Tối 10/4, tại Hội trường Đảng ủy xã Hòn Đất, Ban Chỉ đạo các hoạt động “Tết Quân - Dân” tỉnh An Giang đã tổ chức Lễ tổng kết chương trình “Tết Quân - Dân” mừng Tết cổ truyền Chôl Chnăm Thmây năm 2026 với chủ đề “Quân - Dân An Giang mừng Chôl Chnăm Thmây năm 2026”.
Ban tổ chức tặng quà cho gia đình chính sách, người có công.
Theo Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang Lê Văn Phước, Trưởng ban Chỉ đạo các hoạt động “Tết Quân - Dân” tỉnh An Giang, sau hơn 3 tháng triển khai chương trình “Tết Quân - Dân” mừng Tết cổ truyền Chôl Chnăm Thmây năm 2026, Ban tổ chức huy động tổng nguồn lực trên 8 tỷ đồng và từ nguồn kinh phí này đã thực hiện nhiều công trình, phần việc có ý nghĩa thiết thực chăm lo, nâng cao đời sống nhân dân, nhất là người dân vùng đồng bào Khmer. Qua đó, góp phần thay đổi diện mạo nông thôn, phát triển kinh tế, xã hội của xã Hòn Đất.
Điển hình là chương trình “Tết Quân - Dân” mừng Tết cổ truyền Chôl Chnăm Thmây đã xây dựng 50 căn nhà cho hộ nghèo, cận nghèo, gia đình chính sách (vượt 10 căn so với kế hoạch) với tổng kinh phí hơn 3 tỷ đồng; xây dựng, hoàn thành 8 cây cầu giao thông nông thôn (vượt 5 cầu so với kế hoạch); triển khai mô hình trồng lúa chất lượng cao trị giá 500 triệu đồng, đầu tư đèn thắp sáng 3 km đường giao thông, xây dựng tuyến đường hoa nông thôn dài 11 km, hỗ trợ 100 thiết bị lọc nước và 100 dụng cụ chứa nước cho người dân.
Đại tá Cao Minh Tâm, Phó Chính ủy Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh An Giang trao quà cho dân quân tự vệ xã Hòn Đất.
Chương trình dành kinh phí trên 1 tỷ đồng triển khai nhiều hoạt động chăm lo an sinh xã hội như, tổ chức khám bệnh, cấp thuốc miễn phí cho hơn 500 lượt người; tặng gần 2.000 suất quà cho hộ nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn; trao hàng trăm suất học bổng, xe đạp, dụng cụ học tập tặng học sinh có hoàn cảnh khó khăn… trong đó chủ yếu là người Khmer, qua đó, góp phần cùng đồng bào Khmer đón Tết cổ truyền đủ đầy, ấm áp.
Bên cạnh các công trình, phần việc, chương trình còn tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao mang đậm bản sắc Khmer như, biểu diễn nghệ thuật, múa dân gian, nhạc ngũ âm, hội thi gói bánh tét… tạo không khí vui tươi, phấn khởi trong nhân dân dịp Tết Chôl Chnăm Thmây.
Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang Lê Văn Phước ghi nhận và đánh giá cao lực lượng vũ trang tỉnh đã phát huy vai trò nòng cốt, trực tiếp tham gia hàng nghìn ngày công lao động giúp dân xây dựng nhà ở, làm cầu, sửa chữa đường giao thông, chỉnh trang cảnh quan môi trường… Qua đó tiếp tục thắt chặt mối quan hệ đoàn kết quân - dân, góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” ngày càng vững chắc.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh An Giang Lê Văn Phước trao Quyết định và cờ giao nhiệm vụ cho xã Gò Quao tổ chức các hoạt động “Tết Quân - Dân” Chôl Chnăm Thmây năm 2027.
Tại buổi lễ, Ban Tổ chức đã trao 50 phần quà cho lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ, gia đình chính sách là người khmer có hoàn cảnh khó khăn và 20 suất học bổng tặng học sinh nghèo vượt khó học giỏi là người dân tộc khmer.
Ban Chỉ đạo cũng công bố quyết định giao nhiệm vụ tổ chức các hoạt động “Tết Quân - Dân” năm 2027 Chôl Chnăm Thmây cho xã Gò Quao, tiếp tục lan tỏa mô hình dân vận hiệu quả, góp phần xây dựng nông thôn mới và củng cố quốc phòng - an ninh trên địa bàn./.
Tên tự gọi: Người Khmer.
Tên gọi khác: Cur, Cul, Cu Thổ, Việt gốc Miên, Khơ Me K’rôm.
Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.
Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.
Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.
Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).
Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.
Ở: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.
Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.
Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.
Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.
Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.
Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.
Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.
Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.
Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.
Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.
Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).
Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.
Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.
Theo cema.gov.vn