Nằm sâu trong vùng núi xã Tà Tổng (Lai Châu), bản Tia Ma Mủ đến nay vẫn chưa có điện lưới quốc gia. Không có điện, cuộc sống của người Mông nơi đây gặp muôn vàn khó khăn từ sinh hoạt, học tập đến phát triển kinh tế.
Bản nhỏ còn nhiều khó khăn
Tia Ma Mủ là bản nhỏ, có 82 hộ đồng bào dân tộc Mông sinh sống, nằm cách trung tâm xã Tà Tổng khoảng 50 km. Với con đường bê tông sạch sẽ, xe ô tô tải đã vào được tận bản. Thế nhưng nơi đây vẫn chưa có điện lưới quốc gia.
Từ UBND xã Tà Tổng, muốn liên lạc bằng điện thoại vào bản để có việc thông báo cũng không được vì không có sóng. Vào trong bản, trải nghiệm khoảng 2 giờ, chúng tôi mới thấy nhiều thiếu thốn, vất vả của bà con khi không có điện.
Toàn bản không nhà nào có ti vi. Khi muốn truyền thông tin hoặc văn bản, công việc của xã vào bản, Bí thư Chi bộ hay trưởng bản phải chạy lên điểm cao tìm sóng điện thoại. Sau khi nắm được thông tin, muốn họp bản phải đánh kẻng tập hợp bà con để phổ biến. Người thân đi làm ăn xa gửi tiền về qua tài khoản của trưởng bản hoặc phó trưởng bản. Sau đó, trưởng bản phải sang Mường Nhé (tỉnh Điện Biên) rút tiền về đưa cho bà con…
Không có điện lưới, bà con nơi đây phải đầu tư từ 20 - 40 triệu đồng/hộ để lắp đặt hệ thống năng lượng mặt trời. Hiện có 60 hộ trong tổng số 84 hộ đã lắp đặt hệ thống năng lượng mặt trời. Tuy nhiên cũng chỉ đủ dùng để thắp bóng đèn, những nhu cầu tối thiểu về điện trong nhà.
Ở những nơi có điện, người dân có thể dùng quạt, nồi cơm điện, tủ lạnh, máy bơm nước, ti vi… Nhưng ở Tia Ma Mủ, tất cả những tiện nghi ấy đều là điều xa xỉ.
Phó bản Tia Ma Mủ Giàng A Tịnh là một trong những gia đình hiếm hoi tại bản có máy phát điện.
Sinh kế chính của người dân Tia Ma Mủ là trồng ngô, lúa nương, chăn nuôi nhỏ lẻ. Không có điện, bà con không thể sử dụng máy móc hỗ trợ sản xuất như, máy bơm nước, máy sấy nông sản... Tất cả đều làm thủ công, mất nhiều công sức, năng suất thấp.
Anh Hạng A Xá, một người dân trong bản cho biết, anh muốn đầu tư máy móc làm nghề nhưng không có điện để dùng, mọi thứ đều phải làm thủ công. Bà con ở đây rất khó khăn.
Điện mặt trời chỉ đủ dùng nhu cầu tối thiểu cho các gia đình ở bản Tia Ma Mủ, xã Tà Tổng.
Theo Phó trưởng bản Giàng A Tịnh, không có điện lưới khiến công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách của Đảng và Nhà nước cho bà con cũng gặp khó khăn. Đặc biệt, ảnh hưởng lớn đến đời sống sinh hoạt, phát triển kinh tế…
Điểm Trường mầm non Tia Ma Mủ hiện có 4 cô giáo được phân công dạy 2 lớp học với 55 học sinh. Ngoài khó khăn về chăm sóc cho học sinh hằng ngày trong điều kiện thiếu thốn, việc không có điện, không có sóng điện thoại, chuyển đổi số trong giáo dục cũng là con số không tròn trĩnh.
Bản nghèo cần ánh sáng để phát triển
Bản Tia Ma Mủ có 82 hộ dân, trong đó có 37 hộ nghèo, 13 hộ cận nghèo. Không có điện khiến người dân gần như “bó tay, bó chân” trong mọi việc để phát triển kinh tế. Mong muốn của người dân là sớm có điện lưới quốc gia.
Dù người dân dùng nguồn năng lượng từ điện mặt trời nhưng cũng rất hạn chế. Đặc thù của xã Tà Tổng nói chung và bản Tia Ma Mủ nói riêng là nằm trên núi cao, khí hậu lạnh, sương mù bao phủ quanh năm, số ngày nắng không nhiều. Vì thế, nguồn điện năng lượng mặt trời cũng không đáng kể.
“Mong mỏi lớn nhất của bà con là có điện. Điện sẽ giải quyết được rất nhiều thứ, bản Mông sẽ thay thổi”. Đó là lời bộc bạch của chị Hàng Thị Thu, một người dân trong bản.
Hiện xã Tà Tổng còn 1 bản và 3 điểm dân cư với 200 hộ chưa có điện lưới quốc gia. Nhiều năm qua, người dân bản Tia Ma Mủ đã nhiều lần kiến nghị với chính quyền các cấp về việc đầu tư lưới điện quốc gia cho bản. Tuy nhiên, do địa hình phức tạp, dân cư thưa thớt, đầu tư lớn nên việc kéo điện gặp nhiều khó khăn.
Người dân bản Tia Ma Mủ, xã Tà Tổng phải đầu tư điện mặt trời để thắp sáng.
Có điện không chỉ để sáng nhà mà là để thay đổi cuộc sống. Khi có điện, người dân sẽ mạnh dạn làm ăn, trẻ con có điều kiện học tập tốt hơn, thông tin đến nhanh hơn. Mọi chính sách của Nhà nước được triển khai hiệu quả. Đặc biệt, có điện giúp bà con tiếp cận được kiến thức, cách làm mới để tự vươn lên thoát nghèo.
Phó Chủ tịch UBND xã Tà Tổng Nguyễn Việt Hòa cho biết, địa phương đã kiến nghị và có văn bản đề xuất với tỉnh, ngành điện Lai Châu để đầu tư điện cho bản Tia Ma Mủ. Tới đây, ngành điện sẽ triển khai dự án để kéo điện về cho bản Tia Ma Mủ. Dự kiến hoàn thành trong quý 2 năm 2026.
Không có điện, việc chăm sóc học sinh tại điểm trường Tia Ma Mủ, thuộc Trường Mầm non Tà Tổng gặp khó khăn.
Với người dân bản Tia Ma Mủ, điện không chỉ là dòng năng lượng chạy qua dây dẫn mà là ánh sáng của niềm tin, hy vọng. Ánh sáng ấy sẽ xua đi bóng tối của đói nghèo, lạc hậu, giúp bản làng hòa vào nhịp phát triển chung.
Tết cổ truyền đang đến dần. Hy vọng, đây là cái Tết cuối cùng bà con bản Tia Ma Mủ đón năm mới trong cảnh không có điện. Tia Ma Mủ đang từng ngày chờ đợi ánh sáng của điện lưới quốc gia - ánh sáng của một tương lai bớt nhọc nhằn, nhiều cơ hội và ấm no hơn./.
Tên tự gọi: Mông, Na Miẻo.
Tên gọi khác: Mẹo, Mèo, Miếu Hạ, Mán Trắng.
Nhóm địa phương: Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Ðỏ, Mông Ðen, Mông Xanh, Na Miẻo.
Dân số: 1.068.189 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngôn ngữ hệ Mông - Dao.
Hoạt động sản xuất: Nguồn sống chính là làm nương định canh hoặc nương du canh trồng ngô, lúa, lúa mạch. Nông dân có truyền thống trồng xen canh trên nương cùng với cây trồng chính là các cây ý dĩ, khoai, rau, lạc, vừng, đậu...
Chiếc cày của người Mông rất nổi tiếng về độ bền cũng như tính hiệu quả. Trồng lanh, thuốc phiện (trước đây), các cây ăn quả như táo, lê, đào, mận, dệt vải lanh là những hoạt động sản xuất đặc sắc của người Mông.
Người Mông chăn nuôi chủ yếu trâu, bò, lợn, gà, ngựa. Ngựa thồ là phương tiện vận chuyển rất có hiệu quả trên vùng cao núi đá. Con ngựa rất gần gũi và thân thiết với từng gia đình Mông.
Họ phát triển đa dạng các nghề thủ công như đan lát, rèn, làm yên cương ngựa, đồ gỗ, nhất là các đồ đựng, làm giấy bản, đồ trang sức bằng bạc phục vụ nhu cầu và thị hiếu của người dân. Các thợ thủ công Mông phần lớn là thợ bán chuyên nghiệp làm ra những sản phẩm nổi tiếng như lưỡi cày, nòng súng, các đồ đựng bằng gỗ ghép. Chợ ở vùng Mông thoả mãn vừa nhu cầu trao đổi hàng hoá vừa nhu cầu giao lưu tình cảm, sinh hoạt.
Ăn: Người Mông thường ăn ngày hai bữa, ngày mùa ăn ba bữa. Bữa ăn với các thực phẩm truyền thống có mèn mén (bột ngô đồ) hay cơm, rau xào mỡ và canh. Bột ngô được xúc ăn bằng thìa gỗ. Phụ nữ khéo léo làm các loại bánh bằng bột ngô, gạo vào những ngày tết, ngày lễ.
Người Mông quen uống rượu ngô, rượu gạo, hút thuốc bằng điếu cày. Ðưa mời khách chiếc điếu do tự tay mình nạp thuốc là biểu hiện tình cảm quý trọng. Trước kia, tục hút thuốc phiện tương đối phổ biến với họ.
Mặc: Trang phục của người Mông rất sặc sỡ, đa dạng giữa các nhóm.
Phụ nữ Mông Trắng trồng lanh, dệt vải lanh, váy màu trắng, áo xẻ ngực, thêu hoa văn ở cánh tay, yếm sau. Cạo tóc, để chỏm, đội khăn rộng vành.
Phụ nữ Mông Hoa mặc váy màu chàm có thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ nách, trên vai và ngực đắp vải màu và thêu. Ðể tóc dài, vấn tóc cùng tóc giả.
Phụ nữ Mông Ðen mặc váy bằng vải chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực.
Phụ nữ Mông Xanh mặc váy ống. Phụ nữ Mông Xanh đã có chồng cuốn tóc lên đỉnh đầu, cài bằng lược móng ngựa, đội khăn ra ngoài tạo thành hình như hai cái sừng.Trang trí trên y phục chủ yếu bằng đắp ghép vải màu, hoa văn thêu chủ yếu hình con ốc, hình vuông, hình quả trám, hình chữ thập.
Ở: Người Mông quần tụ trong từng bản vài chục nóc nhà. Nhà trệt, ba gian hai chái, có từ hai đến ba cửa. Gian giữa đặt bàn thờ.
Nhà giàu thì tường trình, cột gỗ kê trên đá tảng hình đèn lồng hay quả bí, mái lợp ngói, sàn gác lát ván. Phổ biến nhà bưng ván hay vách nứa, mái tranh.
Lương thực được cất trữ trên sàn gác. Một số nơi có nhà kho chứa lương thực ở ngay cạnh nhà.
Chuồng gia súc được lát ván cao ráo, sạch sẽ.
Ở vùng cao núi đá, mỗi nhà có một khuôn viên riêng cách nhau bằng bức tường xếp đá cao khoảng gần 2 mét.
Phương tiện vận chuyển: Người Mông quen dùng ngựa thồ, gùi có hai quai đeo vai.
Quan hệ xã hội: Bản thường có nhiều họ, trong đó một hoặc hai họ giữ vị trí chủ đạo, có ảnh hưởng chính tới các quan hệ trong bản. Người đứng đầu bản điều chỉnh các quan hệ trong bản, trước kia, cả bằng hình thức phạt vạ lẫn dư luận xã hội. Dân mỗi bản tự nguyện cam kết và tuân thủ quy ước chung của bản về sản xuất, chăn nuôi, bảo vệ rừng và việc giúp đỡ lẫn nhau. Quan hệ trong bản càng gắn bó chặt chẽ hơn thông qua việc thờ cúng chung thổ thần của bản.
Người Mông rất coi trọng dòng họ bao gồm những người có chung tổ tiên. Các đặc trưng riêng với mỗi họ thể hiện ở những nghi lễ cúng tổ tiên, ma cửa, ma mụ... như số lượng và cách bày bát cúng, bài cúng, nơi cúng, ở các nghi lễ ma chay như cách quàn người chết trong nhà, cách để xác ngoài trời trước khi chôn, cách bố trí mộ...
Người cùng họ dù không biết nhau, dù cách xa bao đời nhưng qua cách trao đổi các đặc trưng trên có thể nhận ra họ của mình. Phong tục cấm ngặt những người cùng họ lấy nhau. Tình cảm gắn bó giữa những người trong họ sâu sắc. Trưởng họ là người có uy tín, được dòng họ tôn trọng, tin nghe.
Gia đình nhỏ, phụ hệ. Cô dâu đã qua lễ nhập môn, bước qua cửa nhà trai, coi như đã thuộc vào dòng họ của chồng. Vợ chồng rất gắn bó, luôn ở bên nhau khi đi chợ, đi nương, thăm hỏi họ hàng. Phổ biến tục cướp vợ.
Thờ cúng: Trong nhà có nhiều nơi linh thiêng dành riêng cho việc thờ cúng như nơi thờ tổ tiên, ma nhà, ma cửa, ma bếp. Những người biết nghề thuốc, biết làm thầy còn lập bàn thờ cúng những vị tổ sư nghề của mình. Nhiều lễ cúng kiêng cấm người lạ vào nhà, vào bản. Sau khi cúng ma cầu xin ai thường đeo bùa để lấy khước.
Học: Chữ Mông tuy được soạn thảo theo bộ vần chữ quốc ngữ từ những năm sáu mươi nhưng cho đến nay vẫn chưa thực sự phổ biến.
Lễ tết: Trong khi người Việt đang hối hả kết thúc tháng cuối cùng trong năm thì người Mông đã bước vào Tết năm mới truyền thống từ đầu tháng 12 âm lịch, sớm hơn tết Nguyên đán một tháng theo cách tính lịch cổ truyền của người Mông, phù hợp với nông lịch truyền thống.
Ngày Tết, dân làng thường chơi còn, đu, thổi khèn, ca hát ở những bãi rộng quanh làng. Tết lớn thứ hai là Tết 5 tháng năm (âm lịch). Ngoài hai tết chính, tuỳ từng nơi còn có các Tết vào các ngày 3 tháng 3, 13 tháng 6, 7 tháng 7 (âm lịch).
Văn nghệ: Thanh niên thích chơi khèn, vừa thổi vừa múa. Khèn, trống còn được sử dụng trong đám ma, lúc viếng, trong các lễ cúng cơm. Kèn lá, đàn môi là phương tiện để thanh niên trao đổi tâm tình.
Theo cema.gov.vn