Dưới chân dãy Tây Côn Lĩnh, bản làng của đồng bào Dao đang tìm hướng phát triển du lịch cộng đồng từ chính không gian sinh sống và lao động của người dân. Giữ những nếp nhà, chăm từng thửa ruộng, giới thiệu sản vật cùng văn hóa truyền thống là cách để Xà Phìn mở thêm cơ hội sinh kế, đồng thời gìn giữ những giá trị làm nên sức hút của điểm đến.
Nếp nhà và thửa ruộng làm nên điểm đến
Ở Xà Phìn, mái nhà và ruộng lúa nằm gần nhau trong một không gian đan xen giữa cây xanh, nương chè và núi rừng. Đường lên thôn men theo sườn núi, qua những khoảng ruộng xếp tầng rồi dẫn tới các nếp nhà sàn. Vào mùa lúa chín, sắc vàng làm nổi rõ đường cong của bờ ruộng, còn màu rêu trên mái cọ đem đến vẻ trầm dịu. Cảnh quan ấy gợi cho người đến thăm cảm giác gần gũi với một bản làng vẫn giữ nhịp sống gắn bó với đất đai.
Theo ông Phan Ngọc Thắng, Phó Chủ tịch UBND xã Thanh Thủy, Xà Phìn có 54 hộ với 270 nhân khẩu, đều là đồng bào Dao; trong thôn có 11 ngôi nhà mái rêu. Những ngôi nhà được lợp bằng lá cọ, qua thời gian chịu tác động của mưa, sương và độ ẩm vùng núi, rêu bám tự nhiên trên mái. Vật liệu truyền thống cùng điều kiện khí hậu đã tạo nên nét kiến trúc riêng, khiến những ngôi nhà vốn phục vụ đời sống thường ngày trở thành hình ảnh đặc trưng của Xà Phìn.
Ngôi nhà của gia đình ông Đặng Văn Háu là một trong những nếp nhà mái rêu ấy. Cũng như nhiều hộ trong thôn, gia đình ông gắn bó với công việc đồng áng. Mái nhà phủ rêu và ruộng lúa bên cạnh cùng hiện diện trong cuộc sống của người dân, mang đến chất liệu để giới thiệu với khách phương xa về cách dựng nhà, làm ruộng và thích nghi với thiên nhiên. Từ một ngôi nhà cụ thể, câu chuyện về điểm đến có thể mở rộng tới đời sống của cả cộng đồng.
Xà Phìn có 28 ha ruộng bậc thang. Theo độ dốc của địa hình, các thửa ruộng nối nhau, có nơi mở rộng thành những khoảng vàng trên triền đồi, có nơi thu lại thành dải hẹp men quanh sườn núi. Từng bờ ruộng, lối dẫn nước là kết quả của quá trình khai đất và canh tác qua nhiều thế hệ. Bởi vậy, khi giới thiệu cảnh quan mùa vàng, cũng là lúc người dân có thể kể về công sức giữ đất, giữ nước và chăm sóc cây lúa trên địa hình vùng cao.
Sự gần gũi giữa nhà ở và ruộng bậc thang tạo điều kiện để du khách tìm hiểu bản làng qua những cuộc đi bộ, những lần trò chuyện với chủ nhà. Một số gia đình đã đón khách lưu trú trong nhà sàn, giới thiệu món ăn địa phương và chè Shan tuyết. Từ đó, chuyến tham quan có thể kéo dài thành một kỳ nghỉ, với thời gian dành cho tìm hiểu nếp sống, thưởng thức sản vật và cảm nhận cảnh sắc ở những thời điểm khác nhau trong ngày. Đây là hướng khai thác phù hợp với những giá trị sẵn có của Xà Phìn.
Bên cạnh mái rêu và ruộng lúa, rừng chè Shan tuyết cổ thụ, rừng thảo quả, thác Hươu, khu nuôi cá tầm cùng văn hóa Dao góp phần làm phong phú trải nghiệm. Những công đoạn chế biến chè, món ăn truyền thống, trang phục và hát Páo Dung đều có thể trở thành nội dung giới thiệu với du khách. Muốn phát huy những chất liệu ấy, người dân cần có vai trò trực tiếp trong việc kể chuyện, hướng dẫn và cung cấp dịch vụ, để nét riêng của bản làng được thể hiện từ chính hiểu biết của cộng đồng.
Để người dân có thêm sinh kế từ bản làng
Theo kế hoạch tổ chức Lễ hội “Mùa vàng - Làng nhà rêu” Xà Phìn năm 2026, địa phương dự kiến dành ngày 10/10 cho các hoạt động giới thiệu cảnh quan, sản vật và văn hóa Dao. Hội thi gặt lúa truyền thống, giã bánh dày, thi ẩm thực và sao chè Shan tuyết đưa những công việc quen thuộc vào không gian giao lưu. Qua đó, khách đến thăm có cơ hội tìm hiểu quá trình làm ra hạt thóc, chén trà hay món ăn, còn người dân có dịp giới thiệu kỹ năng và kinh nghiệm được gìn giữ trong gia đình.
Chương trình dự kiến bố trí 12 gian hàng trưng bày sản phẩm nông nghiệp, OCOP và sản phẩm thủ công truyền thống, khuyến khích hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ kinh doanh, hộ gia đình tham gia. Các tuyến tham quan kết nối nhà sàn mái rêu với ruộng bậc thang, rừng chè và những điểm cảnh quan quanh thôn. Không gian tranh nghệ thuật về Xà Phìn dự kiến được giới thiệu từ ngày 10 đến 18/10, mở thêm một cách quảng bá bản làng thông qua hình ảnh thiên nhiên, đời sống và văn hóa.
Ông Phan Ngọc Thắng cho biết, địa phương mong muốn qua lễ hội, du khách biết đến Xà Phìn nhiều hơn và dành thời gian trải nghiệm đời sống của đồng bào Dao. Xã định hướng phát triển du lịch cộng đồng dựa vào nhà sàn mái rêu, ruộng bậc thang, chè Shan tuyết, ẩm thực và văn hóa truyền thống. Khi khách lưu lại lâu hơn, sử dụng dịch vụ và mua sản phẩm địa phương, người dân có thêm nguồn thu để chăm chút ngôi nhà, tiếp tục canh tác và gìn giữ cảnh quan.
Để chuẩn bị đón khách, kế hoạch đặt ra việc vận động các gia đình chỉnh trang nhà cửa, sân vườn, đường làng, ngõ xóm; bố trí tuyến tham quan, biển chỉ dẫn, nhà vệ sinh và điểm tập kết rác. Các cơ sở kinh doanh được yêu cầu công khai giá, bảo đảm chất lượng hàng hóa, dịch vụ và giới thiệu trung thực về sản phẩm. Việc ưu tiên tre, nứa, rơm, hoa địa phương trong trang trí cũng cho thấy cách tổ chức hướng tới sự hài hòa với không gian bản làng, đồng thời chú trọng những điều kiện thiết thực cho người đến thăm.
Từ kế hoạch lễ hội, yêu cầu gìn giữ nét riêng cần được tiếp nối trong quá trình phát triển dịch vụ. Một ngôi nhà sàn đón khách vẫn cần giữ được sự thân thuộc của nơi ở; hoạt động giới thiệu văn hóa cần tôn trọng phong tục của cộng đồng; những thửa ruộng cần tiếp tục được canh tác qua từng mùa. Nguồn thu từ du lịch, nếu gắn với công sức chăm sóc cảnh quan và gìn giữ văn hóa, sẽ tạo thêm lý do để người dân bền lòng với những giá trị đã làm nên tên tuổi Xà Phìn.
Mùa vàng đem đến dịp để bản làng giới thiệu mình với khách phương xa, còn mái rêu, nương chè và văn hóa Dao tạo nền tảng cho những hành trình ở các mùa khác trong năm. Phía sau một bức ảnh đẹp là mái nhà có người gìn giữ, thửa ruộng có người vun trồng, chén trà có bàn tay chế biến. Khi những giá trị ấy được trân trọng và mang lại sinh kế, con đường du lịch của Xà Phìn sẽ được nuôi dưỡng từ chính cuộc sống dưới những mái rêu xanh.
Tên tự gọi: Kìm Miền, Kìm Mùn (người rừng).
Tên gọi khác: Mán.
Nhóm địa phương: Dao Ðỏ (Dao Cóc Ngáng, Dao sừng, Dao Dụ lạy, Dao Ðại bản), Dao Quần chẹt (Dao Sơn đầu, Dao Tam đảo, Dao Nga hoàng, Dụ Cùn), Dao Lô gang (Dao Thanh phán, Dao Cóc Mùn), Dao Tiền (Dao Ðeo tiền, Dao Tiểu bản), Dao Quần trắng (Dao Họ), Dao Thanh Y, Dao Làn Tẻn (Dao Tuyển, Dao áo dài).
Dân số: 751.067 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngữ hệ Hmông - Dao.
Lịch sử: Người Dao có nguồn gốc từ Trung Quốc, việc chuyển cư sang Việt Nam kéo dài suốt từ thế kỷ XII, XIII cho đến nửa đầu thế kỷ XX. Họ tự nhận mình là con cháu của Bản Hồ (Bàn vương), một nhân vật huyền thoại rất phổ biến và thiêng liêng ở người Dao.
Hoạt động sản xuất: Nương, thổ canh hốc đá, ruộng là những hình thức canh tác phổ biến ở người Dao. Tuỳ từng nhóm, từng vùng mà hình thức canh tác này hay khác nổi trội lên như: Người Dao Quần Trắng, Dao áo Dài, Dao Thanh Y chuyên làm ruộng nước. Người Dao Ðỏ - thổ canh hốc đá. Phần lớn các nhóm Dao khác làm nương du canh hay định canh. Cây lương thực chính là lúa, ngô, các loại rau màu quan trọng như bầu, bí, khoai... Họ chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà ở vùng lưng chừng núi và vùng cao còn nuôi ngựa, dê.
Nghề trồng bông, dệt vải phổ biến ở các nhóm Dao. Họ ưa dùng vải nhuộm chàm.
Hầu hết các xóm đều có lò rèn để sửa chữa nông cụ. Nhiều nơi còn làm súng hoả mai, súng kíp, đúc những hạt đạn bằng gang. Nghề thợ bạc là nghề gia truyền, chủ yếu làm những đồ trang sức như vòng cổ, vòng chân, vòng tay, vòng tai, nhẫn, dây bạc, hộp đựng trầu...
Nhóm Dao Ðỏ và Dao Tiền có nghề làm giấy bản. Giấy bản dùng để chép sách cúng, sách truyện, sách hát hay dùng cho các lễ cúng như viết sớ, tiền ma. Nhiều nơi có nghề ép dầu thắp sáng hay dầu ăn, nghề làm đường mật.
Ăn: Người Dao thường ăn hai bữa chính trong ngày, bữa trưa và bữa tối. Chỉ những ngày mùa bận rộn mới ăn thêm bữa sáng. Người Dao ăn cơm là chính, ở một số nơi lại ăn ngô nhiều hơn ăn cơm hoặc ăn cháo. Cối xay lúa thường dùng là loại cối gỗ đóng dăm tre. Cối giã có nhiều loại như cối gỗ hình trụ, cối máng giã bằng chày tay, cối đạp chân, cối giã bằng sức nước. Họ thích ăn thịt luộc, các món thịt sấy khô, ướp chua, canh măng chua. Khi ăn xong, người ra kiêng để đũa ngang miệng bát vì đó là dấu hiệu trong nhà có người chết.
Phổ biến là rượu cất, ở một vài nơi lại uống hoãng, thứ rượu không qua trưng cất, có vị chua và ít cay.
Người Dao thường hút thuốc lá và thuốc lào bằng điếu cầy hay tẩu.
Mặc: Trước đây đàn ông để tóc dài, búi sau gáy hoặc để chỏm tóc dài trên đỉnh đầu, xung quanh cạo nhẵn. Các nhóm Dao thường có cách đội khăn khác nhau. áo có hai loại, áo dài và áo ngắn.
Phụ nữ Dao mặc rất đa dạng, thường mặc áo dài yếm, váy hoặc quần. Y phục theo rất sặc sỡ. Họ không theo theo mẫu vẽ sẵn trên vải mà hoàn toàn dựa vào trí nhớ, thêu ở mặt trái của vải để hình mẫu nổi lên mặt phải. Nhiều loại hoa văn như chữ vạn, cây thông, hình chim, người, động vật, lá cây. Cách in hoa văn trên vải bằng sáp ong ở người Dao rất độc đáo. Muốn hình gì người ta dùng bút vẽ hay nhúng khuôn in vào sáp ong nóng chẩy rồi in lên vải. Vải sau khi nhuộm chàm sẽ hiện lên hoa văn mầu xanh lơ do phủ lớp sáp ong không bị thấm chàm.
Ở: Người Dao thường sống ở vùng lưng chừng núi hầu khắp các tỉnh miền núi miền Bắc. Tuy nhiên một số nhóm như Dao Quần trắng ở thung lũng, còn Dao Ðỏ lại ở trên núi cao. Thôn xóm phần nhiều phân tán, rải rác, năm bẩy nóc nhà. Nhà của người Dao rất khác nhau, tuỳ nơi họ ở nhà trệt, nhà sàn hay nhà nửa sàn, nửa đất.
Phương tiện vận chuyển: Người Dao ở vùng cao quen dùng địu có hai quai đeo vai, vùng thấp gánh bằng đôi dậu. Túi vải hay túi lưới đeo vai rất được họ ưa dùng.
Quan hệ xã hội: Trong thôn xóm tồn tại chủ yếu các quan hệ xóm giềng và quan hệ dòng họ.
Người Dao có nhiều họ, phổ biến nhất là các họ Bàn, Ðặng, Triệu. Các dòng họ, chi họ thường có gia phả riêng và có hệ thống tên đệm để phân biệt giữa những người thuộc các thế hệ khác nhau.
Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ ngồi, đẻ ngay trong buồng ngủ. Trẻ sơ sinh được tắm bằng nước nóng. Nhà có người ở cữ người ta treo cành lá xanh hay cài hoa chuối trước cửa để làm dấu không cho người lạ vào nhà vì sợ vía độc ảnh hưởng tới sức khoẻ đứa trẻ. Trẻ sơ sinh được ba ngày thì làm lễ cúng mụ.
Cưới xin: Trai gái muốn lấy được nhau phải so tuổi, bói chân gà xem có hợp nhau không. Có tục chăng dây, hát đối đáp giữa nhà trai và nhà gái trước khi vào nhà, hát trong đám cưới. Lúc đón dâu, cô dâu được cõng ra khỏi nhà gái và bước qua cái kéo mà thầy cúng đã làm phép mới được vào nhà trai.
Ma chay: Thày tào có vị trí quan trọng trong việc ma và làm chay. Nhà có người chết con cái đến nhà thầy mời về chủ trì các nghi lễ, tìm đất đào huyệt. Người ta kiêng khâm liệm người chết vào giờ sinh của những người trong gia đình. Người chết được liệm vào quan tài để trong nhà hay chỉ bó chiếu ra đến huyệt rồi mới cho vào quan tài. Mộ được đắp đất, xếp đá ở chân mộ. ở một số nơi có tục hoả táng cho những người chết từ 12 tuổi trở lên.
Lễ làm chay cho người chết diễn ra sau nhiều năm, thường được kết hợp với lễ cấp sắc cho một người đàn ông nào đó đang sống trong gia đình. Lễ tổ chức ba ngày, ngày đầu gọi là lễ phá ngục, giải thoát hồn cho người chết, ngày thứ hai gọi là lễ tắm hương hoa cho người chết trước khi đưa hồn về bàn thờ tổ tiên trong nhà, ngày thứ ba lễ cấp sắc. Người chết được cúng đưa hồn về quê cũ ở Dương Châu.
Nhà mới: Muốn làm nhà phải xem tuổi những người trong gia đình, nhất là tuổi chủ gia đình. Nghi lễ chọn đất được coi là quan trọng. Buổi tối, người ta đào một hố to bằng miệng bát, xếp một số hạt gạo tượng trưng cho người, trâu bò, tiền bạc, thóc lúa, tài sản rồi úp bát lên. Dựa vào mộng báo đêm đó mà biết điềm xấu hay tốt. Sáng hôm sau ra xem hỗ, các hạt gạo vẫn giữa nguyên vị trí là có thể làm nhà được.
Thờ cúng: Người Dao vừa tin theo các tín ngưỡng nguyên thuỷ, các nghi lễ nông nghiệp vừa chịu ảnh hưởng sâu sắc của Khổng giáo, Phật giáo và nhất là Ðạo giáo. Bàn vương được coi là thuỷ tổ của người Dao nên được cúng chung với tổ tiên từng gia đình. Theo truyền thống tất cả đàn ông đã đến tuổi trưởng thành đều phải qua lễ cấp sắc. một nghi lễ vừa mang tính chất của Ðạo giáo, vừa mang những vết của lễ thành đinh xa xưa.
Lịch: Người Dao quen dùng âm lịch để tính thời gian sản xuất và sinh hoạt.
Học: Hầu hết các xóm thôn người Dao đều có người biết chữ Hán, nôm Dao. Người ta học chữ để đọc sách cúng, sách truyện, thơ.
Văn nghệ: Người Dao có vốn văn nghệ dân gian rất phong phú, nhiều truyện cổ, bài hát, thơ ca. Ðặc biệt truyện Quả bầu với nạn hồng thuỷ, Sự tích Bàn Vương rất phổ biến trong người Dao. Múa, nhạc được họ sử dụng chủ yếu trong các nghi lễ tôn giáo.
Chơi: Người Dao thích chơi đu, chơi quay, đi cà kheo.
Theo cema.gov.vn