Trưa 10/4, Đoàn công tác của Bộ Dân tộc và Tôn giáo do đồng chí Y Thông, Thứ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo làm Trưởng đoàn đã đến thăm, chúc Tết Chôl Chnăm Thmây tại tỉnh Cà Mau.
Tham gia đoàn có Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau Huỳnh Chí Nguyện cùng đại diện lãnh đạo Sở Dân tộc và Tôn giáo, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh.
Tại các nơi đến, Thứ trưởng Y Thông ân cần thăm hỏi sức khỏe, đời sống của các vị hòa thượng, thượng tọa, đại đức cùng đồng bào Khmer; đồng thời gửi lời chúc năm mới an khang, thịnh vượng, vui tươi, đoàn kết, an toàn, tiết kiệm. Thông tin khái quát tình hình kinh tế - xã hội và những thành tựu nổi bật của cả nước trong năm qua, Thứ trưởng nhấn mạnh và đánh giá cao vai trò của các vị chức sắc, chức việc và người có uy tín trong đồng bào Khmer trong việc vận động phật tử, nhân dân chấp hành tốt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn bản sắc văn hóa, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Thứ trưởng ghi nhận những đóng góp của đồng bào Khmer trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo tồn bản sắc văn hóa; đồng thời đề nghị các vị chức sắc, người có uy tín tiếp tục phát huy vai trò, vận động đồng bào chấp hành tốt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, chung tay xây dựng địa phương ngày càng phát triển.
Đồng chí đồng chí Y Thông, Thứ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo tặng quà đến 4 cá nhân tiêu biểu đồng bào dân tộc Khmer nhân chuyến thăm, chúc mừng Tết Chôl Chnăm Thmây tại Cà Mau.
Thay mặt chư tăng, sư sãi và đồng bào Phật tử Khmer, Hòa thượng Dương Quân, Phó Chủ tịch Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước tỉnh Cà Mau, Trụ trì chùa Komphir Sakor Prek Chrou (chùa Xiêm Cán, phường Hiệp Thành) bày tỏ trân trọng trước sự quan tâm của Đảng, Nhà nước; khẳng định sẽ tiếp tục đồng hành cùng dân tộc, góp phần xây dựng phum sóc và quê hương Cà Mau ngày càng phát triển, phồn thịnh, văn minh.
Theo Hòa thượng Dương Quân, thời gian qua, nhờ sự quan tâm, hỗ trợ của các cấp chính quyền, đời sống đồng bào Khmer có nhiều chuyển biến tích cực; sản xuất ổn định hơn, các giá trị văn hóa - tín ngưỡng được giữ gìn. Sự quan tâm của lãnh đạo Trung ương và địa phương dịp Tết Chôl Chnăm Thmây là nguồn động viên tinh thần to lớn đối với đồng bào, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Dịp này, Đoàn công tác cùng lãnh đạo tỉnh đã trao quà cho chư tăng, sư sãi, đồng bào Phật tử Khmer; tặng quà 4 cá nhân tiêu biểu là người dân tộc Khmer, 6 người có uy tín và 17 hộ gia đình Khmer có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn phường Hiệp Thành.
Chiều cùng ngày, Đoàn công tác đến thăm, tặng quà tại Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước tỉnh Cà Mau; chùa Monivongsa (khóm 2, phường An Xuyên); Trường Phổ thông Dân tộc nội trú tỉnh Cà Mau (phường An Xuyên); thăm các nhà giáo, nghệ nhân tiêu biểu trong đồng bào Khmer trên địa bàn tỉnh.
Đồng chí đồng chí Y Thông, Thứ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo tặng quà đến Người có uy tín tại phường Hiệp Thành (tỉnh Cà Mau) nhân chuyến thăm, chúc mừng Tết Chôl Chnăm Thmây tại Cà Mau.
Toàn tỉnh Cà Mau hiện có 26.832 hộ đồng bào dân tộc thiểu số, với 116.319 nhân khẩu, chiếm 5,04% dân số. Những năm qua, đồng bào Khmer trên địa bàn tỉnh không ngừng nỗ lực phát triển kinh tế, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, từng bước ổn định đời sống; đồng thời tích cực giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, góp phần xây dựng địa phương văn minh, hiện đại.
Tết Chôl Chnăm Thmây năm 2026 của đồng bào Khmer diễn ra vào các ngày 14, 15 và 16/4/2026. Đón Tết Chôl Chnăm Thmây 2026 truyền thống, đồng bào Khmer Nam Bộ nói chung, đồng bào Khmer Cà Mau nói riêng kỳ vọng về một năm mới phát triển, phum sóc ngày càng vươn mình, đổi mới./.
Tên tự gọi: Người Khmer.
Tên gọi khác: Cur, Cul, Cu Thổ, Việt gốc Miên, Khơ Me K’rôm.
Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.
Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.
Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.
Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).
Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.
Ở: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.
Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.
Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.
Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.
Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.
Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.
Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.
Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.
Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.
Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.
Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).
Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.
Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.
Theo cema.gov.vn