Bảo tồn nghệ thuật truyền thống Khmer biến văn hóa thành động lực phát triển

Tiếng trống Chhay-Dăm rộn ràng vang lên trong sân chùa của đồng bào dân tộc Khmer mỗi dịp Tết Chôl Chnăm Thmây hay lễ hội Ok Om Bok từ lâu đã trở thành âm thanh quen thuộc ở những phum, sóc Khmer An Giang. Nhưng phía sau những nhịp trống sôi động ấy là nỗi trăn trở của nhiều nghệ nhân lớn tuổi khi lớp kế cận thưa vắng, không gian diễn xướng dần thu hẹp trước nhịp sống hiện đại.

trong2-6726.jpg
Biểu diễn nghệ thuật diễn tấu trống Chhay-Dăm tại chùa Snay Đon Kum, xã Ô Lâm, tỉnh An Giang.

Kho tàng nghệ thuật độc đáo

Đồng bào dân tộc Khmer chiếm khoảng 8% dân số An Giang, sinh sống tập trung tại nhiều địa phương vùng biên giới như: Tri Tôn, Cô Tô, Ô Lâm, Núi Cấm... Qua nhiều thế hệ, cộng đồng Khmer đã gìn giữ một kho tàng nghệ thuật truyền thống phong phú, từ những điệu múa Rom Vong, Rom Saravan; nghệ thuật hát Aday, Chầm Riêng Chà-pây; nghệ thuật diễn tấu trống Chhay-Dăm; dàn nhạc ngũ âm đến sân khấu Dù kê, Dì kê, nghệ thuật Rô băm và hệ thống lễ hội truyền thống như: Chôl Chnăm Thmây, Sen Dolta, Ok Om Bok.

Những loại hình nghệ thuật ấy không chỉ mang giá trị giải trí mà còn lưu giữ lịch sử, tín ngưỡng, phong tục và tri thức dân gian của đồng bào Khmer. Mỗi lễ hội truyền thống chính là “sân khấu tự nhiên” để các giá trị văn hóa Khmer được tái hiện sống động. Từ đó, góp phần tạo nên bản sắc riêng của đồng bào dân tộc Khmer vùng Bảy Núi An Giang, thu hút đông đảo du khách.

Trong kho tàng nghệ thuật truyền thống của đồng bào Khmer An Giang, nghệ thuật diễn tấu trống Chhay-Dăm được xem là một trong những loại hình tiêu biểu. Người biểu diễn không chỉ đánh trống mà còn kết hợp các động tác múa, xoay người, nhảy và biểu cảm theo tiết tấu, tạo nên màn trình diễn giàu tính nghệ thuật. Năm 2025, nghệ thuật diễn tấu trống Chhay-Dăm của người Khmer An Giang được đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, khẳng định giá trị đặc sắc của loại hình nghệ thuật này.

Tuy nhiên, để trở thành một nghệ nhân diễn tấu trống Chhay-Dăm không hề dễ dàng. Sư Chau Rine, sư phó chùa Snay Đon Kum (xã Ô Lâm), cho biết: Người diễn tấu trống Chhay-Dăm phải trải qua nhiều tháng, thậm chí nhiều năm khổ luyện mới có thể trình diễn thành thạo. Độ tuổi biểu diễn tốt nhất từ 16 đến 40 tuổi, đòi hỏi sức khỏe, sự dẻo dai và tính kỷ luật cao.

Theo sư Chau Rine, hiện việc bảo tồn nghệ thuật diễn tấu trống Chhay-Dăm gặp không ít khó khăn khi số nghệ nhân có khả năng truyền dạy ngày càng ít, trong khi lớp trẻ theo học chưa nhiều. Không ít chùa Khmer phải mời giáo viên từ địa phương khác đến hướng dẫn vì thiếu người am hiểu chuyên môn. Hiện nghề chế tác trống Chhay-Dăm cũng đang đứng trước nguy cơ mai một khi số người biết làm trống ngày càng giảm, hầu như không có lớp kế nghiệp, khiến nhiều đội trống phải mua nhạc cụ từ nơi khác với chi phí rất cao.

Ông Chau Sóc Huân, Phó Trưởng phòng Văn hóa - Xã hội xã Ô Lâm, cho biết: Công tác bảo tồn nghệ thuật diễn tấu trống Chhay-Dăm còn gặp nhiều khó khăn do lực lượng kế thừa ngày càng thiếu, nhiều thanh, thiếu niên chưa mặn mà theo học, trong khi nhạc cụ xuống cấp và kinh phí phục vụ tập luyện, biểu diễn, bảo quản còn hạn chế.

Biểu diễn nghệ thuật diễn tấu trống Chhay-Dăm tại chùa Snay Đon Kum, xã Ô Lâm, tỉnh An Giang.

Biểu diễn nghệ thuật diễn tấu trống Chhay-Dăm tại chùa Snay Đon Kum, xã Ô Lâm, tỉnh An Giang.

Để bảo tồn nghệ thuật diễn tấu trống Chhay-Dăm, ông Chau Sóc Huân, cho biết: Địa phương đang phối hợp với ngành văn hóa và các chùa Khmer mở lớp truyền dạy cho thanh, thiếu niên; hỗ trợ mua sắm nhạc cụ, trang phục; mời nghệ nhân giỏi trực tiếp hướng dẫn; đồng thời thành lập các đội trống phục vụ lễ hội nhằm tạo lực lượng kế cận và duy trì sức sống của nghệ thuật Chhay-Dăm.

Nguy cơ mai một nhiều loại hình nghệ thuật

Cùng với Chhay-Dăm, nhạc ngũ âm loại hình âm nhạc truyền thống gắn liền với các lễ hội, nghi lễ Phật giáo Nam tông và đời sống văn hóa của đồng bào Khmer cũng đang đối mặt với nhiều khó khăn trong công tác bảo tồn. Mặc dù hầu hết các chùa Khmer ở An Giang như: Tri Tôn, Tịnh Biên, Giang Thành, Hòn Đất, Gò Quao, Vĩnh Thuận... vẫn duy trì dàn nhạc ngũ âm, nhưng đội ngũ nghệ nhân ngày càng già hóa, số người biết chế tác và biểu diễn nhạc cụ giảm dần. Thiếu lớp kế thừa, nhạc cụ xuống cấp và kinh phí bảo quản hạn hẹp khiến nhiều dàn nhạc chỉ còn hoạt động vào các dịp lễ hội lớn.

Theo Sở Dân tộc và Tôn giáo An Giang: Hiện đội ngũ nghệ nhân Khmer, những người gìn giữ, thực hành và truyền dạy nghệ thuật truyền thống tại An Giang đang giảm cả về số lượng và khả năng hoạt động. Phần lớn nghệ nhân đều đã lớn tuổi, sức khỏe giảm sút, điều kiện kinh tế còn khó khăn, trong khi lớp trẻ ít quan tâm học nghề. Điều này làm gia tăng nguy cơ mai một các loại hình nghệ thuật truyền thống của đồng bào Khmer.

Tại các địa phương có đông đồng bào Khmer sinh sống như: Tri Tôn, Tịnh Biên, Giang Thành, Hòn Đất, Định Hòa, Gò Quao và Vĩnh Thuận, mỗi địa phương chỉ còn khoảng 5-10 nghệ nhân thường xuyên thực hành các loại hình như nhạc ngũ âm, trống Chhay-Dăm, Dù kê, Rô băm, Chầm Riêng Chà-pây, hát Aday… Hầu hết nghệ nhân đã lớn tuổi, từ 55 tuổi trở lên và nhiều nghệ nhân đã ngoài 70 tuổi.

Hiện tại các chùa Khmer trên địa bàn An Giang, nhiều nghệ nhân vẫn tâm huyết truyền dạy cho thế hệ trẻ, nhưng việc truyền nghề chủ yếu diễn ra tự phát, chưa có chương trình đào tạo bài bản, giáo trình thống nhất hay cơ chế hỗ trợ phù hợp. Các lớp truyền dạy do ngành văn hóa hoặc địa phương tổ chức chỉ diễn ra trong thời gian ngắn, chưa tạo được mô hình đào tạo lâu dài.

Bên cạnh đó, nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống Khmer đang đối mặt với nguy cơ mai một do thiếu lớp nghệ nhân kế cận; cách sử dụng nhạc cụ chưa được truyền dạy đầy đủ, có nguy cơ thất truyền. Một số đoàn Dù kê, Rô băm và dàn nhạc ngũ âm chỉ hoạt động cầm chừng vào dịp lễ hội, thậm chí phải mời nghệ nhân từ địa phương khác đến hỗ trợ. Song song đó, công tác lưu giữ tư liệu cũng còn nhiều hạn chế. Nhiều tài liệu về nghệ thuật truyền thống Khmer vẫn phân tán tại các chùa, nhà dân hoặc do nghệ nhân tự bảo quản nên dễ hư hỏng, thất lạc. Chưa có cơ sở dữ liệu số thống nhất khiến việc bảo tồn, nghiên cứu, truyền dạy và quảng bá các giá trị văn hóa gặp nhiều khó khăn.

Đưa di sản “sống” cùng cộng đồng

Đến nay, cộng đồng Khmer An Giang có năm Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia gồm Hội đua bò Bảy Núi, Tri thức và kỹ thuật viết chữ trên lá buông, Nghệ thuật trình diễn sân khấu Dì kê, Nghề làm đường thốt nốt và Nghệ thuật diễn tấu trống Chhay-Dăm. Đây là những di sản tiêu biểu, phản ánh chiều sâu văn hóa của cộng đồng Khmer Nam Bộ.

Để bảo tồn, khôi phục, gìn giữ và phát huy bền vững các giá trị nghệ thuật truyền thống của đồng bào Khmer trên địa bàn tỉnh An Giang, ông Lê Văn Phước, Phó Chủ tịch UBND tỉnh An Giang cho biết: UBND tỉnh đã xây dựng Đề án bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật truyền thống dân tộc Khmer giai đoạn 2026-2030 với mục tiêu bảo vệ, gìn giữ và phát huy bền vững các loại hình nghệ thuật truyền thống của đồng bào Khmer. Thời gian tới tỉnh sẽ rà soát, kiểm kê, hệ thống hóa các loại hình nghệ thuật tiêu biểu của đồng bào dân tộc Khmer; ưu tiên bảo vệ khẩn cấp những loại hình, bài bản có nguy cơ mai một; đồng thời chuẩn hóa công tác lưu giữ, tư liệu hóa và truyền dạy trong cộng đồng dân tộc Khmer. Đề án chú trọng phát triển đội ngũ kế thừa thông qua việc tạo điều kiện để nghệ nhân truyền nghề gắn với chùa Khmer, trường học và các thiết chế văn hóa; khuyến khích thanh thiếu niên tham gia học tập, thực hành và biểu diễn nghệ thuật.

Biểu diễn nghệ thuật diễn tấu trống Chhay-Dăm tại chùa Snay Đon Kum, xã Ô Lâm, tỉnh An Giang.

Biểu diễn nghệ thuật diễn tấu trống Chhay-Dăm tại chùa Snay Đon Kum, xã Ô Lâm, tỉnh An Giang.

Tỉnh sẽ khôi phục không gian sinh hoạt nghệ thuật tại cộng đồng, duy trì hoạt động biểu diễn gắn với các lễ hội truyền thống, xây dựng các câu lạc bộ nghệ thuật Khmer hoạt động thường xuyên; đồng thời kết nối nghệ thuật truyền thống với phát triển du lịch, truyền thông và các sản phẩm văn hóa nhằm tạo sinh kế cho nghệ nhân.

Đề án cũng đặt mục tiêu đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục về giá trị nghệ thuật Khmer, tăng cường giao lưu văn hóa giữa các dân tộc và xây dựng lòng tự hào về bản sắc văn hóa dân tộc. Đến năm 2030, An Giang phấn đấu hoàn thành bộ hồ sơ kiểm kê các loại hình nghệ thuật Khmer; xây dựng phim tư liệu, bản đồ văn hóa - nghệ thuật Khmer; tổ chức từ 5-7 lớp truyền dạy mỗi năm, hình thành ít nhất 2 câu lạc bộ nghệ thuật Khmer hoạt động thường xuyên. Tỉnh sẽ tổ chức liên hoan nghệ thuật truyền thống Khmer định kỳ 2 năm/lần và xây dựng kho dữ liệu số cùng chuyên trang về nghệ thuật Khmer phục vụ công tác bảo tồn, nghiên cứu và quảng bá.

Điểm mới của đề án là bảo tồn gắn với khai thác giá trị văn hóa phục vụ phát triển kinh tế. Trong đó, tỉnh An Giang sẽ xây dựng các sản phẩm du lịch trải nghiệm gắn với văn hóa Khmer như tham quan chùa Khmer, thưởng thức nghệ thuật Dù kê, nhạc ngũ âm, học múa Rom Vong, trải nghiệm các lễ hội Chôl Chnăm Thmây, Ok Om Bok và khám phá đời sống văn hóa Khmer tại các phum, sóc. Những không gian văn hóa cộng đồng dân tộc Khmer sẽ được kết nối thành các tuyến du lịch đặc trưng, vừa tạo sinh kế cho nghệ nhân, vừa góp phần nâng cao giá trị di sản./.

Dân tộc Khmer

Tên tự gọi: Người Khmer.

Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.

Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.

Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.

Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).

Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.

Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu (2).JPG
Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu

: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.

Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.

Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.

Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.

Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.

Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.

Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.

Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.

Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.

Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.

Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).

Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.

Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm.jpg
Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm

Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Khmer

Có thể bạn quan tâm

Độc đáo nghề làm mão, mặt nạ của đồng bào Khmer

Độc đáo nghề làm mão, mặt nạ của đồng bào Khmer

Đó là chủ đề trưng bày chuyên đề do Bảo tàng tỉnh Đắk Lắk phối hợp với Bảo tàng tỉnh Vĩnh Long tổ chức, ngày 11/9. Trưng bày giới thiệu đến công chúng những giá trị đặc sắc của nghề làm mão, mặt nạ truyền thống - di sản văn hóa gắn với đời sống tín ngưỡng và các loại hình nghệ thuật biểu diễn dân gian của đồng bào Khmer.

Nhịp cầu nối đôi bờ biên giới với những câu chuyện phối hợp và sẻ chia

Nhịp cầu nối đôi bờ biên giới với những câu chuyện phối hợp và sẻ chia

Tiếng hát “Việt Nam - Trung Hoa” vang lên trong buổi giao lưu tại phường Hà Giang 1, tỉnh Tuyên Quang, mở đầu cho những câu chuyện giữa cán bộ làm nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biên giới hai nước. Phía sau những tiết mục văn nghệ, trận bóng bàn và hành trình tìm hiểu các điểm đến của địa phương là một mối quan hệ được bồi đắp bằng nhiều năm phối hợp, chia sẻ và đồng hành.

Gìn giữ bản sắc văn hóa, tạo động lực phát triển vùng biên

Gìn giữ bản sắc văn hóa, tạo động lực phát triển vùng biên

Thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, tỉnh Lạng Sơn xác định, xây dựng và phát triển nền văn hóa toàn diện, giàu bản sắc, nhân văn, khoa học, hiện đại, trở thành nền tảng vững chắc, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực cho phát triển nhanh và bền vững.

Khai hội truyền thống Đền Minh Lương

Khai hội truyền thống Đền Minh Lương

Trong tiết thu dịu mát, tiếng trống khai hội vang lên giữa không gian cổ kính của Đền Minh Lương, xã Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang, mở đầu những ngày hội đậm sắc màu văn hóa, tín ngưỡng.

Đặc sắc Lễ hội Trung Nguyên Kiến Tiêu Nghinh ông Quan Thánh Đế Quân xuất du

Đặc sắc Lễ hội Trung Nguyên Kiến Tiêu Nghinh ông Quan Thánh Đế Quân xuất du

Sáng 6/9 (tức ngày 25/7 âm lịch), tại phường Phan Thiết (tỉnh Lâm Đồng), đoàn Quan Thánh Đế Quân xuất du diễn ra trong sự thích thú của đông đảo người dân địa phương và du khách. Đây là phần hội quan trọng và đặc sắc nhất của Lễ hội Trung Nguyên Kiến Tiêu Nghinh ông Quan Thánh Đế Quân xuất du lần thứ 15 - năm 2026.

'Đánh thức' nếp nhà xưa và các giá trị văn hóa bản địa

'Đánh thức' nếp nhà xưa và các giá trị văn hóa bản địa

Nằm nép mình bên những ghềnh đá cổ ven biển Sa Huỳnh, làng Gò Cỏ (phường Sa Huỳnh, tỉnh Quảng Ngãi) đang trở thành điểm đến hấp dẫn du khách trong và ngoài nước nhờ mô hình du lịch cộng đồng gắn liền với việc bảo tồn không gian kiến trúc truyền thống và các giá trị văn hóa bản địa.

Thắt chặt tình đoàn kết, hữu nghị giữa nhân dân khu vực biên giới Việt Nam - Lào

Thắt chặt tình đoàn kết, hữu nghị giữa nhân dân khu vực biên giới Việt Nam - Lào

Từ ngày 31/8 - 2/9, tại khu vực Cửa khẩu Quốc tế Lóng Sập, xã Lóng Sập diễn ra các hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch thu hút đông đảo du khách và nhân dân biên giới Việt Nam và Lào tham gia. Đây là sự kiện trong chuỗi hoạt động thuộc Tuần Văn hóa - Du lịch Mộc Châu năm 2026, do Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La tổ chức.

Rộn ràng Tết Độc lập ở các bản làng vùng cao Điện Biên

Rộn ràng Tết Độc lập ở các bản làng vùng cao Điện Biên

Tết Độc lập 2/9 không chỉ rộn ràng ở các đô thị mà còn lan tỏa đến những bản làng vùng cao Điện Biên. Trong sắc cờ đỏ, đồng bào các dân tộc khoác lên mình trang phục truyền thống, hòa vào các hoạt động văn hóa, vui hội và đón du khách, cùng lan tỏa niềm tự hào về quê hương, đất nước.

Lai Châu: Trích đoạn Lễ hội Gầu tào văn hóa dân tộc Mông chào mừng Tết Độc lập

Lai Châu: Trích đoạn Lễ hội Gầu tào văn hóa dân tộc Mông chào mừng Tết Độc lập

Trong khuôn khổ các hoạt động chào mừng Tết Độc lập năm 2026, ngày 2/9/2026, tại Không gian văn hóa Mông thuộc sân vận động xã Than Uyên, Bảo tàng tỉnh Lai Châu phối hợp với UBND xã Than Uyên tổ chức trình diễn cúng cây nêu trích đoạn trong Lễ hội Gầu tào của dân tộc Mông. Đây là một trong những điểm nhấn đặc sắc, thu hút đông đảo nhân dân và du khách thập phương đến tham quan, trải nghiệm. 

Gần 3.000 người tham gia giải chạy “Đón bình minh trên biển” vào sáng 2/9

Gần 3.000 người tham gia giải chạy “Đón bình minh trên biển” vào sáng 2/9

Sáng 2/9, tại Quảng trường Tháp Nghinh Phong (phường Tuy Hòa), Giải chạy Tuy Hòa bán marathon 2026 “Đón bình minh trên biển” do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk tổ chức đã hoàn thành các phần thi. Giải có sự tham gia của gần 3.000 vận động viên, xuất phát vào lúc 4 giờ sáng 2/9 với hành trình đi qua các tuyến đường ở phường, kết nối các địa điểm du lịch như Tháp Nghinh Phong, Tháp Nhạn và khu vực biển Tuy Hòa.

Lai Châu chào mừng Tết Độc lập

Lai Châu chào mừng Tết Độc lập

Sáng 2/9/2026, tại Sân vận động xã Than Uyên, tỉnh Lai Châu diễn ra Lễ thượng cờ chào mừng Tết Độc lập năm 2026 với sự tham gia của hơn 2.000 cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, học sinh, nhân dân các dân tộc tỉnh Lai Châu cùng du khách. Sau lễ thượng cờ là các hoạt động múa sạp, diễu hành đường phố mang đậm sắc màu văn hóa các dân tộc vùng cao Lai Châu.

Mộc Châu - Tiếng gọi mùa yêu

Mộc Châu - Tiếng gọi mùa yêu

Nằm trong chuỗi các hoạt động Tuần Văn hóa - Du lịch Mộc Châu năm 2026, tối 1/9, tại Quảng trường 8/5 (phường Mộc Châu), tỉnh Sơn La tổ chức Chương trình nghệ thuật với chủ đề "Mộc Châu - Tiếng gọi mùa yêu", chào mừng kỷ niệm 81 năm ngày "Tết Độc lập" - Quốc khánh 2/9. Chương trình thu hút đông đảo du khách và nhân dân các dân tộc tỉnh Sơn La đến dự.

Về nơi Tết Độc lập đậm sắc Mường

Về nơi Tết Độc lập đậm sắc Mường

Trong không khí đón mừng Tết Độc lập 2/9, đồng bào Mường ở Lạc Sơn, tỉnh Phú Thọ lại sum họp, tổ chức các hoạt động theo phong tục được duy trì qua nhiều thế hệ. Từ bữa cơm đoàn tụ, những món quà biếu cha mẹ đến bánh uôi, tiếng chiêng, lời hát đối, những phong tục ấy góp phần tạo nên nét văn hóa đặc sắc trong ngày Tết của đồng bào Mường nơi đây.

Tiếng nhạc ngũ âm giữ hồn văn hóa Khmer ở An Giang

Tiếng nhạc ngũ âm giữ hồn văn hóa Khmer ở An Giang

Với đồng bào Khmer Nam Bộ, nhạc ngũ âm không chỉ góp phần tạo nên không khí trang nghiêm trong các nghi lễ Phật giáo hay rộn ràng trong những lễ hội truyền thống, mà còn là một phần văn hóa được gìn giữ và trao truyền qua nhiều thế hệ. Tại các ngôi chùa Khmer ở An Giang, những lớp học nhạc ngũ âm đang giúp thế hệ trẻ hiểu, yêu và tiếp tục gìn giữ những thanh âm đặc trưng của dân tộc mình.

Sức trẻ gìn giữ âm nhạc truyền thống Tây Nguyên

Sức trẻ gìn giữ âm nhạc truyền thống Tây Nguyên

Phía Tây của tỉnh Quảng Ngãi là nơi mang đậm nét văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên; trong đó âm nhạc đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống của bà con nhân dân nơi đây.