Đây là nội dung được các đại biểu thảo luận tại Hội thảo “Phát triển du lịch cộng đồng tại các buôn làng dân tộc M’Nông ở Tây Nguyên: Thực trạng và Giải pháp” do Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) tổ chức sáng 28/10 tại Hà Nội.
Tại Hội thảo, các nhà khoa học, chuyên gia trao đổi về thực trạng du lịch cộng đồng dân tộc M'Nông ở Tây Nguyên, đề xuất các mô hình vận hành, chính sách chiến lược nhằm thúc đẩy phát triển bền vững.
Phát biểu khai mạc, Tiến sĩ Hoàng Thị Bình, Phó Viện trưởng Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam nhấn mạnh, Tây Nguyên là vùng đất đặc biệt với cảnh quan thiên nhiên phong phú, không gian văn hóa đặc sắc. Trong đó, cộng đồng dân tộc M'Nông còn lưu giữ nhiều giá trị văn hóa truyền thống tiêu biểu như: kiến trúc nhà dài, văn hóa cồng chiêng, sử thi, tri thức bản địa và các phong tục tập quán. Đây chính là nguồn tài nguyên quý báu tạo lợi thế phát triển các sản phẩm du lịch cộng đồng mang bản sắc riêng.
Thực tiễn tại một số buôn làng cho thấy, hoạt động du lịch bước đầu đạt được những kết quả tích cực như tạo thêm việc làm, cải thiện sinh kế, tăng thu nhập, nâng cao đời sống người dân; đồng thời giới thiệu, quảng bá giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc M'Nông đến với du khách trong nước và quốc tế.
Hiện nay, việc phát triển du lịch cộng đồng tại nhiều địa phương diễn ra mạnh mẽ. Nhiều nơi, cộng đồng đã sống được nhờ cung cấp dịch vụ thông qua việc xây dựng homestay, cung cấp các sản phẩm bản địa. Tuy nhiên, hoạt động này vẫn gặp những khó khăn nhất định: quy mô phần lớn còn nhỏ lẻ, tự phát; sản phẩm chưa phong phú, chất lượng dịch vụ chưa đồng đều. Bên cạnh những nơi làm tốt, vẫn còn nhiều nơi lúng túng trong việc xây dựng sản phẩm, hạn chế về hạ tầng, cơ sở vật chất - kỹ thuật và năng lực quản lý; nhiều giá trị văn hóa truyền thống đối mặt với nguy cơ mai một…
Tiến sĩ Hoàng Thị Bình cho rằng, mặc dù du lịch cộng đồng do người dân làm chủ, nhưng không thể chỉ dựa vào lực lượng cộng đồng mà cần sự vào cuộc của chính quyền và các bên liên quan. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp giúp địa phương chủ động hơn trong nhiều hoạt động, song vẫn tồn tại bất cập về đội ngũ cán bộ, đặc biệt là cán bộ văn hóa cơ sở vừa thiếu vừa chưa đúng chuyên môn.
Bên cạnh đó, sự liên kết giữa cộng đồng - chính quyền - doanh nghiệp ở nhiều nơi còn lỏng lẻo, xuất hiện tình trạng "mạnh ai nấy làm". Doanh nghiệp tự hoạt động nhưng chưa thực sự gắn kết, chia sẻ lợi ích với địa phương và cộng đồng, cũng như chưa tái đầu tư đúng mức cho việc bảo tồn văn hóa. Việc khai thác giá trị văn hóa phục vụ du lịch đặt ra các yêu cầu cấp thiết về bảo tồn bản sắc, hạn chế thương mại hóa di sản, bảo vệ môi trường và bảo đảm lợi ích cho người dân. Chính vì vậy, việc nghiên cứu, đánh giá toàn diện thực trạng phát triển du lịch cộng đồng tại các buôn làng dân tộc M’Nông là nhiệm vụ cần thiết. Đây là cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc để nhận diện các "điểm nghẽn", từ đó đề xuất mô hình vận hành, giải pháp và cơ chế chính sách đột phá, hướng tới phát triển bền vững.
Tại Hội thảo, các đại biểu đề xuất chính sách tập trung vào việc hoàn thiện sản phẩm đặc thù, bảo vệ môi trường sinh thái, đẩy mạnh xúc tiến liên kết và ứng dụng khoa học công nghệ. Mục tiêu cốt lõi là xây dựng mô hình du lịch bền vững, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và giữ gìn các giá trị di sản văn hóa truyền thống.
Tên tự gọi: Mnông.
Nhóm địa phương: Mnông Gar, Mnông Nông, Mnông Chil, Mnông Kuênh, Mnông Rlâm, Mnông Preh, Mnông Prâng, Mnông Ðíp, Mnông Bhiêt, Mnông Sitô, Mnông Bu Ðâng, Mnông Bu Nor, Mnông Bu Ðêh...
Dân số: 102.741 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).
Lịch sử: Người Mnông là cư dân sinh tụ lâu đời ở miền trung Tây Nguyên nước ta.
Hoạt động sản xuất: Người Mnông trồng lúa nương trên rẫy bằng phương pháp "đao canh hoả chủng": phát, đốt rồi chọc lỗ tra hạt; thu hoạch theo lối tuốt lúa bằng tay. Họ trồng lúa nước bằng phương pháp "đao canh thuỷ nậu" trên những vùng đầm lầy, dùng trâu để quần ruộng cho nhão đất rồi gieo hạt, không cấy mạ như ở đồng bằng. Ðiều đáng lưu ý là vai trò của cái cuốc trong nền nông nghiệp cổ truyền Mnông. Ði đôi với nền sản xuất nông phẩm, việc săn bắn, hái lượm còn giữ vai trò quan trọng trong cuộc sống hàng ngày.
Sản xuất thủ công nghiệp gia đình phổ biến là nghề đan đồ gia dụng bằng nguyên liệu mây, tre, lá; thứ đến là nghề trồng bông dệt vải do phụ nữ đảm nhiệm. Trong mỗi làng còn có một số người biết làm gốm thô, nặn bằng tay và nung lộ thiên. Sản phẩm là nồi đất các loại, bát ăn cơm và vò, hũ. Nghề rèn nông cụ không được phát triển lắm trong các vùng Mnông. Ðặc biệt ở vùng Buôn Ðôn, cư dân có nghề săn bắt và thuần dưỡng voi rừng rất nổi tiếng. Cho đến nay nghề này vẫn được tiếp tục duy trì tuy số voi săn bắt được hàng năm đã giảm đi đáng kể.
Ăn: Họ ăn cơm gạo tẻ nấu trong những nồi đất nung, xa xưa thì phổ biến là cơm lam (gạo nếp nấu trong ống nứa). Bữa ăn trưa ở trên ruộng rẫy thường là món cháo chua đựng trong những trái bầu khô. Thức ăn chủ yếu là muối ớt, canh rau rừng, thịt chim, thú và cá suối bắt được. Việc chăn nuôi gia súc, gia cầm không phát triển. Rau củ được trồng trên rẫy để bổ sung cho nguồn thức ăn do hái lượm đem lại. Thức uống phổ biến là rượu cần.
Mặc: Về mùa nóng, đàn ông xưa kia thường đóng khố ở trần; còn đàn bà thì quấn váy tấm và cũng ở trần. Về mùa lạnh, họ khoác thêm trên mình một tấm mền, kiểu phục sức rất phổ biến ở Trường Sơn - Tây Nguyên. Hiện nay trong trang phục Mnông đã tiếp thu nhiều yếu tố Việt. Tập quán "cà răng căng tai" phổ biến trong xã hội cổ truyền, đến nay chỉ còn lại dấu ấn ở lứa tuổi những người cao niên.
Ở: Hiện nay người Mnông cư trú tập trung theo nhóm địa phương, chủ yếu ở các huyện: Lắc, Mdrắc, Ðắc Nông, Ðắc Mil, Krông Pách, Ea Súp, Buôn Ðôn... thuộc tỉnh Ðắk Lắk; một bộ phận cư trú ở phía bắc tỉnh Sông Bé và tây nam tỉnh Lâm Ðồng; địa bàn phân bố về phía tây đến tận miền đông Cam-pu-chia, giáp ranh với biên giới nước ta. Tuỳ theo vùng và từng nhóm địa phương mà họ xây cất nhà trệt hoặc nhà sàn.
Nhà trệt có mái tranh gần sát đất và nền đất là mặt bằng sinh hoạt, rất phổ biến ở nhóm Mnông Gar, Mnông Preh, Mnông Prâng... Còn nhà sàn thường là sàn thấp, chỉ cách mặt đất khoảng 0m70 đến1m00 và phổ biến ở nhóm Mnông Kuênh, Mnông Chil, Mnông Bhiêt... Riêng nhóm Mnông Rlâm ở vùng hồ Lắc xây cất nhà sàn cao theo kiến trúc của người Ê Ðê. Dù là nhà sàn hay nhà trệt thì mái vẫn là cỏ tranh: khung và sườn nhà được kết hợp 2 loại nguyên liệu là tre nứa và gỗ cây... Các bộ phận được liên kết bằng chạc, ngoãm, dây mây và dây rừng.
Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu là cái gùi cõng trên lưng nhờ có 2 quai quàng qua đôi vai. Việc vận chuyển bằng voi là phương thức đặc biệt được chú trọng ở vùng người Mnông. Việc đi lại, vận chuyển trên sông, hồ có thuyền độc mộc.
Quan hệ xã hội: Ðơn vị cư trú cơ bản gọi là bon hay uôn, tương ứng với làng, xóm. Các gia đình trong làng có quan hệ láng giềng, quan hệ huyết thống và quan hệ hôn nhân. Làng nhỏ có độ mươi nóc nhà, làng lớn có khi tập trung đến vài chục nóc. Quan hệ huyết thống ở đây tính theo dòng họ mẹ. Dấu vết của chế độ mẫu hệ còn rất đậm nét trong mọi quan hệ xã hội hiện nay. Song tập quán mẫu hệ đã và đang tan rã ở nhiều thang bậc khác nhau theo từng nhóm địa phương.
Trong xã hội cổ truyền người đứng đầu mỗi làng gọi là Rnút hay Kroanh bon, bên cạnh có người phụ tá gọi là Rnoi, Rnớp. Khi cần chiến đấu thì cử ra một chức sắc gọi là Né tăm lăm lở làm thủ lĩnh quân sự. Xã hội Mnông vận hành theo tập quán pháp và Tập quán pháp ca được truyền khẩu qua các thế hệ để làm chuẩn mực cho mọi ứng xử trong đời sống.
Cưới xin: Phụ nữ thường chủ động hơn trong việc hôn nhân. Lễ cưới do 2 bên cùng tổ chức. Sau hôn nhân phổ biến là cư trú phía nhà gái. Ở nhiều nhóm địa phương lại phổ biến hình thức luân cư song phương. Con sinh ra đều mang họ mẹ. Trong tập quán cưới xin có 3 nghi lễ là Sa ur, Tâm ốp và Tám nsông tương ứng với lễ chạm ngõ, lễ ăn hỏi và lễ thành hôn. Chế độ một vợ một chồng là quy tắc chặt chẽ trong quan hệ hôn nhân. Luật tục Mnông phạt vạ rất nghiêm khắc với tội loạn luân và ngoại tình.
Ma chay: Khi có người chết, cả làng nghỉ việc đồng áng để cùng lo mai táng, ma chay. Thi hài được quàn tại nhà khoảng 2 ngày đối với người chết già, chết vì bệnh tật. Họ rất kinh hãi và chối bỏ việc ma chay đối với mọi cái chết do tai nạn gây nên (chết đuối, ngã cây, rắn cắn, hổ vồ... và chết do chiến tranh, đâm chém). Những cái chết "bất đắc kỳ tử" như vừa nêu thì thi hài không được đem vào nhà mà phải mai táng tức khắc một cách thầm lặng. Thổ táng là hình thức duy nhất trong việc tang ma, không có tập quán cải táng. Mọi người chết đều được chia tài sản để mang về "lập nghiệp" ở thế giới của ông bà gọi là Phan.
Nhà mới: Khi một ngôi nhà được xây cất hoàn tất thì lễ khánh thành để vào nhà mới sẽ được tổ chức linh đình bằng một ngày tiệc mặn cúng hiến sinh heo. Sau bữa ăn rồi mới đến tiệc rượu cần rất rôm rả trong tiếng nhạc cồng chiêng.
Lễ tết: Lễ hội đâm trâu là lễ hội cổ truyền được coi trọng nhất. Kết thúc mùa thu hoạch lúa hàng năm, mỗi làng đều tổ chức tết ăn mừng cơm mới, tạ ơn trời đất và thần lúa. Trâu được hiến sinh trong hội lễ tưng bừng để chuẩn bị cho một mùa vụ mới tràn đầy hy vọng.
Lịch: Nông lịch cổ truyền Mnông tính theo lịch âm, dựa vào quy trình canh tác rẫy. Mỗi năm cũng có 12 tháng, mỗi tháng có từ 29 đến 30 ngày.
Học: Trong xã hội cổ truyền Mnông chưa có chữ viết, chỉ có văn chương truyền miệng. Việc giáo dục, học tập được thực hiện bằng phương pháp chỉ dẫn trực tiếp, làm mẫu noi theo, bắt chước. Thập kỷ gần đây mới xuất hiện chữ viết nhưng sự phổ biến rộng rãi đang vấp phải không ít trở ngại.
Văn nghệ: Kho tàng truyện cổ, đặc biệt là sử thi và tập quán pháp ca tiềm ẩn nhiều giá trị, đã và đang được khai thác giới thiệu. Tục ngữ, ca dao, dân ca rất phong phú. Nhạc cụ có cồng chiêng, kèn bầu, kèn sừng trâu, kèn môi, đàn độc huyền, đàn 8 dây, sáo dọc. Ðặc biệt là vỏ trái bầu khô được sử dụng một cách phổ biến để tạo nên bộ phận khuếch đại âm thanh trong nhiều nhạc cụ bằng tre, nứa. Người ta đã tìm thấy ở vùng cư trú của người Mnông bộ đàn đá nguyên thuỷ nổi tiếng từ giữa thế kỷ XX.
Chơi: Trẻ em thường thích chơi diều, đánh cù, bịt mắt bắt dê, chạy, nhảy...
Theo cema.gov.vn