Nhân dịp Tết cổ truyền Chôl Chnăm Thmây và Bunpimay năm 2026, chiều 9/4, Tỉnh đoàn An Giang tổ chức họp mặt sinh viên Campuchia - Lào và cán bộ Đoàn, Hội, Đội người dân tộc Khmer trong tỉnh.
Tại buổi họp mặt, Phó Bí thư Tỉnh đoàn, Chủ tịch Hội đồng Đội tỉnh An Giang Dư Phạm Hữu Khuyến chúc các bạn sinh viên Campuchia, Lào đang học tập tại An Giang, các anh, chị cán bộ Đoàn, Hội, Đội người dân tộc Khmer cùng với người thân và gia đình đón Tết Chôl Chnăm Thmây và Bunpimay năm 2026 thật ấm áp, vui tươi, hạnh phúc và trọn vẹn nghĩa tình.
Phó Bí thư Tỉnh đoàn An Giang cho biết, thời gian qua, lãnh đạo các cấp, ngành trong toàn tỉnh, đặc biệt là Tỉnh đoàn, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam và Hội Sinh viên Việt Nam tỉnh, luôn quan tâm, chăm lo cho các bạn sinh viên Campuchia, Lào đang học tập tại An Giang cũng như các cán bộ Đoàn, Hội, Đội và thanh niên người dân tộc Khmer bằng nhiều hoạt động thiết thực, ý nghĩa. Các chương trình giao lưu văn hóa giữa bốn dân tộc Kinh - Chăm - Hoa - Khmer; các hoạt động tuyên truyền chủ trương, chính sách; tổ chức họp mặt, thăm hỏi, tặng quà dịp lễ, Tết; hay các hoạt động an sinh xã hội như khám bệnh, phát thuốc, chăm lo thiếu nhi… đã góp phần tạo nên một môi trường học tập, rèn luyện đầy nghĩa tình và gắn kết.
Chính sự quan tâm đó, cùng với sự đồng hành của Ban Giám hiệu các trường đã giúp các bạn sinh viên Campuchia, Lào yên tâm học tập, từng bước trưởng thành, tích lũy kiến thức và kỹ năng để sau này trở về xây dựng quê hương. Đồng thời, các bạn cũng chính là những nhịp cầu hữu nghị, góp phần thắt chặt hơn nữa mối quan hệ đoàn kết, gắn bó giữa ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia.
Ban Thường vụ Tỉnh đoàn ghi nhận và biểu dương những đóng góp tích cực của các anh, chị cán bộ Đoàn, Hội, Đội người dân tộc Khmer trong thời gian qua. Các anh, chị đã không ngừng nỗ lực, sáng tạo trong tổ chức các phong trào, chăm lo, giáo dục thanh thiếu nhi, góp phần quan trọng vào công tác đoàn kết, tập hợp thanh niên và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Anh Dư Phạm Hữu Khuyến mong muốn thời gian tới các bạn sinh viên Campuchia, Lào sẽ tiếp tục nỗ lực học tập, rèn luyện thật tốt, phát huy vai trò là cầu nối đoàn kết hữu nghị giữa thanh niên ba nước; các anh, chị cán bộ Đoàn, Hội, Đội người dân tộc Khmer tiếp tục là lực lượng nòng cốt, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng vững mạnh.
Đại diện cho sinh viên Campuchia và Lào đang học tập tại trường Đại học An Giang, em Phommala Vanthakone (đến từ tỉnh Champasak, Lào) chia sẻ: Những ngày đầu đến An Giang, em và các bạn sinh viên Campuchia, Lào gặp không ít khó khăn do sự khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa, môi trường sống mới. Tuy nhiên, các em luôn nhận được sự quan tâm, sẻ chia vô cùng quý báu từ lãnh đạo tỉnh, thầy cô và các anh chị, các bạn sinh viên người Việt Nam. Sự hỗ trợ kịp thời từ nhà trường, bạn bè, thầy cô đã trở thành nguồn động viên to lớn, tiếp thêm cho các em niềm tin, nghị lực, vững bước trên con đường học tập và trưởng thành.
“Mai này, khi trở về quê hương, chúng em không chỉ mang theo kiến thức, mà còn mang theo cả những tình cảm tốt đẹp, ký ức ấm áp về mảnh đất và con người An Giang nghĩa tình. Chúng em tin rằng, dù ở bất cứ nơi đâu, những tình cảm hôm nay sẽ luôn là sợi dây gắn kết bền chặt, để chúng em tự hào trở thành những “nhịp cầu nhỏ”, góp phần vun đắp tình hữu nghị thủy chung, son sắt giữa ba nước Việt Nam - Campuchia - Lào”, em Phommala Vanthakone chia sẻ.
Dịp này, Tỉnh đoàn An Giang, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam tỉnh và Hội đồng Đội tỉnh tặng quà cho các sinh viên Lào và Campuchia đang học tập tại trường Đại học An Giang, Trường Đại học Kiên Giang có thành tích tiêu biểu và cán bộ Đoàn, Hội, Đội là người dân tộc Khmer trong công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi của tỉnh thời gian qua./.
Tên tự gọi: Người Khmer.
Tên gọi khác: Cur, Cul, Cu Thổ, Việt gốc Miên, Khơ Me K’rôm.
Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.
Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.
Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.
Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).
Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.
Ở: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.
Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.
Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.
Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.
Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.
Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.
Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.
Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.
Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.
Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.
Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).
Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.
Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.
Theo cema.gov.vn