Sau một năm triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Lào Cai ghi nhận những chuyển biến tích cực trong công tác quản lý, điều hành và phục vụ người dân.
Chủ tịch UBND xã Việt Hồng Nguyễn Tiến Chiển hướng dẫn người dân thực hiện các thao tác trên Robot AI.
Lấy người dân, doanh nghiệp là trung tâm
Xã Việt Hồng được thành lập trên cơ sở sáp nhập 3 xã Việt Hồng, Việt Cường, Vân Hội, với diện tích tự nhiên hơn 101 km2, có 12 thôn và gần 11.000 nhân khẩu, chủ yếu là dân tộc Kinh, Tày, Dao. Là vùng quê giàu truyền thống cách mạng, nơi thành lập Chi bộ Đảng đầu tiên của Đảng bộ Yên Bái trước đây, xã Việt Hồng có nhiều đổi thay sau khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Một trong những dấu ấn rõ nét nhất sau một năm thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở xã Việt Hồng là sự chuyển biến mạnh mẽ trong cải cách hành chính và chuyển đổi số.
Việc đưa Robot AI vào hoạt động tại Trung tâm Phục vụ Hành chính công xã Việt Hồng đã giúp người dân không còn cảnh đứng quanh bàn cán bộ để hỏi về thủ tục và không còn phải chờ đợi lâu.
Ghi nhận của phóng viên tại Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Việt Hồng cho thấy, người dân đến giao dịch được cán bộ hướng dẫn tận tình, nhiều thủ tục được giải quyết ngay tại cơ sở mà không phải qua cấp trung gian như trước. Đặc biệt, sau khi địa phương chủ động đưa Robot ứng dụng công nghệ AI vào hoạt động tại Trung tâm Phục vụ Hành chính công giúp người dân không còn cảnh đứng quanh bàn cán bộ để hỏi về thủ tục và không còn phải chờ đợi lâu. Khi người dân đến, chỉ cần quét Căn cước công dân và đưa ra yêu cầu, robot tự động hướng dẫn chi tiết các thành phần hồ sơ cần thiết, thậm chí in luôn biểu mẫu tại chỗ.
Là một trong những người dân đến Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Việt Hồng để giải quyết thủ tục về đất đai, bà Hoàng Thị Lan ở bản Phạ, xã Việt Hồng chia sẻ, bà thường xuyên đi làm các thủ tục giấy tờ liên quan đến lĩnh vực đất đai, khi đến Trung tâm chỉ cần đặt Căn cước công dân rồi với câu lệnh đơn giản: “Tôi muốn thực hiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, bà đã được Robot AI hướng dẫn chi tiết các bước thực hiện từ chuẩn bị hồ sơ, nộp hồ sơ đến tiếp nhận và kiểm tra.
Trước đây, có lúc do thiếu một số giấy tờ lại phải chạy về nhà lấy hoặc đi in chỗ khác. Nhưng nay, nhờ có Robot AI, chỉ cần nêu rõ yêu cầu, hệ thống hướng dẫn cụ thể và còn in trực tiếp các giấy tờ liên quan.
Người dân đến làm thủ tục hành chính được cán bộ xã Việt Hồng hướng dẫn tận tình.
Cùng chung cảm nhận, chị Nguyễn Thị Ngọc Hồng, bản Phạ phấn khởi chia sẻ, việc bỏ cấp trung gian đã mang lại nhiều thuận lợi cho người dân trong giải quyết các thủ tục hành chính, quãng đường đi lại gần hơn, tiết kiệm thời gian và chi phí cho người dân. Trước đây, mỗi lần lên huyện làm giấy tờ thường rất đông, phải chờ đợi lâu, có khi mất cả buổi hoặc cả ngày. Bây giờ đến xã mọi việc nhanh hơn nhiều. Cán bộ tiếp dân hướng dẫn tận tình, thủ tục gọn nhẹ, giải quyết đúng yêu cầu của người dân.
Ông Nguyễn Tiến Chiển, Chủ tịch UBND xã Việt Hồng cho biết, sau một năm hoạt động, xã tiếp nhận 5.484 hồ sơ, trong đó có 5.480 hồ sơ giải quyết trước hạn, đạt trên 99,9%. Kết quả đánh giá chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp trên môi trường điện tử đạt 94,27 điểm, xếp thứ 3 trong tổng số 99 đơn vị cấp xã trên địa bàn tỉnh Lào Cai; tỷ lệ người dân hài lòng đạt trên 99,9 %. Những con số trên không chỉ phản ánh hiệu quả cải cách hành chính mà còn cho thấy sự thay đổi rõ nét trong cảm nhận của người dân trên địa bàn.
Thời gian tới, Việt Hồng tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp. Mục tiêu là hướng tới xây dựng một nền hành chính công khai, minh bạch, hiện đại và thân thiện, từ đó, đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu chính đáng của nhân dân.
Phân cấp để chính quyền gần dân
Giám đốc Trung tâm Phục vụ Hành chính công xã Việt Hồng hướng dẫn người dân thực hiện các thủ tục hành chính.
Nhìn lại một năm, việc thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp được xem là bước đi mang tính đột phá nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và đưa chính quyền đến gần dân hơn. Những đổi thay trên từng lĩnh vực cho thấy sự nỗ lực, quyết tâm của cả hệ thống chính trị. Đó cũng là nền tảng quan trọng để Việt Hồng tiếp tục vững bước trên hành trình phát triển, hướng tới mục tiêu xây dựng địa phương ngày càng giàu đẹp, văn minh, hiện đại.
Ông Hoàng Mạnh Hà, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Việt Hồng cho hay, ngay sau khi vận hành mô hình mới, Đảng ủy xã xác định nhiệm vụ trọng tâm là nhanh chóng kiện toàn tổ chức bộ máy, bảo đảm mọi hoạt động được vận hành thông suốt, không làm gián đoạn việc phục vụ người dân và doanh nghiệp. Chỉ trong năm đầu thực hiện, xã ban hành trên 3.000 văn bản liên quan đến công tác tổ chức bộ máy, thành lập và kiện toàn đầy đủ các cơ quan Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo được thực hiện thường xuyên, kịp thời trên các lĩnh vực, góp phần đưa bộ máy hoạt động ngày càng nền nếp, hiệu quả.
Không chỉ tạo thuận lợi trong giải quyết thủ tục hành chính, mô hình chính quyền địa phương hai cấp còn mở ra không gian phát triển mới cho cấp xã khi được giao thêm thẩm quyền đi đôi với nguồn lực và trách nhiệm. Hiện cấp trên thực hiện phân cấp cho xã hơn 360 nhiệm vụ thuộc nhiều lĩnh vực như đất đai, xây dựng, nông nghiệp, nội vụ, giáo dục, y tế, văn hóa... Việc phân cấp mạnh mẽ, giao quyền đầy đủ và bảo đảm các điều kiện nhân lực, tài chính, công nghệ để Việt Hồng phát huy tốt vai trò quản lý, điều hành, đồng thời chủ động khai thác tiềm năng, lợi thế để thúc đẩy phát triển địa phương.
Sau một năm thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, xã Việt Hồng tiếp nhận 5.484 hồ sơ, trong đó có 5.480 hồ sơ giải quyết trước hạn, đạt trên 99,9%.
Theo Bí thư Đảng ủy xã Việt Hồng, nhìn lại chặng đường một năm đã qua, thành quả lớn nhất và mang tính quyết định chính là sự đoàn kết, đồng lòng của cả hệ thống chính trị, cùng sự đồng thuận, ủng hộ mạnh mẽ từ phía nhân dân. Bộ máy mới sau một năm hoạt động được nhân dân đánh giá 5 hơn: Cởi mở hơn; gần dân hơn; trách nhiệm hơn; trình độ, năng lực hơn và hiệu quả hơn. Những phản hồi tích cực từ người dân cho thấy hiệu quả rõ nét của việc phân cấp, phân quyền, đưa chính quyền đến gần dân hơn, đồng thời nâng cao trách nhiệm của đội ngũ cán bộ cơ sở trong thực thi công vụ.
Tương tự, tại xã vùng cao đặc biệt khó khăn Púng Luông - nơi có trên 94% đồng bào dân tộc Mông sinh sống, do điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn hết năm 2025, toàn xã còn 405 hộ nghèo. Mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng xã luôn chủ động triển khai nhiều giải pháp giúp người dân tiếp cận các dịch vụ công trực tuyến và giải quyết thủ tục hành chính được thuận lợi như các xã miền xuôi nhằm đưa chính quyền đến gần dân.
Ông Giàng A Vừ, Bí thư Đảng ủy xã Púng Luông cho biết, sau một năm thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, xã vùng cao có sự chuyển biến mạnh mẽ trong cải cách hành chính và chuyển đổi số. Từ việc phân định rõ chức năng, nhiệm vụ giữa các cấp, đến đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý điều hành, mọi hoạt động đều hướng tới xây dựng nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp, lấy người dân làm trung tâm phục vụ. Đến nay, 100% cán bộ, công chức xã Púng Luông sử dụng chữ ký số, xử lý văn bản điện tử; trên 75% người dân sử dụng thiết bị thông minh, khoảng 45% có tài khoản VNeID mức độ 2. Sau một năm, xã tiếp nhận gần 2.000 hồ sơ thủ tục hành chính, trong đó có 1.967 hồ sơ giải quyết đúng và trước hạn, đạt 99,8%; mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp ngày càng nâng lên đạt 99,6%.
Kết quả đánh giá chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp trên môi trường điện tử xã Việt Hồng đạt 94,27 điểm, xếp thứ 3 trong tổng số 99 đơn vị cấp xã trên địa bàn tỉnh Lào Cai.
Đặc biệt, sau khi được cấp trên thực hiện phân cấp với trên 30 nhóm nhiệm vụ trong các lĩnh vực giúp Púng Luông nâng cao tính chủ động, trách nhiệm trong công tác quản lý nhà nước và giải quyết công việc tại cơ sở. Một số lĩnh vực được giao thêm thẩm quyền cho cấp xã như, giải quyết thủ tục hành chính, xác nhận hồ sơ, quản lý một số lĩnh vực dân sinh, thực hiện chính sách an sinh xã hội đã rút ngắn thời gian xử lý công việc, giảm việc đi lại cho người dân. Qua đó, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương; tăng tính chủ động, linh hoạt trong giải quyết công việc ngay tại cơ sở.
Sau một năm thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, tỉnh Lào Cai có 100% xã, phường được kết nối mạng truyền số liệu chuyên dùng; 100% cơ quan hành chính sử dụng văn bản điện tử, chữ ký số. Tỉnh cắt giảm được 30% thời gian giải quyết các thủ tục hành chính; toàn tỉnh tiếp nhận khoảng 670 nghìn hồ sơ thủ tục hành chính, trong đó trên 98,5% hồ sơ được giải quyết đúng và trước hạn.
Một năm thực hiện chính quyền địa phương hai cấp là một năm của sự đổi mới, thích ứng và phát triển vượt bậc. Từ việc nhanh chóng ổn định tổ chức bộ máy, đẩy mạnh cải cách hành chính, thúc đẩy chuyển đổi số đến chăm lo phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh và nâng cao đời sống nhân dân. Những kết quả đạt được tiếp tục là đòn bẩy để Lào Cai thực hiện tốt các mục tiêu, nhiệm vụ trong thời gian tới./.
Tên tự gọi: Kìm Miền, Kìm Mùn (người rừng).
Tên gọi khác: Mán.
Nhóm địa phương: Dao Ðỏ (Dao Cóc Ngáng, Dao sừng, Dao Dụ lạy, Dao Ðại bản), Dao Quần chẹt (Dao Sơn đầu, Dao Tam đảo, Dao Nga hoàng, Dụ Cùn), Dao Lô gang (Dao Thanh phán, Dao Cóc Mùn), Dao Tiền (Dao Ðeo tiền, Dao Tiểu bản), Dao Quần trắng (Dao Họ), Dao Thanh Y, Dao Làn Tẻn (Dao Tuyển, Dao áo dài).
Dân số: 751.067 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngữ hệ Hmông - Dao.
Lịch sử: Người Dao có nguồn gốc từ Trung Quốc, việc chuyển cư sang Việt Nam kéo dài suốt từ thế kỷ XII, XIII cho đến nửa đầu thế kỷ XX. Họ tự nhận mình là con cháu của Bản Hồ (Bàn vương), một nhân vật huyền thoại rất phổ biến và thiêng liêng ở người Dao.
Hoạt động sản xuất: Nương, thổ canh hốc đá, ruộng là những hình thức canh tác phổ biến ở người Dao. Tuỳ từng nhóm, từng vùng mà hình thức canh tác này hay khác nổi trội lên như: Người Dao Quần Trắng, Dao áo Dài, Dao Thanh Y chuyên làm ruộng nước. Người Dao Ðỏ - thổ canh hốc đá. Phần lớn các nhóm Dao khác làm nương du canh hay định canh. Cây lương thực chính là lúa, ngô, các loại rau màu quan trọng như bầu, bí, khoai... Họ chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà ở vùng lưng chừng núi và vùng cao còn nuôi ngựa, dê.
Nghề trồng bông, dệt vải phổ biến ở các nhóm Dao. Họ ưa dùng vải nhuộm chàm.
Hầu hết các xóm đều có lò rèn để sửa chữa nông cụ. Nhiều nơi còn làm súng hoả mai, súng kíp, đúc những hạt đạn bằng gang. Nghề thợ bạc là nghề gia truyền, chủ yếu làm những đồ trang sức như vòng cổ, vòng chân, vòng tay, vòng tai, nhẫn, dây bạc, hộp đựng trầu...
Nhóm Dao Ðỏ và Dao Tiền có nghề làm giấy bản. Giấy bản dùng để chép sách cúng, sách truyện, sách hát hay dùng cho các lễ cúng như viết sớ, tiền ma. Nhiều nơi có nghề ép dầu thắp sáng hay dầu ăn, nghề làm đường mật.
Ăn: Người Dao thường ăn hai bữa chính trong ngày, bữa trưa và bữa tối. Chỉ những ngày mùa bận rộn mới ăn thêm bữa sáng. Người Dao ăn cơm là chính, ở một số nơi lại ăn ngô nhiều hơn ăn cơm hoặc ăn cháo. Cối xay lúa thường dùng là loại cối gỗ đóng dăm tre. Cối giã có nhiều loại như cối gỗ hình trụ, cối máng giã bằng chày tay, cối đạp chân, cối giã bằng sức nước. Họ thích ăn thịt luộc, các món thịt sấy khô, ướp chua, canh măng chua. Khi ăn xong, người ra kiêng để đũa ngang miệng bát vì đó là dấu hiệu trong nhà có người chết.
Phổ biến là rượu cất, ở một vài nơi lại uống hoãng, thứ rượu không qua trưng cất, có vị chua và ít cay.
Người Dao thường hút thuốc lá và thuốc lào bằng điếu cầy hay tẩu.
Mặc: Trước đây đàn ông để tóc dài, búi sau gáy hoặc để chỏm tóc dài trên đỉnh đầu, xung quanh cạo nhẵn. Các nhóm Dao thường có cách đội khăn khác nhau. áo có hai loại, áo dài và áo ngắn.
Phụ nữ Dao mặc rất đa dạng, thường mặc áo dài yếm, váy hoặc quần. Y phục theo rất sặc sỡ. Họ không theo theo mẫu vẽ sẵn trên vải mà hoàn toàn dựa vào trí nhớ, thêu ở mặt trái của vải để hình mẫu nổi lên mặt phải. Nhiều loại hoa văn như chữ vạn, cây thông, hình chim, người, động vật, lá cây. Cách in hoa văn trên vải bằng sáp ong ở người Dao rất độc đáo. Muốn hình gì người ta dùng bút vẽ hay nhúng khuôn in vào sáp ong nóng chẩy rồi in lên vải. Vải sau khi nhuộm chàm sẽ hiện lên hoa văn mầu xanh lơ do phủ lớp sáp ong không bị thấm chàm.
Ở: Người Dao thường sống ở vùng lưng chừng núi hầu khắp các tỉnh miền núi miền Bắc. Tuy nhiên một số nhóm như Dao Quần trắng ở thung lũng, còn Dao Ðỏ lại ở trên núi cao. Thôn xóm phần nhiều phân tán, rải rác, năm bẩy nóc nhà. Nhà của người Dao rất khác nhau, tuỳ nơi họ ở nhà trệt, nhà sàn hay nhà nửa sàn, nửa đất.
Phương tiện vận chuyển: Người Dao ở vùng cao quen dùng địu có hai quai đeo vai, vùng thấp gánh bằng đôi dậu. Túi vải hay túi lưới đeo vai rất được họ ưa dùng.
Quan hệ xã hội: Trong thôn xóm tồn tại chủ yếu các quan hệ xóm giềng và quan hệ dòng họ.
Người Dao có nhiều họ, phổ biến nhất là các họ Bàn, Ðặng, Triệu. Các dòng họ, chi họ thường có gia phả riêng và có hệ thống tên đệm để phân biệt giữa những người thuộc các thế hệ khác nhau.
Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ ngồi, đẻ ngay trong buồng ngủ. Trẻ sơ sinh được tắm bằng nước nóng. Nhà có người ở cữ người ta treo cành lá xanh hay cài hoa chuối trước cửa để làm dấu không cho người lạ vào nhà vì sợ vía độc ảnh hưởng tới sức khoẻ đứa trẻ. Trẻ sơ sinh được ba ngày thì làm lễ cúng mụ.
Cưới xin: Trai gái muốn lấy được nhau phải so tuổi, bói chân gà xem có hợp nhau không. Có tục chăng dây, hát đối đáp giữa nhà trai và nhà gái trước khi vào nhà, hát trong đám cưới. Lúc đón dâu, cô dâu được cõng ra khỏi nhà gái và bước qua cái kéo mà thầy cúng đã làm phép mới được vào nhà trai.
Ma chay: Thày tào có vị trí quan trọng trong việc ma và làm chay. Nhà có người chết con cái đến nhà thầy mời về chủ trì các nghi lễ, tìm đất đào huyệt. Người ta kiêng khâm liệm người chết vào giờ sinh của những người trong gia đình. Người chết được liệm vào quan tài để trong nhà hay chỉ bó chiếu ra đến huyệt rồi mới cho vào quan tài. Mộ được đắp đất, xếp đá ở chân mộ. ở một số nơi có tục hoả táng cho những người chết từ 12 tuổi trở lên.
Lễ làm chay cho người chết diễn ra sau nhiều năm, thường được kết hợp với lễ cấp sắc cho một người đàn ông nào đó đang sống trong gia đình. Lễ tổ chức ba ngày, ngày đầu gọi là lễ phá ngục, giải thoát hồn cho người chết, ngày thứ hai gọi là lễ tắm hương hoa cho người chết trước khi đưa hồn về bàn thờ tổ tiên trong nhà, ngày thứ ba lễ cấp sắc. Người chết được cúng đưa hồn về quê cũ ở Dương Châu.
Nhà mới: Muốn làm nhà phải xem tuổi những người trong gia đình, nhất là tuổi chủ gia đình. Nghi lễ chọn đất được coi là quan trọng. Buổi tối, người ta đào một hố to bằng miệng bát, xếp một số hạt gạo tượng trưng cho người, trâu bò, tiền bạc, thóc lúa, tài sản rồi úp bát lên. Dựa vào mộng báo đêm đó mà biết điềm xấu hay tốt. Sáng hôm sau ra xem hỗ, các hạt gạo vẫn giữa nguyên vị trí là có thể làm nhà được.
Thờ cúng: Người Dao vừa tin theo các tín ngưỡng nguyên thuỷ, các nghi lễ nông nghiệp vừa chịu ảnh hưởng sâu sắc của Khổng giáo, Phật giáo và nhất là Ðạo giáo. Bàn vương được coi là thuỷ tổ của người Dao nên được cúng chung với tổ tiên từng gia đình. Theo truyền thống tất cả đàn ông đã đến tuổi trưởng thành đều phải qua lễ cấp sắc. một nghi lễ vừa mang tính chất của Ðạo giáo, vừa mang những vết của lễ thành đinh xa xưa.
Lịch: Người Dao quen dùng âm lịch để tính thời gian sản xuất và sinh hoạt.
Học: Hầu hết các xóm thôn người Dao đều có người biết chữ Hán, nôm Dao. Người ta học chữ để đọc sách cúng, sách truyện, thơ.
Văn nghệ: Người Dao có vốn văn nghệ dân gian rất phong phú, nhiều truyện cổ, bài hát, thơ ca. Ðặc biệt truyện Quả bầu với nạn hồng thuỷ, Sự tích Bàn Vương rất phổ biến trong người Dao. Múa, nhạc được họ sử dụng chủ yếu trong các nghi lễ tôn giáo.
Chơi: Người Dao thích chơi đu, chơi quay, đi cà kheo.
Theo cema.gov.vn
Tên gọi khác: Thổ.
Dân số: 1.626.392 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Nhóm địa phương: Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao và Pa Dí.
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).
Lịch sử: Người Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ nửa cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên.
Hoạt động sản xuất: Người Tày là cư dân nông nghiệp có truyền thống làm ruộng nước, từ lâu đời đã biết thâm canh và áp dụng rộng rãi các biện pháp thuỷ lợi như đào mương, bắc máng, đắp phai, làm cọn lấy nước tưới ruộng. Họ có tập quán đập lúa ở ngoài đồng trên những máng gỗ mà họ gọi là loỏng rồi mới dùng dậu gánh thóc về nhà. Ngoài lúa nước người Tày còn trồng lúa khô, hoa màu, cây ăn quả... Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm nhưng cách nuôi thả rông cho đến nay vẫn còn khá phổ biến. Các nghề thủ công gia đình được chú ý. Nổi tiếng nhất là nghề dệt thổ cẩm với nhiều loại hoa văn đẹp và độc đáo. Chợ là một hoạt động kinh tế quan trọng.
Ăn: Trước kia, ở một số nơi, người Tày ăn nếp là chính và hầu như gia đình nào cũng có ninh và chõ đồ xôi. Trong các ngày tết, ngày lễ thường làm nhiều loại bánh trái như bánh chưng, bánh giày, bánh gai, bánh dợm, bánh gio, bánh rán, bánh trôi, bánh khảo... Ðặc biệt có loại bánh bột hấp dẫn nhân bằng trứng kiến và cốm được làm từ thóc nếp non hơ lửa, hoặc rang rồi đem giã.
Mặc: Bộ y phục cổ truyền của người Tày làm từ vải sợi bông tự dệt, nhuộm chàm, hầu như không thêu thùa, trang trí. Phụ nữ mặc váy hoặc quần, có áo cánh ngắn ở bên trong và áo dài ở bên ngoài. Nhóm Ngạn mặc áo ngắn hơn một chút, nhóm Phén mặc áo màu nâu, nhóm Thu Lao quấn khăn thành chóp nhọn trên đỉnh đầu, nhóm Pa Dí đội mũ hình mái nhà còn nhóm Thổ mặc như người Thái ở Mai Châu (Hòa Bình).
Ở: Người Tày cư trú ở vùng thung lũng các tỉnh Ðông Bắc, từ Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang đến Lào Cai, Yên Bái. Họ thích sống thành bản làng đông đúc, nhiều bản có tới hàng trăm nóc nhà.
Ngôi nhà truyền thống của người Tày là nhà sàn có bộ sườn làm theo kiểu vì kèo 4, 5, 6 hoặc 7 hàng cột. Nhà có 2 hoặc 4 mái lợp ngói, tranh hay lá cọ. Xung quanh nhà thưng ván gỗ hoặc che bằng liếp nứa.
Phương tiện vận chuyển: Với những thứ nhỏ, gọn người Tày thường cho vào dậu để gánh hoặc cho vào túi vải để đeo trên vai, còn đối với những thứ to, cồng kềnh thì dùng sức người khiêng vác hoặc dùng trâu kéo. Ngoài ra, họ còn dùng mảng để chuyên chở.
Quan hệ xã hội: Chế độ quằng là hình thức tổ chức xã hội đặc thù theo kiểu phong kiến sơ kỳ mang tính chất quý tộc, thế tập, cha truyền con nối.
Trong phạm vi thống trị của mình quằng là người sở hữu toàn bộ ruộng đất, rừng núi, sông suối... vì thế có quyền chi phối những người sống trên mảnh đất đó và bóc lột họ bằng tô lao dịch, bắt phải đến lao động không công và tô hiện vật, buộc phải cống nạp. Chế độ quằng xuất hiện từ rất sớm và tồn tại dai dẳng mãi đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
Cưới xin: Nam nữ Tày được tự do yêu đương, tìm hiểu nhưng có thành vợ thành chồng hay không lại tuỳ thuộc vào bố mẹ hai bên và "số mệnh" của họ có hợp nhau hay không. Vì thế trong quá trình đi tới hôn nhân phải có bước nhà trai xin lá số của cô gái về so với lá số của con mình. Sau khi cưới, cô dâu ở nhà bố mẹ đẻ cho đến khi có mang sắp đến ngày sinh nở mới về ở hẳn bên nhà chồng.
Sinh đẻ: Khi có mang cũng như trong thời gian đầu sau khi đẻ, người phụ nữ phải kiêng cữ nhiều thứ khác nhau với ước muốn được mẹ tròn, con vuông, đứa bé chóng lớn, khoẻ mạnh và tránh được những vía độc hại.
Sau khi sinh được 3 ngày cúng tẩy vía và lập bàn thờ bà mụ. Khi đầy tháng tổ chức lễ ăn mừng và đặt tên cho trẻ.
Ma chay: Ðám ma thường được tổ chức linh đình với nhiều nghi lễ nhằm mục đích báo hiếu và đưa hồn người chết về bên kia thế giới. Sau khi chôn cất 3 năm làm lễ mãn tang, đưa hồn người chết lên bàn thờ tổ tiên. Hàng năm tổ chức cúng giỗ vào một ngày nhất định.
Nhà mới: Khi làm nhà phải chọn đất xem hướng, xem tuổi, chọn ngày tốt. Trong ngày vào nhà mới chủ gia đình phải nhóm lửa và giữ ngọn lửa cháy suốt đêm đến sáng hôm sau.
Thờ cúng: Người Tày chủ yếu thờ cúng tổ tiên. Ngoài ra còn thờ cúng thổ công, vua bếp, bà mụ.
Lễ tết: Hàng năm có nhiều ngày tết với những ý nghĩa khác nhau. Tết Nguyên đán, mở đầu năm mới và tết rằm tháng 7, cúng các vong hồn là những tết lớn được tổ chức linh đình hơn cả. Tết gọi hồn trâu bò tổ chức vào mùng 6 tháng 6 âm lịch, sau vụ cấy và tết cơm mới, tổ chức trước khi thu hoạch là những cái tết rất đặc trưng cho dân nông nghiệp trồng lúa nước.
Lịch: Người Tày theo âm lịch.
Học: Chữ nôm Tày xây dựng trên mẫu tự tượng hình, gần giống chữ nôm Việt ra đời khoảng thế kỷ XV được dùng để ghi chép truyện thơ, bài hát, bài cúng... Chữ Tày-Nùng dựa trên cơ sở chữ cái La-tinh ra đời năm 1960 và tồn tại đến giữa năm 80 được dùng trong các trường phổ thông cấp I vùng có người Tày, Nùng cư trú.
Văn nghệ: Người Tày có nhiều làn điệu dân ca như lượn, phong slư, phuối pác, phuối rọi, vén eng... Lượn gồm lượn cọi, lượn slương, lượn then, lượn nàng ới... là lối hát giao duyên được phổ biến rộng rãi ở nhiều vùng. Người ta thường lượn trong hội lồng tồng, trong đám cưới, mừng nhà mới hay khi có khách đến bản. Ngoài múa trong nghi lễ ở một số địa phương có múa rối với những con rối bằng gỗ khá độc đáo.
Chơi: Trong ngày hội lồng tồng ở nhiều nơi tổ chức ném còn, đánh cầu lông, kéo co, múa sư tử, đánh cờ tướng... Ngày thường trẻ em đánh quay, đánh khăng, đánh chắt, chơi ô...
Theo cema.gov.vn