'Sắc màu văn hóa Chăm', trải nghiệm tour di sản tại Lâm Đồng

Triển lãm 'Sắc màu văn hóa Chăm', trải nghiệm tour di sản tại Lâm Đồng

Chào mừng Lễ hội Katê 2026, chuỗi hoạt động văn hóa dân gian Chăm vừa khai mạc ngày 11/10 tại Lâm Đồng với hơn 1.500 hiện vật gốc cùng các màn trình diễn nghề truyền thống. Đặc biệt, đây là lần đầu tiên địa phương đưa vào vận hành tour tham quan kết nối Đền thờ Pô Nít và làng gốm Bình Đức.

Lễ hội cốm Thuận Hòa, nơi hòa mình vào văn hóa Tày

Lễ hội cốm Thuận Hòa, nơi hòa mình vào văn hóa Tày

Chiều 10/10, UBND xã Thuận Hòa (Tuyên Quang) đã tổ chức Lễ hội Cốm - Hương cốm sắc thu năm 2026, thu hút đông đảo người dân và du khách tham gia. Lễ hội là dịp tôn vinh nghề làm cốm truyền thống của đồng bào dân tộc Tày, góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa và quảng bá sản phẩm đặc trưng của địa phương.

Độc đáo Lễ hội Katê của đồng bào Chăm theo đạo Bàlamôn

Độc đáo Lễ hội Katê của đồng bào Chăm theo đạo Bàlamôn

Sáng 10/10, Lễ hội Katê năm 2026 của đồng bào Chăm theo đạo Bàlamôn tỉnh Lâm Đồng đã khai mạc tại di tích tháp Pô Sah Inư, phường Phú Thủy, thu hút hàng nghìn người dân, du khách trong và ngoài nước tham quan, tìm hiểu nét văn hóa độc đáo này.

Rước y trang lễ Katê - Nét đẹp văn hóa của đồng bào Chăm

Rước y trang lễ Katê - Nét đẹp văn hóa của đồng bào Chăm

Qua mỗi mùa Katê, những bộ y trang thiêng lại được đồng bào Raglai trao cho cộng đồng Chăm để thực hiện nghi lễ truyền thống. Đây cũng là minh chứng sinh động cho mối quan hệ gắn bó lâu đời giữa hai cộng đồng Chăm và Raglai trên vùng đất Nam Trung Bộ.

Giữ mạch nguồn văn hóa Mông ở Điện Biên

Giữ mạch nguồn văn hóa Mông ở Điện Biên

Là một trong ba dân tộc có dân số đông nhất tỉnh Điện Biên, đồng bào Mông sinh sống chủ yếu ở các vùng núi cao và vẫn gìn giữ nhiều giá trị văn hóa đặc sắc, từ tiếng khèn, trang phục truyền thống, nghề thủ công đến những phong tục, lễ hội. Trong nhịp sống hôm nay, những giá trị ấy đang tiếp tục được trao truyền và phát huy, góp phần làm nên bản sắc văn hóa riêng có của Điện Biên.

Lãnh đạo Cần Thơ thăm, chúc mừng đồng bào Khmer dịp lễ Sene Dolta

Lãnh đạo Cần Thơ thăm, chúc mừng đồng bào Khmer dịp lễ Sene Dolta

Chiều 2/10, nhân dịp lễ Sene Dolta năm 2026 của đồng bào Khmer, đoàn công tác của thành phố Cần Thơ do Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Cần Thơ Đồng Văn Thanh làm trưởng đoàn đến thăm Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Thạnh Phú cùng Chùa Prek On Đớk (Cần Đước) tại xã Nhu Gia.

Giữ hồn văn hóa Tây Nguyên từ những người trẻ

Giữ hồn văn hóa Tây Nguyên từ những người trẻ

Giữa nhịp sống hiện đại, những giai điệu truyền thống ở phía Tây Quảng Ngãi đang được các nghệ sĩ trẻ nỗ lực gìn giữ và truyền lại cho thế hệ mai sau. Từ những buôn làng, âm nhạc đang tiếp tục được trao truyền bằng tình yêu và niềm tự hào văn hóa dân tộc.