Mở rộng dạy tiếng Khmer cho đồng bào vùng biên giới

Tây Ninh sẽ từng bước mở rộng dạy học tiếng Khmer tại các cơ sở giáo dục thuộc các xã biên giới và khu vực có đông đồng bào dân tộc Khmer trong giai đoạn 2026-2030, trên cơ sở nhu cầu tự nguyện của học sinh, sự đồng thuận của cha mẹ học sinh và điều kiện bảo đảm của từng địa bàn.

khmer-09082026-02.jpg
Cô giáo Thạch Thị Phắt Cà Đi tận tình hướng dẫn học sinh trong tiết học tiếng Khmer tại Trường Tiểu học Hòa Đông, xã Phước Vinh. Ảnh tư leieuj: Giang Phương/TTXVN

Đây là một trong những giải pháp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục vùng biên giới, bảo tồn và phát huy tiếng nói, chữ viết, bản sắc văn hóa dân tộc Khmer.

Theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh Phạm Tấn Hòa, triển khai dạy học tiếng Khmer giai đoạn 2026-2030, tỉnh Tây Ninh hiện có 19 xã biên giới với 121 cơ sở giáo dục phổ thông, 1.844 lớp và 58.843 học sinh. Trong số 2.071 học sinh dân tộc thiểu số tại các xã biên giới, có 1.210 học sinh dân tộc Khmer. Đây là cơ sở để tỉnh xác định lộ trình ưu tiên tổ chức dạy học tiếng Khmer trong những năm tới.

Hiện tiếng Khmer đang được tổ chức giảng dạy tại 3 trường gồm Trường Tiểu học Tân Đông, xã Tân Đông; Trường Tiểu học Hòa Đông, xã Phước Vinh và Trường Tiểu học La Văn Cầu, phường Bình Minh. Trong năm học 2026-2027, tỉnh xác định duy trì ổn định hoạt động tại các cơ sở này, đồng thời ưu tiên triển khai tại Trường Trung học phổ thông Dân tộc Nội trú tỉnh khi bảo đảm đầy đủ điều kiện về đội ngũ giáo viên, chương trình, sách giáo khoa, cơ sở vật chất và nhu cầu học tập của học sinh.

Cũng theo ông Phạm Tấn Hòa, lộ trình năm học 2026-2027, ngành Giáo dục tập trung khảo sát nhu cầu học tiếng Khmer tại các xã biên giới còn lại, đồng thời bước đầu rà soát những xã nội địa có đông người dân tộc Khmer. Kết quả khảo sát sẽ là căn cứ xác định trường học, khối lớp, số lượng học sinh, nhu cầu giáo viên, kinh phí và thời điểm triển khai.

Từ năm học 2027-2028, tỉnh ưu tiên mở rộng tại các xã biên giới có đông học sinh dân tộc Khmer hoặc có nhu cầu học tiếng Khmer rõ ràng và đủ điều kiện, trong đó dự kiến xem xét các địa bàn như Hòa Hội, Tân Hòa, Ninh Điền. Đến năm học 2028-2029, việc mở rộng tiếp tục được xem xét tại Tân Lập, Long Chữ, Long Thuận, Bến Cầu và các địa bàn khác có nhu cầu; đồng thời nghiên cứu mở rộng sang các xã nội địa có đông người dân tộc Khmer. Năm học 2029-2030, tỉnh rà soát, đánh giá toàn diện và hoàn thiện việc mở rộng theo nhu cầu thực tế, làm cơ sở xây dựng định hướng cho giai đoạn sau năm 2030.

Điểm đáng chú ý, việc học tiếng Khmer không giới hạn đối với học sinh dân tộc Khmer. Học sinh dân tộc Kinh và các dân tộc khác nếu có nhu cầu đều có thể tham gia trên tinh thần tự nguyện, bảo đảm bình đẳng và phù hợp với điều kiện tổ chức của từng cơ sở giáo dục. Môn tiếng Khmer được thực hiện theo chương trình do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành và là môn học tự chọn trong Chương trình giáo dục phổ thông.

Cô Thạch Thị Phắt Cà Đi từng ngày miệt mài gieo chữ trên mảnh đất vùng biên Tây Ninh. Ảnh tư liệu: Giang Phương/TTXVN

Cô Thạch Thị Phắt Cà Đi từng ngày miệt mài gieo chữ trên mảnh đất vùng biên Tây Ninh. Ảnh tư liệu: Giang Phương/TTXVN

Tỉnh yêu cầu việc triển khai không làm ảnh hưởng đến việc thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông và các nhiệm vụ giáo dục của nhà trường. Các trường chỉ tổ chức dạy học khi bảo đảm các điều kiện tối thiểu về giáo viên, cơ sở vật chất, thiết bị, sách giáo khoa, học liệu và công tác quản lý chuyên môn; không triển khai dàn trải.

Theo ông Bùi Tuấn Hải, Phó Giám đốc Sở Giáo dục- Đào tạo tỉnh Tây Ninh, để đáp ứng yêu cầu mở rộng, ngành Giáo dục sẽ rà soát, tạo nguồn, tuyển dụng, bố trí và bồi dưỡng giáo viên tiếng Khmer. Trước mắt, tỉnh ưu tiên sử dụng hiệu quả đội ngũ giáo viên hiện có, giáo viên dân tộc Khmer, giáo viên có khả năng sử dụng tiếng Khmer và giáo viên đã được đào tạo, bồi dưỡng. Trường hợp chưa đủ giáo viên cơ hữu, có thể nghiên cứu điều phối giáo viên giữa các cơ sở, tổ chức dạy học liên trường, thỉnh giảng, hợp đồng giáo viên hoặc kết hợp trực tiếp với trực tuyến theo quy định.

Cùng với đội ngũ, tỉnh chú trọng bảo đảm sách giáo khoa, học liệu, phòng học và thiết bị dạy học; khuyến khích khai thác học liệu số, thư viện điện tử, bài giảng và video phục vụ việc nghe, nói, đọc, viết tiếng Khmer. Các trường cũng được khuyến khích xây dựng môi trường sử dụng tiếng Khmer thông qua câu lạc bộ, góc học tập, đọc sách, kể chuyện, viết chữ Khmer, tìm hiểu văn hóa và các hoạt động trải nghiệm phù hợp.

Việc dạy học tiếng Khmer được xác định không chỉ đáp ứng nhu cầu học tập mà còn góp phần hình thành nguồn nhân lực có khả năng sử dụng ngôn ngữ Khmer trong giao tiếp, học tập, lao động và công tác; tăng cường hiểu biết, đoàn kết giữa học sinh các dân tộc. Đối với địa bàn biên giới, hoạt động này còn hướng tới tăng cường giao lưu nhân dân, hợp tác giáo dục, văn hóa, kinh tế - xã hội giữa Tây Ninh với các địa phương giáp biên của Vương quốc Campuchia./.

Dân tộc Khmer

Tên tự gọi: Người Khmer.

Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.

Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.

Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.

Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).

Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.

Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu (2).JPG
Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu

: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.

Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.

Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.

Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.

Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.

Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.

Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.

Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.

Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.

Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.

Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).

Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.

Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm.jpg
Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm

Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Khmer

Có thể bạn quan tâm

Ghi nhận những chiến công đặc biệt của Bộ đội Biên phòng trên tuyến biên giới

Ghi nhận những chiến công đặc biệt của Bộ đội Biên phòng trên tuyến biên giới

Ngày 7/9, Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Vĩnh Long tổ chức lễ đón nhận Huân chương Chiến công hạng Nhì. Đây là sự ghi nhận cao quý của Đảng và Nhà nước đối với những cống hiến của tập thể cán bộ, chiến sĩ trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

Định hướng xây dựng 5 phường trung tâm Đà Lạt thành đô thị loại II

Định hướng xây dựng 5 phường trung tâm Đà Lạt thành đô thị loại II

Với quy mô quy hoạch khoảng 68.000 ha, dân số dự kiến gần 757.000 người và khoảng gần 17,5 triệu lượt khách du lịch vào năm 2050, tỉnh Lâm Đồng định hướng xây dựng 5 phường Xuân Hương - Đà Lạt, Lâm Viên - Đà Lạt, Cam Ly - Đà Lạt, Xuân Trường - Đà Lạt và Lang Biang - Đà Lạt trở thành đô thị loại II, phát triển năng động, bền vững; đồng thời là trung tâm du lịch, dịch vụ, văn hóa, khoa học và đổi mới sáng tạo của tỉnh và vùng Duyên hải Nam Trung Bộ - Tây Nguyên.

Tìm đầu ra, nâng giá trị 'quốc bảo' sâm Ngọc Linh

Tìm đầu ra, nâng giá trị 'quốc bảo' sâm Ngọc Linh

Quốc bảo sâm Ngọc Linh là sản vật quý hiếm, mang giá trị dược tính cao, sinh trưởng trên vùng núi Ngọc Linh với độ cao hơn 1.500 m. Tuy công tác gieo trồng, chăm sóc sâm rất khó khăn, gian khổ, nhưng những năm gần đây, giá bán các sản phẩm từ sâm Ngọc Linh liên tục giảm, khiến bà con vùng trồng sâm rất lo lắng.

Khai thác lợi thế đất đỏ bazan, nâng tầm nông nghiệp phía Tây Lâm Đồng

Khai thác lợi thế đất đỏ bazan, nâng tầm nông nghiệp phía Tây Lâm Đồng

Sở hữu diện tích đất sản xuất nông nghiệp lớn, nhiều vùng đất đỏ bazan màu mỡ cùng điều kiện khí hậu thuận lợi, khu vực phía Tây tỉnh Lâm Đồng có nhiều lợi thế phát triển nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn. Các ngành hàng chủ lực như cà phê, sầu riêng, hồ tiêu và một số loại cây ăn quả đang tạo sinh kế, thu nhập cho hàng chục nghìn hộ dân.

Khẩn trương đưa dân vùng thiên tai về khu tái định cư trước mùa mưa lũ

Khẩn trương đưa dân vùng thiên tai về khu tái định cư trước mùa mưa lũ

Những ngày này, không khí tháo dỡ và dựng nhà trên công trường khu tái định cư và khu dân cư Bôn Jứ, xã Ia Tul (tỉnh Gia Lai) đâu đâu cũng nhộn nhịp, hăng hái và đầy quyết tâm. Mục tiêu là phấn đấu hoàn thành việc di dời 207 hộ dân vùng thiên tai Bôn Jứ về khu tái định cư mới trước cao điểm mùa mưa lũ.

Đánh thức nội lực trên những bản người Mông

Đánh thức nội lực trên những bản người Mông

Sau sắp xếp đơn vị hành chính, không gian phát triển ở nhiều địa bàn bản Mông ở Phú Thọ được mở rộng, tạo thêm điều kiện liên kết nguồn lực, phát triển sản xuất và du lịch.

Mở hướng sinh kế mới ở xã biên giới Lũng Cú từ mô hình đảng viên đi trước

Mở hướng sinh kế mới ở xã biên giới Lũng Cú từ mô hình đảng viên đi trước

Trên vùng cao nguyên đá khắc nghiệt, nơi đất sản xuất ít, nước sinh hoạt còn thiếu, xã biên giới Lũng Cú, tỉnh Tuyên Quang đang lựa chọn cách làm cụ thể để tạo sinh kế cho người dân: cán bộ, đảng viên đi trước xây dựng mô hình, người dân cùng làm; chuyển những diện tích ngô năng suất thấp và đất hoang hóa sang cây trồng có giá trị, đồng thời gắn sản xuất với doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm. Những mô hình bước đầu đang mở thêm hướng giảm nghèo cho địa phương nơi cực Bắc Tổ quốc.

Khắc phục sạt lở, thông tuyến đường Đồng Nai đi Lâm Đồng

Khắc phục sạt lở, thông tuyến đường Đồng Nai đi Lâm Đồng

Ngày 6/9, tuyến đường ĐT.755B, đoạn qua xã Phước Sơn, thành phố Đồng Nai, xảy ra sự cố đất tràn xuống mặt đường do mưa lớn kéo dài, gây ách tắc giao thông cục bộ. Sau hơn 1 giờ khắc phục, tuyến đường đã được thông tuyến, các phương tiện lưu thông bình thường.

Từ sinh kế giữ rừng đến 'lá chắn xanh' vùng biên

Từ sinh kế giữ rừng đến 'lá chắn xanh' vùng biên

Hơn 10 năm qua, nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại xã Đăk Ơ, Bù Gia Mập (thành phố Đồng Nai) đã gắn bó với rừng qua mô hình nhận khoán bảo vệ. Việc triển khai hiệu quả chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng không chỉ mang lại sinh kế bền vững cho hàng trăm hộ dân vùng đệm Vườn quốc gia Bù Gia Mập mà còn góp phần bảo vệ “lá phổi xanh” nơi biên cương.

Tuổi trẻ đồng hành, kiến tạo môi trường an toàn, sạch khỏe cho học sinh vùng khó

Tuổi trẻ đồng hành, kiến tạo môi trường an toàn, sạch khỏe cho học sinh vùng khó

Hướng tới chào mừng kỷ niệm 70 năm Ngày truyền thống Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam (15/10/1956 - 15/10/2026), ngày 5/9, tại điểm trường Làng Cát, Trường Tiểu học và Trung học cơ sở Đakrông (xã Đakrông, tỉnh Quảng Trị), Hội Thầy thuốc trẻ Trung ương, Công ty Unilever Việt Nam, nhãn hàng Lifebuoy và Ban Thường vụ Tỉnh đoàn, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam tỉnh Quảng Trị đã phối hợp tổ chức chương trình “An toàn sạch khỏe - Bé vui tới trường”. Đây là hoạt động ý nghĩa góp phần cụ thể hóa Đề án “Tuổi trẻ Quảng Trị đồng hành với thanh thiếu nhi vùng biên giới giai đoạn 2025 - 2030”.

Chợ tiền tỷ ngóng... tiểu thương

Chợ tiền tỷ ngóng... tiểu thương

Chợ Mai Pha, phường Đông Kinh, tỉnh Lạng Sơn sau khi được đầu tư xây dựng với hạ tầng cơ bản đồng bộ đã đi vào hoạt động từ ngày 1/7/2026. Tuy nhiên, số lượng tiểu thương đăng ký kinh doanh ít, lượng khách chưa hình thành, trong khi một bộ phận người dân vẫn giữ thói quen mua bán tại các khu vực chợ cóc và điểm kinh doanh truyền thống. Thực trạng trên đặt ra yêu cầu cần sớm có giải pháp để phát huy hiệu quả công trình, tránh nguy cơ lãng phí nguồn lực đầu tư từ ngân sách nhà nước...

Nâng bước những mầm xanh nơi biên cương

Nâng bước những mầm xanh nơi biên cương

Trong không khí cả nước khai giảng năm học mới 2026 - 2027, ngày 5/9, lãnh đạo Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Trị cùng cán bộ, chiến sĩ các đơn vị trên hai tuyến biên giới của tỉnh đã đồng hành với thầy, trò nơi phên dậu Tổ quốc. Với tinh thần trách nhiệm, tình yêu thương, những người lính mang “quân hàm xanh” đang lặng thầm góp phần chăm lo, tiếp sức cho học sinh, nhất là các em có hoàn cảnh khó khăn, vững bước đến trường.

Khai giảng năm học mới 2026-2027: Tiếp thêm động lực nâng cao chất lượng giáo dục

Khai giảng năm học mới 2026-2027: Tiếp thêm động lực nâng cao chất lượng giáo dục

Cùng với học sinh cả nước, học sinh, sinh viên tại các địa phương như Tây Ninh, Điện Biên, Gia Lai và Cần Thơ bước vào năm học mới 2026-2027. Tại các địa bàn miền núi, biên giới, nhiều trường nội trú liên cấp được đầu tư đồng bộ, tạo điều kiện để trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em dân tộc thiểu số và con em gia đình chính sách được học tập và rèn luyện.

Lễ khai giảng đặc biệt ở lớp học tình thương

Lễ khai giảng đặc biệt ở lớp học tình thương

Khi nhiều sân trường trên địa bàn tỉnh rộn ràng tiếng trống khai giảng, tại Lớp học tình thương, điểm dạy học sinh khuyết tật miễn phí ở xã Thọ Phong, tỉnh Quảng Ngãi, ngày hội đến trường diễn ra theo một cách rất riêng.

Rộn ràng trước giờ khai giảng tại trường phổ thông nội trú liên cấp nơi biên giới

Rộn ràng trước giờ khai giảng tại trường phổ thông nội trú liên cấp nơi biên giới

Ngay từ sáng sớm 5/9, tại Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Sơn Thủy, xã Sơn Thủy, tỉnh Thanh Hóa, không khí chuẩn bị cho Lễ khai giảng năm học 2026-2027 và khánh thành các trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới trên phạm vi toàn quốc đã diễn ra khẩn trương, trang trọng.

Tuổi trẻ vùng biên khơi mở 'dòng chảy số' nơi phên dậu Tổ quốc

Tuổi trẻ vùng biên khơi mở 'dòng chảy số' nơi phên dậu Tổ quốc

Không bắt đầu từ những khái niệm lớn lao, chuyển đổi số tại các xã miền núi, biên giới tỉnh Quảng Trị đang dần đi vào đời sống từ chính những thao tác thiết thực hàng ngày: từ sử dụng điện thoại thông minh, tra cứu thông tin chính thống, thực hiện dịch vụ công trực tuyến đến thanh toán không tiền mặt.

Cuộc sống của học sinh trường phổ thông nội trú liên cấp vùng biên giới Lai Châu

Cuộc sống của học sinh trường phổ thông nội trú liên cấp vùng biên giới Lai Châu

Cơ sở vật chất khang trang, hiện đại, đầy đủ tiện nghi tại các trường phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và THCS ở vùng biên giới tỉnh Lai Châu như: Pa Tần, Phong Thổ, Hua Bum, Bum Nưa…đang là điểm nhấn nổi bật về sự đổi thay trong giáo dục tại vùng biên giới. Không chỉ dạy con chữ, cuộc sống của học sinh nơi đây ngày càng được chăm lo đầy đủ về vật chất, không gian sinh hoạt, giúp các em phát triển toàn diện. 

Kịp thời giúp dân trong mưa lớn, vượt dòng nước xiết

Kịp thời giúp dân trong mưa lớn, vượt dòng nước xiết

Mưa lớn kéo dài trong những ngày đầu tháng 9 đã gây ngập cục bộ, chia cắt một số khu vực trên địa bàn tỉnh Gia Lai. Tại những nơi nước dâng cao, dòng chảy xiết, lực lượng quân đội, công an và lực lượng tại cơ sở đã nhanh chóng có mặt, xuyên đêm hỗ trợ sơ tán người dân, cảnh báo tại các điểm nguy hiểm và giúp nhân dân bảo vệ tài sản.

Học sinh vùng cực Bắc đón năm học mới trong những ngôi trường khang trang

Học sinh vùng cực Bắc đón năm học mới trong những ngôi trường khang trang

Cùng với các cơ sở giáo dục trong cả nước, ngày 5/9, cả 6 trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở tại các xã biên giới Thanh Thủy, Minh Tân, Pà Vầy Sủ, Phố Bảng, Xín Mần và Sơn Vĩ, tỉnh Tuyên Quang sẽ đồng loạt tổ chức lễ khai giảng năm học 2026 - 2027 tại khuôn viên trường mới.

Đào tạo nhân lực chất lượng cao và có kỹ năng số đáp ứng yêu cầu mới

Đào tạo nhân lực chất lượng cao và có kỹ năng số đáp ứng yêu cầu mới

Sau hợp nhất, tỉnh Phú Thọ có quy mô dân số lớn với hàng triệu người đang trong độ tuổi lao động, tạo ra nguồn cung nhân lực lớn cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực chưa theo kịp yêu cầu phát triển, nhất là nhân lực chất lượng cao, nhân lực kỹ thuật và lao động có kỹ năng số và hội nhập quốc tế.

Đưa nguồn lực Chương trình 1719 đến đúng địa chỉ - Bài 1

Đưa nguồn lực Chương trình 1719 đến đúng địa chỉ - Bài 1

Sau sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, yêu cầu đặt ra với Phú Thọ không chỉ là huy động đủ nguồn lực cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, mà quan trọng hơn là đưa nguồn lực ấy đến đúng nơi, đúng đối tượng, đúng nhu cầu.