Đánh thức tiềm năng phát triển du lịch cao nguyên Sìn Hồ

Được mệnh danh là “Sa Pa thứ hai” của vùng Tây Bắc, Cao nguyên Sìn Hồ (Lai Châu) không chỉ hấp dẫn bởi khí hậu mát mẻ quanh năm và cảnh quan hùng vĩ, mà còn là nơi lưu giữ nét văn hóa đặc sắc của đồng bào các dân tộc Mông, Dao. Những năm gần đây, xã Sìn Hồ đã và đang khai thác hiệu quả tiềm năng phát triển du lịch gắn với bảo tồn thiên nhiên và bản sắc văn hóa, từng bước đưa du lịch trở thành hướng phát triển kinh tế bền vững của địa phương.

Dân tộc Dao

Tên tự gọi: Kìm Miền, Kìm Mùn (người rừng).

Tên gọi khác: Mán.

Nhóm địa phương: Dao Ðỏ (Dao Cóc Ngáng, Dao sừng, Dao Dụ lạy, Dao Ðại bản), Dao Quần chẹt (Dao Sơn đầu, Dao Tam đảo, Dao Nga hoàng, Dụ Cùn), Dao Lô gang (Dao Thanh phán, Dao Cóc Mùn), Dao Tiền (Dao Ðeo tiền, Dao Tiểu bản), Dao Quần trắng (Dao Họ), Dao Thanh Y, Dao Làn Tẻn (Dao Tuyển, Dao áo dài).

Dân số: 751.067 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngữ hệ Hmông - Dao.

Lịch sử: Người Dao có nguồn gốc từ Trung Quốc, việc chuyển cư sang Việt Nam kéo dài suốt từ thế kỷ XII, XIII cho đến nửa đầu thế kỷ XX. Họ tự nhận mình là con cháu của Bản Hồ (Bàn vương), một nhân vật huyền thoại rất phổ biến và thiêng liêng ở người Dao.

Hoạt động sản xuất: Nương, thổ canh hốc đá, ruộng là những hình thức canh tác phổ biến ở người Dao. Tuỳ từng nhóm, từng vùng mà hình thức canh tác này hay khác nổi trội lên như: Người Dao Quần Trắng, Dao áo Dài, Dao Thanh Y chuyên làm ruộng nước. Người Dao Ðỏ - thổ canh hốc đá. Phần lớn các nhóm Dao khác làm nương du canh hay định canh. Cây lương thực chính là lúa, ngô, các loại rau màu quan trọng như bầu, bí, khoai... Họ chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà ở vùng lưng chừng núi và vùng cao còn nuôi ngựa, dê.

Nghề trồng bông, dệt vải phổ biến ở các nhóm Dao. Họ ưa dùng vải nhuộm chàm.

Hầu hết các xóm đều có lò rèn để sửa chữa nông cụ. Nhiều nơi còn làm súng hoả mai, súng kíp, đúc những hạt đạn bằng gang. Nghề thợ bạc là nghề gia truyền, chủ yếu làm những đồ trang sức như vòng cổ, vòng chân, vòng tay, vòng tai, nhẫn, dây bạc, hộp đựng trầu...

Nhóm Dao Ðỏ và Dao Tiền có nghề làm giấy bản. Giấy bản dùng để chép sách cúng, sách truyện, sách hát hay dùng cho các lễ cúng như viết sớ, tiền ma. Nhiều nơi có nghề ép dầu thắp sáng hay dầu ăn, nghề làm đường mật.

Ăn: Người Dao thường ăn hai bữa chính trong ngày, bữa trưa và bữa tối. Chỉ những ngày mùa bận rộn mới ăn thêm bữa sáng. Người Dao ăn cơm là chính, ở một số nơi lại ăn ngô nhiều hơn ăn cơm hoặc ăn cháo. Cối xay lúa thường dùng là loại cối gỗ đóng dăm tre. Cối giã có nhiều loại như cối gỗ hình trụ, cối máng giã bằng chày tay, cối đạp chân, cối giã bằng sức nước. Họ thích ăn thịt luộc, các món thịt sấy khô, ướp chua, canh măng chua. Khi ăn xong, người ra kiêng để đũa ngang miệng bát vì đó là dấu hiệu trong nhà có người chết.

Phổ biến là rượu cất, ở một vài nơi lại uống hoãng, thứ rượu không qua trưng cất, có vị chua và ít cay.

Người Dao thường hút thuốc lá và thuốc lào bằng điếu cầy hay tẩu.

Mặc: Trước đây đàn ông để tóc dài, búi sau gáy hoặc để chỏm tóc dài trên đỉnh đầu, xung quanh cạo nhẵn. Các nhóm Dao thường có cách đội khăn khác nhau. áo có hai loại, áo dài và áo ngắn.

Phụ nữ Dao mặc rất đa dạng, thường mặc áo dài yếm, váy hoặc quần. Y phục theo rất sặc sỡ. Họ không theo theo mẫu vẽ sẵn trên vải mà hoàn toàn dựa vào trí nhớ, thêu ở mặt trái của vải để hình mẫu nổi lên mặt phải. Nhiều loại hoa văn như chữ vạn, cây thông, hình chim, người, động vật, lá cây. Cách in hoa văn trên vải bằng sáp ong ở người Dao rất độc đáo. Muốn hình gì người ta dùng bút vẽ hay nhúng khuôn in vào sáp ong nóng chẩy rồi in lên vải. Vải sau khi nhuộm chàm sẽ hiện lên hoa văn mầu xanh lơ do phủ lớp sáp ong không bị thấm chàm.

: Người Dao thường sống ở vùng lưng chừng núi hầu khắp các tỉnh miền núi miền Bắc. Tuy nhiên một số nhóm như Dao Quần trắng ở thung lũng, còn Dao Ðỏ lại ở trên núi cao. Thôn xóm phần nhiều phân tán, rải rác, năm bẩy nóc nhà. Nhà của người Dao rất khác nhau, tuỳ nơi họ ở nhà trệt, nhà sàn hay nhà nửa sàn, nửa đất.

Phương tiện vận chuyển: Người Dao ở vùng cao quen dùng địu có hai quai đeo vai, vùng thấp gánh bằng đôi dậu. Túi vải hay túi lưới đeo vai rất được họ ưa dùng.

Quan hệ xã hội: Trong thôn xóm tồn tại chủ yếu các quan hệ xóm giềng và quan hệ dòng họ.

Người Dao có nhiều họ, phổ biến nhất là các họ Bàn, Ðặng, Triệu. Các dòng họ, chi họ thường có gia phả riêng và có hệ thống tên đệm để phân biệt giữa những người thuộc các thế hệ khác nhau.

Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ ngồi, đẻ ngay trong buồng ngủ. Trẻ sơ sinh được tắm bằng nước nóng. Nhà có người ở cữ người ta treo cành lá xanh hay cài hoa chuối trước cửa để làm dấu không cho người lạ vào nhà vì sợ vía độc ảnh hưởng tới sức khoẻ đứa trẻ. Trẻ sơ sinh được ba ngày thì làm lễ cúng mụ.

Cưới xin: Trai gái muốn lấy được nhau phải so tuổi, bói chân gà xem có hợp nhau không. Có tục chăng dây, hát đối đáp giữa nhà trai và nhà gái trước khi vào nhà, hát trong đám cưới. Lúc đón dâu, cô dâu được cõng ra khỏi nhà gái và bước qua cái kéo mà thầy cúng đã làm phép mới được vào nhà trai.

Ma chay: Thày tào có vị trí quan trọng trong việc ma và làm chay. Nhà có người chết con cái đến nhà thầy mời về chủ trì các nghi lễ, tìm đất đào huyệt. Người ta kiêng khâm liệm người chết vào giờ sinh của những người trong gia đình. Người chết được liệm vào quan tài để trong nhà hay chỉ bó chiếu ra đến huyệt rồi mới cho vào quan tài. Mộ được đắp đất, xếp đá ở chân mộ. ở một số nơi có tục hoả táng cho những người chết từ 12 tuổi trở lên.

Lễ làm chay cho người chết diễn ra sau nhiều năm, thường được kết hợp với lễ cấp sắc cho một người đàn ông nào đó đang sống trong gia đình. Lễ tổ chức ba ngày, ngày đầu gọi là lễ phá ngục, giải thoát hồn cho người chết, ngày thứ hai gọi là lễ tắm hương hoa cho người chết trước khi đưa hồn về bàn thờ tổ tiên trong nhà, ngày thứ ba lễ cấp sắc. Người chết được cúng đưa hồn về quê cũ ở Dương Châu.


Nhà mới: Muốn làm nhà phải xem tuổi những người trong gia đình, nhất là tuổi chủ gia đình. Nghi lễ chọn đất được coi là quan trọng. Buổi tối, người ta đào một hố to bằng miệng bát, xếp một số hạt gạo tượng trưng cho người, trâu bò, tiền bạc, thóc lúa, tài sản rồi úp bát lên. Dựa vào mộng báo đêm đó mà biết điềm xấu hay tốt. Sáng hôm sau ra xem hỗ, các hạt gạo vẫn giữa nguyên vị trí là có thể làm nhà được.

Thờ cúng: Người Dao vừa tin theo các tín ngưỡng nguyên thuỷ, các nghi lễ nông nghiệp vừa chịu ảnh hưởng sâu sắc của Khổng giáo, Phật giáo và nhất là Ðạo giáo. Bàn vương được coi là thuỷ tổ của người Dao nên được cúng chung với tổ tiên từng gia đình. Theo truyền thống tất cả đàn ông đã đến tuổi trưởng thành đều phải qua lễ cấp sắc. một nghi lễ vừa mang tính chất của Ðạo giáo, vừa mang những vết của lễ thành đinh xa xưa.

Lịch: Người Dao quen dùng âm lịch để tính thời gian sản xuất và sinh hoạt.

Học: Hầu hết các xóm thôn người Dao đều có người biết chữ Hán, nôm Dao. Người ta học chữ để đọc sách cúng, sách truyện, thơ.

Văn nghệ: Người Dao có vốn văn nghệ dân gian rất phong phú, nhiều truyện cổ, bài hát, thơ ca. Ðặc biệt truyện Quả bầu với nạn hồng thuỷ, Sự tích Bàn Vương rất phổ biến trong người Dao. Múa, nhạc được họ sử dụng chủ yếu trong các nghi lễ tôn giáo.

Chơi: Người Dao thích chơi đu, chơi quay, đi cà kheo.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Dao
Dân tộc Mông

Tên tự gọi: Mông, Na Miẻo.

Tên gọi khác: Mẹo, Mèo, Miếu Hạ, Mán Trắng.

Nhóm địa phương: Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Ðỏ, Mông Ðen, Mông Xanh, Na Miẻo.

Dân số: 1.068.189 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngôn ngữ hệ Mông - Dao.

Hoạt động sản xuất: Nguồn sống chính là làm nương định canh hoặc nương du canh trồng ngô, lúa, lúa mạch. Nông dân có truyền thống trồng xen canh trên nương cùng với cây trồng chính là các cây ý dĩ, khoai, rau, lạc, vừng, đậu...

Chiếc cày của người Mông rất nổi tiếng về độ bền cũng như tính hiệu quả. Trồng lanh, thuốc phiện (trước đây), các cây ăn quả như táo, lê, đào, mận, dệt vải lanh là những hoạt động sản xuất đặc sắc của người Mông.

Người Mông chăn nuôi chủ yếu trâu, bò, lợn, gà, ngựa. Ngựa thồ là phương tiện vận chuyển rất có hiệu quả trên vùng cao núi đá. Con ngựa rất gần gũi và thân thiết với từng gia đình Mông.

Họ phát triển đa dạng các nghề thủ công như đan lát, rèn, làm yên cương ngựa, đồ gỗ, nhất là các đồ đựng, làm giấy bản, đồ trang sức bằng bạc phục vụ nhu cầu và thị hiếu của người dân. Các thợ thủ công Mông phần lớn là thợ bán chuyên nghiệp làm ra những sản phẩm nổi tiếng như lưỡi cày, nòng súng, các đồ đựng bằng gỗ ghép. Chợ ở vùng Mông thoả mãn vừa nhu cầu trao đổi hàng hoá vừa nhu cầu giao lưu tình cảm, sinh hoạt.

Ăn: Người Mông thường ăn ngày hai bữa, ngày mùa ăn ba bữa. Bữa ăn với các thực phẩm truyền thống có mèn mén (bột ngô đồ) hay cơm, rau xào mỡ và canh. Bột ngô được xúc ăn bằng thìa gỗ. Phụ nữ khéo léo làm các loại bánh bằng bột ngô, gạo vào những ngày tết, ngày lễ.

Người Mông quen uống rượu ngô, rượu gạo, hút thuốc bằng điếu cày. Ðưa mời khách chiếc điếu do tự tay mình nạp thuốc là biểu hiện tình cảm quý trọng. Trước kia, tục hút thuốc phiện tương đối phổ biến với họ.

Mặc: Trang phục của người Mông rất sặc sỡ, đa dạng giữa các nhóm.

Phụ nữ Mông Trắng trồng lanh, dệt vải lanh, váy màu trắng, áo xẻ ngực, thêu hoa văn ở cánh tay, yếm sau. Cạo tóc, để chỏm, đội khăn rộng vành.

Phụ nữ Mông Hoa mặc váy màu chàm có thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ nách, trên vai và ngực đắp vải màu và thêu. Ðể tóc dài, vấn tóc cùng tóc giả.

Phụ nữ Mông Ðen mặc váy bằng vải chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực.

Phụ nữ Mông Xanh mặc váy ống. Phụ nữ Mông Xanh đã có chồng cuốn tóc lên đỉnh đầu, cài bằng lược móng ngựa, đội khăn ra ngoài tạo thành hình như hai cái sừng.Trang trí trên y phục chủ yếu bằng đắp ghép vải màu, hoa văn thêu chủ yếu hình con ốc, hình vuông, hình quả trám, hình chữ thập.

Tuổi thơ hồn nhiên của trẻ em dân tộc Mông ở xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu (Sơn La). Ảnh Lưu Trọng Đạt.jpg
Tuổi thơ hồn nhiên của trẻ em dân tộc Mông ở xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu (Sơn La). Ảnh Lưu Trọng Đạt

: Người Mông quần tụ trong từng bản vài chục nóc nhà. Nhà trệt, ba gian hai chái, có từ hai đến ba cửa. Gian giữa đặt bàn thờ.

Nhà giàu thì tường trình, cột gỗ kê trên đá tảng hình đèn lồng hay quả bí, mái lợp ngói, sàn gác lát ván. Phổ biến nhà bưng ván hay vách nứa, mái tranh.

Lương thực được cất trữ trên sàn gác. Một số nơi có nhà kho chứa lương thực ở ngay cạnh nhà.

Chuồng gia súc được lát ván cao ráo, sạch sẽ.

Ở vùng cao núi đá, mỗi nhà có một khuôn viên riêng cách nhau bằng bức tường xếp đá cao khoảng gần 2 mét.

Phương tiện vận chuyển: Người Mông quen dùng ngựa thồ, gùi có hai quai đeo vai.

Quan hệ xã hội: Bản thường có nhiều họ, trong đó một hoặc hai họ giữ vị trí chủ đạo, có ảnh hưởng chính tới các quan hệ trong bản. Người đứng đầu bản điều chỉnh các quan hệ trong bản, trước kia, cả bằng hình thức phạt vạ lẫn dư luận xã hội. Dân mỗi bản tự nguyện cam kết và tuân thủ quy ước chung của bản về sản xuất, chăn nuôi, bảo vệ rừng và việc giúp đỡ lẫn nhau. Quan hệ trong bản càng gắn bó chặt chẽ hơn thông qua việc thờ cúng chung thổ thần của bản.

Người Mông rất coi trọng dòng họ bao gồm những người có chung tổ tiên. Các đặc trưng riêng với mỗi họ thể hiện ở những nghi lễ cúng tổ tiên, ma cửa, ma mụ... như số lượng và cách bày bát cúng, bài cúng, nơi cúng, ở các nghi lễ ma chay như cách quàn người chết trong nhà, cách để xác ngoài trời trước khi chôn, cách bố trí mộ...

Người cùng họ dù không biết nhau, dù cách xa bao đời nhưng qua cách trao đổi các đặc trưng trên có thể nhận ra họ của mình. Phong tục cấm ngặt những người cùng họ lấy nhau. Tình cảm gắn bó giữa những người trong họ sâu sắc. Trưởng họ là người có uy tín, được dòng họ tôn trọng, tin nghe.

Gia đình nhỏ, phụ hệ. Cô dâu đã qua lễ nhập môn, bước qua cửa nhà trai, coi như đã thuộc vào dòng họ của chồng. Vợ chồng rất gắn bó, luôn ở bên nhau khi đi chợ, đi nương, thăm hỏi họ hàng. Phổ biến tục cướp vợ.

Thờ cúng: Trong nhà có nhiều nơi linh thiêng dành riêng cho việc thờ cúng như nơi thờ tổ tiên, ma nhà, ma cửa, ma bếp. Những người biết nghề thuốc, biết làm thầy còn lập bàn thờ cúng những vị tổ sư nghề của mình. Nhiều lễ cúng kiêng cấm người lạ vào nhà, vào bản. Sau khi cúng ma cầu xin ai thường đeo bùa để lấy khước.

Học: Chữ Mông tuy được soạn thảo theo bộ vần chữ quốc ngữ từ những năm sáu mươi nhưng cho đến nay vẫn chưa thực sự phổ biến.

Lễ tết: Trong khi người Việt đang hối hả kết thúc tháng cuối cùng trong năm thì người Mông đã bước vào Tết năm mới truyền thống từ đầu tháng 12 âm lịch, sớm hơn tết Nguyên đán một tháng theo cách tính lịch cổ truyền của người Mông, phù hợp với nông lịch truyền thống.

Ngày Tết, dân làng thường chơi còn, đu, thổi khèn, ca hát ở những bãi rộng quanh làng. Tết lớn thứ hai là Tết 5 tháng năm (âm lịch). Ngoài hai tết chính, tuỳ từng nơi còn có các Tết vào các ngày 3 tháng 3, 13 tháng 6, 7 tháng 7 (âm lịch).

Các vận động viên dân tộc Mông thi đấu môn bắn nỏ tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc huyện Than Uyên (Lai Châu). Ảnh Quý Trung.jpg
Các vận động viên dân tộc Mông thi đấu môn bắn nỏ tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc huyện Than Uyên (Lai Châu). Ảnh Quý Trung

Văn nghệ: Thanh niên thích chơi khèn, vừa thổi vừa múa. Khèn, trống còn được sử dụng trong đám ma, lúc viếng, trong các lễ cúng cơm. Kèn lá, đàn môi là phương tiện để thanh niên trao đổi tâm tình.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Mông

Có thể bạn quan tâm

Giải chạy 'Dấu chân mùa vàng Khun Há' năm 2026

Giải chạy 'Dấu chân mùa vàng Khun Há' năm 2026

Sáng ngày 6/9, tại bản du lịch cộng đồng Lao Chải, UBND xã Khun Há tổ chức Giải chạy “Dấu chân mùa vàng Khun Há” năm 2026 với thông điệp “Chạy giữa mùa vàng - Chạm miền bản sắc” nhằm góp phần quảng bá vẻ đẹp ruộng bậc thang mùa lúa chín, cảnh quan thiên nhiên và bản sắc văn hóa địa phương đến người dân, du khách.

Những ngôi trường mới nơi biên cương

Những ngôi trường mới nơi biên cương

Năm học 2026 - 2027 đánh dấu một bước chuyển quan trọng đối với ngành giáo dục khi 108 trường phổ thông nội trú (PTNT) liên cấp tại các xã biên giới đất liền do Nhà nước xây dựng tại 19 tỉnh, thành được đưa vào sử dụng nhằm tạo điều kiện học tập, ăn ở cho con em đồng bào dân tộc thiểu số và vùng sâu vùng xa.

Người dân miền núi Bắc Ninh phấn khởi trong ngày Tết Độc lập

Người dân miền núi Bắc Ninh phấn khởi trong ngày Tết Độc lập

Chào mừng cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9, vào những ngày này trên khắp các tuyến đường, trên khắp các bản làng vùng sâu vùng xa của Bắc Ninh đâu đâu cũng ngập tràn trong sắc thắm của cờ đỏ sao vàng. Những con đường rợp cờ Tổ quốc tung bay là biểu tượng thiêng liêng về tình yêu quê hương, đất nước đã mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho mỗi người dân.

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Phong trào “Bình dân học vụ số” cùng các chiến dịch như “Mùa hè số cùng VNeID” trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đang được triển khai đồng bộ, tạo chuyển biến tích cực trong chuyển đổi số. Đặc biệt tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, những tiện ích số đang dần được "phủ xanh", phục vụ thiết thực cho cuộc sống hằng ngày của người dân.

Nàng Han - Huyền thoại trở về

Nàng Han - Huyền thoại trở về

Những bản làng xưa nay chỉ còn là hoài niệm dưới lòng hồ thủy điện sông Đà, nhưng câu chuyện về Nàng Han - biểu tượng cho tinh thần kiên cường và lòng yêu nước của người Thái trắng vẫn ngân vang qua nhiều thế hệ. 

Tuyên Quang: Đường thi công dang dở, người dân mòn mỏi chờ

Tuyên Quang: Đường thi công dang dở, người dân mòn mỏi chờ

Sau hơn 3 năm triển khai, tuyến đường tỉnh 176B qua xã Minh Sơn, tỉnh Tuyên Quang vẫn còn nhiều hạng mục dang dở, ảnh hưởng đến việc đi lại, giao thương và đời sống người dân. Dự án có tổng mức đầu tư hơn 409 tỷ đồng, được gia hạn đến hết năm 2026, song hoạt động thi công hiện gần như ngưng trệ, khiến người dân tiếp tục mòn mỏi chờ công trình hoàn thành.

Rộn ràng mái trường dân tộc nội trú trước ngày tựu trường

Rộn ràng mái trường dân tộc nội trú trước ngày tựu trường

Trước thềm năm học 2026 - 2027, Trường Phổ thông Dân tộc Nội trú Tây Ninh đang hoàn tất các điều kiện đón hơn 580 học sinh trở lại trường. Từ phòng học, ký túc xá, bếp ăn đến công tác y tế, dinh dưỡng đều được chuẩn bị chu đáo, tạo môi trường học tập, sinh hoạt an toàn để học sinh dân tộc thiểu số và vùng khó khăn yên tâm học tập, nuôi dưỡng ước mơ.

Lai Châu thiếu không gian sinh hoạt chung sau sáp nhập thôn, bản

Lai Châu thiếu không gian sinh hoạt chung sau sáp nhập thôn, bản

Sau sáp nhập thôn, bản, quy mô dân cư tăng lên nhưng nhiều nhà văn hóa không còn đáp ứng nhu cầu hội họp, sinh hoạt cộng đồng. Tại xã Than Uyên, tỉnh Lai Châu, tình trạng thừa nhà văn hóa nhưng thiếu không gian sinh hoạt chung đang đặt ra yêu cầu có giải pháp phù hợp với thực tế sau sáp nhập.

'Thứ Bảy về ấp' trao niềm tin số cho đồng bào dân tộc

'Thứ Bảy về ấp' trao niềm tin số cho đồng bào dân tộc

Thay vì dành ngày nghỉ cuối tuần để nghỉ ngơi, ngay từ sáng sớm thứ Bảy, đội ngũ cán bộ Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Hồ Thị Kỷ, tỉnh Cà Mau đã có mặt tại các điểm dân cư. Mô hình "Thứ Bảy về ấp" ra đời như một nhịp cầu nối, đưa dịch vụ công trực tuyến đến gần hơn với người dân, đặc biệt là người cao tuổi và đồng bào dân tộc thiểu số ít có điều kiện tiếp cận công nghệ số.

Sẵn sàng ngày tựu trường nơi vùng biên

Sẵn sàng ngày tựu trường nơi vùng biên

Trước thềm năm học mới 2026-2027, hạ tầng giáo dục tại các xã biên giới trên địa bàn thành phố Đồng Nai ghi nhận bước chuyển mình mạnh mẽ. Hàng trăm tỷ đồng được giải ngân kịp thời để hoàn thiện trường lớp, nhà ăn, từ đó tạo động lực giúp học sinh vùng biên bám trường, bám lớp.

Người Cil bền bỉ giữ nghề dệt thổ cẩm ở cổng trời Đưng K’Nớ

Người Cil bền bỉ giữ nghề dệt thổ cẩm ở cổng trời Đưng K’Nớ

Ẩn mình dưới làn sương mù nơi cổng trời Đưng K’Nớ (Lâm Đồng), đồng bào người Cil vẫn bền bỉ giữ lửa nghề dệt thổ cẩm qua nhiều thế hệ. Không chỉ gìn giữ nét văn hóa độc đáo của tổ tiên, những tấm thổ cẩm truyền thống hôm nay đang được làm mới, mở ra hướng đi triển vọng gắn liền với phát triển du lịch cộng đồng nơi đại ngàn Tây Nguyên.

Mở tương lai tươi sáng cho trẻ em vùng biên

Mở tương lai tươi sáng cho trẻ em vùng biên

Chỉ còn ít ngày nữa, năm học 2026 - 2027 sẽ chính thức bắt đầu. Cùng với niềm vui tựu trường của học sinh trên cả nước, tại các xã biên giới, những ngôi trường phổ thông nội trú liên cấp đang gấp rút hoàn thiện những công việc cuối cùng để sẵn sàng đón học sinh.

Bước tiến mới ở vùng đất khó Tân Pheo

Bước tiến mới ở vùng đất khó Tân Pheo

Tân Pheo là xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi của tỉnh Phú Thọ, Xã có 19 xóm, hơn 10.600 người, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm trên 97%. Từ nguồn lực các Chương trình mục tiêu quốc gia, diện mạo vùng quê miền núi từng bước có những đổi thay. 

Xã vùng cao biên giới Thu Lũm sẵn sàng hành trình 'Gieo con chữ'

Xã vùng cao biên giới Thu Lũm sẵn sàng hành trình 'Gieo con chữ'

Là xã biên giới xa nhất của tỉnh Lai Châu, địa hình chia cắt, điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, Thu Lũm luôn đứng trước không ít thách thức trong việc nâng cao chất lượng giáo dục. Song, bằng sự chủ động và quyết tâm, cấp ủy, chính quyền cùng các nhà trường đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, từ sắp xếp tổ chức bộ máy, chuẩn bị cơ sở vật chất, rà soát, huy động học sinh đến tranh thủ các nguồn lực hỗ trợ.

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Giảm chi phí, chủ động phòng bệnh, nâng cao chất lượng đàn vật nuôi và bảo vệ môi trường đang là những yêu cầu thiết yếu được người chăn nuôi quan tâm. Từ những thay đổi trong cách chăm sóc, vệ sinh chuồng trại đến xử lý chất thải bằng các giải pháp sinh học, nhiều hộ dân tại Bắc Ninh đang từng bước hình thành phương thức chăn nuôi an toàn, hiệu quả và bền vững.

Nỗ lực về đích trước tiếng trống khai trường

Nỗ lực về đích trước tiếng trống khai trường

Ở những xã vùng biên, hành trình đến trường của nhiều em nhỏ chưa bao giờ là một hành trình dễ dàng. Có nơi, thầy và trò vẫn phải duy trì việc dạy và học trong những phòng học còn chật hẹp, thiếu thốn. Có những em ở cách trường hàng chục cây số; chuyện học tập vì thế không chỉ là câu chuyện của sách vở, mà còn là câu chuyện về nơi ăn, chốn ở và điều kiện để các em có thể yên tâm học tập.

Hiệu quả mô hình tự quản vùng biên Môn Sơn, Nghệ An

Hiệu quả mô hình tự quản vùng biên Môn Sơn, Nghệ An

Với hơn 4000 hộ dân và 36,5km đường biên giới tiếp giáp nước bạn Lào; địa hình chia cắt, đời sống còn nhiều khó khăn, xã vùng biên Môn Sơn (Nghệ An) từng đối mặt với không ít thách thức trong công tác quản lý địa bàn và bảo đảm an ninh trật tự. Tuy nhiên, bằng việc phát huy sức mạnh 'thế trận lòng dân' thông qua các mô hình tự quản sáng tạo, Môn Sơn không chỉ giữ vững sự bình yên hôm nay, mà còn tạo nền tảng vững chắc để vùng biên viễn phát triển.

Mưa lũ gây sạt lở, chia cắt bản Na Ngân (Nghệ An)

Mưa lũ gây sạt lở, chia cắt bản Na Ngân (Nghệ An)

Bản Na Ngân (xã Nga My, tỉnh Nghệ An) có hơn 150 hộ với gần 740 nhân khẩu, chủ yếu là đồng bào Thái. Bản cách trung tâm xã 20 km, mưa lũ những ngày qua đã gây sạt lở nhiều đoạn trên tuyến đường độc đạo dẫn vào bản. Mưa lũ cũng đã cuốn trôi câu cầu nội bộ, gây chia cắt các hộ dân trong bản.

Vùng cao xã Tà Tổng (Lai Châu) sẵn sàng cho năm học mới

Vùng cao xã Tà Tổng (Lai Châu) sẵn sàng cho năm học mới

Chỉ còn ít ngày nữa là chính thức bước vào năm học mới 2026–2027, ngay sau khi đội ngũ giáo viên trở lại đơn vị công tác, các trường học trên địa bàn xã Tà Tổng, tỉnh Lai Châu đã khẩn trương triển khai các điều kiện cần thiết để sẵn sàng bước vào năm học mới.

Chắp cánh ước mơ từ ngôi trường mới vùng biên

Chắp cánh ước mơ từ ngôi trường mới vùng biên

Chỉ còn ít ngày nữa, học sinh trên địa bàn thành phố Huế sẽ bước vào năm học mới. Tại vùng cao A Lưới, một cuộc chạy đua với thời gian đang diễn ra trên công trường xây dựng Trường phổ thông dân tộc nội trú liên cấp Tiểu học và THCS. Mỗi ngày trôi qua, những hạng mục cuối cùng lại được hoàn thiện, để ngôi trường mới kịp mở cửa đón học sinh.

Nguy cơ hàng trăm hộ dân giữa đại ngàn bị cô lập

Nguy cơ hàng trăm hộ dân giữa đại ngàn bị cô lập

Tuyến đường đất độc đạo dài hơn 20 km xuyên đại ngàn Pù Huống, nối các bản Na Ngân, Na Kho, Xốp Kho với trung tâm xã Nga My (tỉnh Nghệ An) và quốc lộ 48C, nhiều năm qua xuống cấp nghiêm trọng. Mỗi mùa mưa bão về, gần 300 hộ dân với hơn 1.400 nhân khẩu thấp thỏm lo bị cô lập.

Lào Cai tích cực chuẩn bị cho ngày khai giảng năm học mới

Lào Cai tích cực chuẩn bị cho ngày khai giảng năm học mới

Ngày 20/8, Đoàn công tác Bộ Giáo dục và Đào tạo do đồng chí Phạm Ngọc Thưởng, Thứ trưởng thường trực Bộ Giáo dục và Đào tạo làm trưởng đoàn đã lên làm việc với tỉnh Lào Cai về chuẩn bị lễ khai giảng năm học 2026-2027 và khánh thành trường phổ thông nội trú tiểu học và trung học cơ sở Mường Khương tại xã biên giới Mường Khương.

Những phụ nữ tiên phong ở bản vùng cao Điện Biên

Những phụ nữ tiên phong ở bản vùng cao Điện Biên

Tại Điện Biên, thời gian qua nhiều phụ nữ vùng cao luôn đi đầu trong các phong trào, phát triển kinh tế, gìn giữ bản sắc văn hóa và vận động hội viên cùng vươn lên. Họ chính là những “thủ lĩnh phụ nữ” ở cơ sở.

Nông dân Lào Cai làm giàu từ liên kết xuất khẩu măng Bát Độ

Nông dân Lào Cai làm giàu từ liên kết xuất khẩu măng Bát Độ

Những ngày này, nông dân xã Hưng Khánh, tỉnh Lào Cai rộn ràng bước vào chính vụ thu hoạch măng tre Bát độ. Với năng suất 20 đến 25 tấn/ha, mỗi năm, loại cây này mang lại thu nhập 70 đến 120 triệu đồng, cao gấp nhiều lần cây lâm nghiệp truyền thống.

Đảm bảo an toàn cho người dân trước nguy cơ sạt lở

Đảm bảo an toàn cho người dân trước nguy cơ sạt lở

Tại thôn Thu Lu, xã Tân Pheo, tỉnh Phú Thọ, nhiều hộ dân sống dưới chân đồi luôn phải chủ động phòng tránh nguy cơ sạt lở đất trong mùa mưa bão. Một số khu vực đã xảy ra sạt lở, ảnh hưởng đến nhà cửa và cuộc sống của người dân. Địa hình miền núi dốc, nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, sản xuất gần khu vực đồi núi. Khi mưa lớn kéo dài, đất ngậm nước, nguy cơ sạt trượt gia tăng, nhất là tại những vị trí từng xảy ra sạt lở.