Phật giáo Nam tông và sứ mệnh bảo tồn bản sắc văn hóa vùng đồng bào Khmer

Tại thành phố Cần Thơ, Phật giáo Nam tông tiếp tục thể hiện rõ vai trò trụ cột trong việc gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Khmer. Không chỉ là điểm tựa tâm linh thiêng liêng, thiết chế này còn là không gian giáo dục, bảo vệ di sản và thắt chặt đại đoàn kết dân tộc.

can-tho-31526.jpg
Các ngôi chùa phật giáo Nam tông Khmer được trang trí rực rỡ, chuẩn bị cho các nghi thức quan trọng ngày Maha Sangkran, thành phố Cần Thơ. Ảnh: Nguyễn Hằng/TTXVN

Tôn giáo gắn bó “máu thịt” với đồng bào Khmer

Thành phố Cần Thơ hiện là nơi sinh sống của nhiều dân tộc thiểu số, trong đó dân tộc Khmer có trên 543.000 người, chiếm hơn 14% dân số thành phố. Hầu hết đồng bào Khmer tại đây đều theo Phật giáo Nam tông Khmer, với các sinh hoạt tôn giáo tập trung tại 120 ngôi chùa và 37 salatel (nơi gửi gắm niềm tin của bà con đồng bào dân tộc Khmer) trên địa bàn.

Từ xa xưa, đời sống của đồng bào Khmer đã gắn bó mật thiết với Phật giáo Nam tông Khmer. Hòa thượng Đào Như, Trưởng Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành phố Cần Thơ khẳng định: "Trong dân tộc Khmer và Phật giáo Nam tông Khmer, giữa tôn giáo và dân tộc luôn có sự gắn kết với nhau như một, luôn chia ngọt sẻ bùi, chia vui sẻ buồn trong mọi hoàn cảnh dù chiến tranh hay hòa bình".

Theo Hòa thượng Đào Như, với tập quán lâu đời, người Khmer luôn ưu tiên xây chùa ở giữa các Srok (khu dân cư của đồng bào Khmer). Nguyên nhân vì các chùa được định vị là trung tâm sinh hoạt cộng đồng toàn diện, đây là nơi thực hiện các nghi lễ theo giới luật Phật giáo, lễ hội theo phong tục tập quán của giới sư sãi và đồng bào dân tộc Khmer, là nơi giữ gìn tiếng nói, chữ viết, phong tục tập quán tốt đẹp của đồng bào.

Giữa nhịp sống hối hả của quá trình đô thị hóa, các ngôi chùa Phật giáo Nam tông Khmer vẫn giữ vai trò “cột mốc văn hóa”, lưu giữ vẹn nguyên các kiến trúc nghệ thuật độc đáo; đồng thời, là nơi sinh hoạt các lễ hội truyền thống như: Chôl Chnăm Thmây, Sene Đolta, Ok Om Bok theo nếp sống mới, vừa mang đậm bản sắc dân tộc.

Đánh giá về giá trị gắn kết của các hoạt động này, Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước thành phố Cần Thơ cho biết, qua những hoạt động sinh hoạt văn hóa, mỗi ngôi chùa tiếp tục khẳng định vững chắc vị thế là trung tâm sinh hoạt tôn giáo, văn hóa, đồng thời là không gian thiêng liêng gắn kết cộng đồng nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc. Đáng quý hơn, không chỉ dừng lại ở các dịp lễ trọng, các chùa còn duy trì thường xuyên việc dạy chữ Khmer và tổ chức các hoạt động giáo dục đạo đức, lối sống cho thế hệ thanh thiếu niên. Chính sự lan tỏa từ các không gian văn hóa này đã âm thầm góp phần xây dựng nếp sống mới trong từng gia đình, thắt chặt thêm tình làng nghĩa xóm và khuyến khích đồng bào tương trợ lẫn nhau để cùng vươn lên phát triển.

Từ những kết quả đạt được, để tiếp tục phát huy những giá trị cốt lõi của Phật giáo Nam tông Khmer, Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước thành phố Cần Thơ xác định ưu tiên hàng đầu là việc duy trì và nâng cao chất lượng sinh hoạt tôn giáo, đảm bảo cho các hoạt động tín ngưỡng cùng các lễ hội bám sát các giá trị truyền thống tốt đẹp.

Bên cạnh đó, sứ mệnh bảo tồn bản sắc văn hóa tiếp tục được Hội đặc biệt chú trọng thông qua việc duy trì đều đặn các lớp dạy chữ Khmer và tổ chức các sinh hoạt văn hóa truyền thống ngay tại không gian chùa, xem đây là “chiếc nôi” nuôi dưỡng gốc rễ văn hóa cho thế hệ trẻ.

Hội cũng đề ra khuyến nghị các vị trụ trì cùng ban quản trị các chùa Khmer đảm bảo vai trò tiên phong trong động viên sư sãi, đồng bào phật tử; qua đó, khơi dậy truyền thống đoàn kết, khuyến khích hăng hái thi đua lao động sản xuất, cải thiện đời sống và tích cực chung tay xây dựng nếp sống văn hóa lành mạnh tại các khu dân cư.

Cầu nối "Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội"

Những giá trị văn hóa của Phật giáo Nam tông Khmer không chỉ nằm ở bề sâu tâm linh, còn chuyển hóa thành hành động thiết thực. Với phương châm "Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội", thời gian qua, hệ phái luôn đồng hành cùng chính quyền trong các phong trào thi đua yêu nước.

Chia sẻ về thực tiễn hoạt động tại cơ sở, ông Điền Vôn, thành viên Ban quản trị chùa Chrôi Tưm Chăs (phường Mỹ Xuyên) cho biết, Ban Quản trị chùa đóng vai trò nòng cốt trong tuyên truyền chính sách, đoàn kết dân tộc, giữ gìn bản sắc văn hóa và xây dựng nông thôn mới. Các sư trụ trì và thành viên Ban quản trị thường là những người có uy tín cao, am hiểu và nói được tiếng dân tộc thiểu số, hiểu biết phong tục tập quán nên "rất thuận lợi trong các cuộc nói chuyện, tuyên truyền, vận động"; giúp bà con xóa bỏ hủ tục, thực hiện tốt chính sách của Đảng và Nhà nước.

Nhìn về sự đồng hành của Phật giáo Nam tông Khmer với sự phát triển của thành phố, Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Cần Thơ Triệu Thị Ngọc Diễm nhận định, Phật giáo Nam tông Khmer tại thành phố Cần Thơ là một bộ phận không thể tách rời của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, luôn có đóng góp quan trọng và là cầu nối vững chắc giữa Đảng, chính quyền với đồng bào dân tộc Khmer.

Những đóng góp này được thể hiện rất rõ nét tại các phum sóc, nơi các vị sư sãi cùng Ban Quản trị chùa luôn khéo léo vận động phật tử hăng hái tăng gia sản xuất, tự nguyện hiến đất và góp công làm đường. Nhờ đó, nhiều cơ sở thờ tự đã trở thành điểm sáng tiêu biểu về công tác bảo vệ môi trường. Đặc biệt, với tinh thần từ bi cứu khổ, Phật giáo Nam tông Khmer thời gian qua đã huy động hàng tỷ đồng để xây dựng nhà Đại đoàn kết, trao học bổng và từng kề vai sát cánh cùng chính quyền vượt qua giai đoạn đại dịch COVID - 19 đầy cam go.

Bên cạnh việc chăm lo đời sống vật chất, các vị chức sắc còn là điểm tựa tinh thần uy tín, giúp hòa giải nhiều vướng mắc ngay từ cơ sở, đồng thời tích cực tuyên truyền pháp luật và nhắc nhở bà con cảnh giác trước các thủ đoạn xuyên tạc, chia rẽ.

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố nhấn mạnh định hướng sẽ bám sát tâm tư và nguyện vọng chính đáng của các vị chức sắc cùng đồng bào phật tử để kịp thời tháo gỡ khó khăn trong đời sống sinh hoạt đồng bào Khmer; đồng thời; tích cực phối hợp với Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo thành phố tiếp sức cho các lớp học chữ Khmer dịp hè và không ngừng nâng tầm đời sống tinh thần cho đồng bào Khmer.

Nhận thức sâu sắc vị trí trung tâm của Phật giáo Nam tông Khmer trong đời sống đồng bào, Hòa thượng Đào Như, Trưởng Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành phố Cần Thơ khẳng định, công tác nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo các tăng sư thời gian tới được đặt lên hàng đầu. Việc chú trọng đào tạo này không chỉ nhằm thực hiện mục tiêu “hoằng dương chánh pháp” gắn với phương châm “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”, còn trực tiếp góp phần phát triển nguồn nhân lực cho địa phương và đồng bào Khmer.

Ban Trị sự định hướng củng cố mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Giáo hội với Phật giáo Nam tông Khmer và cộng đồng, nhấn mạnh vai trò quan trọng của chùa và các cơ sở đào tạo trong việc bảo tồn văn hóa truyền thống, phù hợp với chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước. Các hoạt động thiết thực được định hướng bao gồm giữ gìn kiến trúc chùa Khmer, nghệ thuật, lễ hội và công tác truyền dạy chữ Khmer cùng các nghi lễ truyền thống./.

Trung Kiên/TTXVN
Dân tộc Khmer

Tên tự gọi: Người Khmer.

Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.

Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.

Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.

Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).

Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.

Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu (2).JPG
Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu

Ở: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.

Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.

Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.

Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.

Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.

Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.

Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.

Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.

Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.

Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.

Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).

Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.

Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm.jpg
Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm

Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Khmer

Có thể bạn quan tâm

Đồi Cổ Thạch: Dấu tích xưa giữa miền biển bình yên

Đồi Cổ Thạch: Dấu tích xưa giữa miền biển bình yên

Nằm ở thôn Phú Hạnh, xã Tuy An Đông, tỉnh Đắk Lắk, đồi Cổ Thạch thu hút du khách bởi cảnh quan núi biển giao hòa, con đường đá được người dân truyền lại là có từ hàng trăm năm trước cùng rừng duối lâu năm.

Về 'Ta lêu' nghe tâm tình người H’rê

Về 'Ta lêu' nghe tâm tình người H’rê

Giữa núi rừng Ba Vì, tỉnh Quảng Ngãi, một quán cà phê mang tên “Ta lêu” đang mở ra không gian giao lưu văn hóa độc đáo, nơi những làn điệu dân ca H’rê đến gần hơn với giới trẻ và du khách.

Văn hóa là sức mạnh mềm quốc gia trong kỷ nguyên mới

Văn hóa là sức mạnh mềm quốc gia trong kỷ nguyên mới

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã xác định phát triển nguồn lực con người và phát triển văn hóa được đặt trong nhóm nhiệm vụ trọng tâm, nhằm biến văn hóa thành nền tảng tỉnh thần, sức mạnh nội sinh và động lực to lớn cho phát triển nhanh, bền vững đất nước.

Bảo tồn, phát huy giá trị di sản gốm Chăm

Bảo tồn, phát huy giá trị di sản gốm Chăm

Ngày 29/11/2022, Nghệ thuật làm gốm của người Chăm được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Sau gần 4 năm, vấn đề đặt ra không còn chỉ là quảng bá danh hiệu, mà là phải lượng hóa được sức sống thực sự của nghề, nhận diện những nguy cơ và chứng minh hiệu quả của các giải pháp bảo vệ.

Sẵn sàng cho Lễ hội Văn hóa, Du lịch Mường Lò rực rỡ, văn minh

Sẵn sàng cho Lễ hội Văn hóa, Du lịch Mường Lò rực rỡ, văn minh

Từ ngày 15 - 21/10, tại Nghĩa Lộ (tỉnh Lào Cai) sẽ diễn ra Lễ hội Văn hóa, Du lịch Mường Lò năm 2026. Đêm khai mạc vào tối 16/10 với chương trình nghệ thuật đặc sắc “Xòe Thái - Trọn một vòng yêu” được kỳ vọng là điểm nhấn hội tụ sắc màu Tây Bắc. 

Cao Bằng quảng bá làng nghề truyền thống tới du khách

Cao Bằng quảng bá làng nghề truyền thống tới du khách

Được tổ chức vào các ngày cuối tuần tại phố đi bộ Kim Đồng, Tuần trải nghiệm làng nghề truyền thống “Bàn tay người Cao Bằng” mang đến cho người dân và du khách cơ hội khám phá, trải nghiệm trực tiếp các nét văn hóa độc đáo cùng kỹ thuật chế tác thủ công tinh xảo.

Triển lãm 'Sắc màu văn hóa Chăm', trải nghiệm tour di sản tại Lâm Đồng

Triển lãm 'Sắc màu văn hóa Chăm', trải nghiệm tour di sản tại Lâm Đồng

Chào mừng Lễ hội Katê 2026, chuỗi hoạt động văn hóa dân gian Chăm vừa khai mạc ngày 11/10 tại Lâm Đồng với hơn 1.500 hiện vật gốc cùng các màn trình diễn nghề truyền thống. Đặc biệt, đây là lần đầu tiên địa phương đưa vào vận hành tour tham quan kết nối Đền thờ Pô Nít và làng gốm Bình Đức.

Bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc Thái qua Lễ hội Kin Lẩu Khẩu Mẩu

Bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc Thái qua Lễ hội Kin Lẩu Khẩu Mẩu

Ngày 11/10, Lễ hội Kin Lẩu Khẩu Mẩu năm 2026 được tổ chức tại xã Phong Thổ (tỉnh Lai Châu). Đây là hoạt động văn hóa truyền thống mang đậm bản sắc của đồng bào Thái, gắn với đời sống lao động sản xuất, nền văn minh lúa nước và những phong tục tốt đẹp được gìn giữ.

Lễ hội cốm Thuận Hòa, nơi hòa mình vào văn hóa Tày

Lễ hội cốm Thuận Hòa, nơi hòa mình vào văn hóa Tày

Chiều 10/10, UBND xã Thuận Hòa (Tuyên Quang) đã tổ chức Lễ hội Cốm - Hương cốm sắc thu năm 2026, thu hút đông đảo người dân và du khách tham gia. Lễ hội là dịp tôn vinh nghề làm cốm truyền thống của đồng bào dân tộc Tày, góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa và quảng bá sản phẩm đặc trưng của địa phương.

Độc đáo Lễ hội Katê của đồng bào Chăm theo đạo Bàlamôn

Độc đáo Lễ hội Katê của đồng bào Chăm theo đạo Bàlamôn

Sáng 10/10, Lễ hội Katê năm 2026 của đồng bào Chăm theo đạo Bàlamôn tỉnh Lâm Đồng đã khai mạc tại di tích tháp Pô Sah Inư, phường Phú Thủy, thu hút hàng nghìn người dân, du khách trong và ngoài nước tham quan, tìm hiểu nét văn hóa độc đáo này.

Rước y trang lễ Katê - Nét đẹp văn hóa của đồng bào Chăm

Rước y trang lễ Katê - Nét đẹp văn hóa của đồng bào Chăm

Qua mỗi mùa Katê, những bộ y trang thiêng lại được đồng bào Raglai trao cho cộng đồng Chăm để thực hiện nghi lễ truyền thống. Đây cũng là minh chứng sinh động cho mối quan hệ gắn bó lâu đời giữa hai cộng đồng Chăm và Raglai trên vùng đất Nam Trung Bộ.

Giữ mạch nguồn văn hóa Mông ở Điện Biên

Giữ mạch nguồn văn hóa Mông ở Điện Biên

Là một trong ba dân tộc có dân số đông nhất tỉnh Điện Biên, đồng bào Mông sinh sống chủ yếu ở các vùng núi cao và vẫn gìn giữ nhiều giá trị văn hóa đặc sắc, từ tiếng khèn, trang phục truyền thống, nghề thủ công đến những phong tục, lễ hội. Trong nhịp sống hôm nay, những giá trị ấy đang tiếp tục được trao truyền và phát huy, góp phần làm nên bản sắc văn hóa riêng có của Điện Biên.