Đánh thức tiềm năng phát triển du lịch cao nguyên Sìn Hồ

Được mệnh danh là “Sa Pa thứ hai” của vùng Tây Bắc, Cao nguyên Sìn Hồ (Lai Châu) không chỉ hấp dẫn bởi khí hậu mát mẻ quanh năm và cảnh quan hùng vĩ, mà còn là nơi lưu giữ nét văn hóa đặc sắc của đồng bào các dân tộc Mông, Dao. Những năm gần đây, xã Sìn Hồ đã và đang khai thác hiệu quả tiềm năng phát triển du lịch gắn với bảo tồn thiên nhiên và bản sắc văn hóa, từng bước đưa du lịch trở thành hướng phát triển kinh tế bền vững của địa phương.

Dân tộc Dao

Tên tự gọi: Kìm Miền, Kìm Mùn (người rừng).

Tên gọi khác: Mán.

Nhóm địa phương: Dao Ðỏ (Dao Cóc Ngáng, Dao sừng, Dao Dụ lạy, Dao Ðại bản), Dao Quần chẹt (Dao Sơn đầu, Dao Tam đảo, Dao Nga hoàng, Dụ Cùn), Dao Lô gang (Dao Thanh phán, Dao Cóc Mùn), Dao Tiền (Dao Ðeo tiền, Dao Tiểu bản), Dao Quần trắng (Dao Họ), Dao Thanh Y, Dao Làn Tẻn (Dao Tuyển, Dao áo dài).

Dân số: 751.067 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngữ hệ Hmông - Dao.

Lịch sử: Người Dao có nguồn gốc từ Trung Quốc, việc chuyển cư sang Việt Nam kéo dài suốt từ thế kỷ XII, XIII cho đến nửa đầu thế kỷ XX. Họ tự nhận mình là con cháu của Bản Hồ (Bàn vương), một nhân vật huyền thoại rất phổ biến và thiêng liêng ở người Dao.

Hoạt động sản xuất: Nương, thổ canh hốc đá, ruộng là những hình thức canh tác phổ biến ở người Dao. Tuỳ từng nhóm, từng vùng mà hình thức canh tác này hay khác nổi trội lên như: Người Dao Quần Trắng, Dao áo Dài, Dao Thanh Y chuyên làm ruộng nước. Người Dao Ðỏ - thổ canh hốc đá. Phần lớn các nhóm Dao khác làm nương du canh hay định canh. Cây lương thực chính là lúa, ngô, các loại rau màu quan trọng như bầu, bí, khoai... Họ chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà ở vùng lưng chừng núi và vùng cao còn nuôi ngựa, dê.

Nghề trồng bông, dệt vải phổ biến ở các nhóm Dao. Họ ưa dùng vải nhuộm chàm.

Hầu hết các xóm đều có lò rèn để sửa chữa nông cụ. Nhiều nơi còn làm súng hoả mai, súng kíp, đúc những hạt đạn bằng gang. Nghề thợ bạc là nghề gia truyền, chủ yếu làm những đồ trang sức như vòng cổ, vòng chân, vòng tay, vòng tai, nhẫn, dây bạc, hộp đựng trầu...

Nhóm Dao Ðỏ và Dao Tiền có nghề làm giấy bản. Giấy bản dùng để chép sách cúng, sách truyện, sách hát hay dùng cho các lễ cúng như viết sớ, tiền ma. Nhiều nơi có nghề ép dầu thắp sáng hay dầu ăn, nghề làm đường mật.

Ăn: Người Dao thường ăn hai bữa chính trong ngày, bữa trưa và bữa tối. Chỉ những ngày mùa bận rộn mới ăn thêm bữa sáng. Người Dao ăn cơm là chính, ở một số nơi lại ăn ngô nhiều hơn ăn cơm hoặc ăn cháo. Cối xay lúa thường dùng là loại cối gỗ đóng dăm tre. Cối giã có nhiều loại như cối gỗ hình trụ, cối máng giã bằng chày tay, cối đạp chân, cối giã bằng sức nước. Họ thích ăn thịt luộc, các món thịt sấy khô, ướp chua, canh măng chua. Khi ăn xong, người ra kiêng để đũa ngang miệng bát vì đó là dấu hiệu trong nhà có người chết.

Phổ biến là rượu cất, ở một vài nơi lại uống hoãng, thứ rượu không qua trưng cất, có vị chua và ít cay.

Người Dao thường hút thuốc lá và thuốc lào bằng điếu cầy hay tẩu.

Mặc: Trước đây đàn ông để tóc dài, búi sau gáy hoặc để chỏm tóc dài trên đỉnh đầu, xung quanh cạo nhẵn. Các nhóm Dao thường có cách đội khăn khác nhau. áo có hai loại, áo dài và áo ngắn.

Phụ nữ Dao mặc rất đa dạng, thường mặc áo dài yếm, váy hoặc quần. Y phục theo rất sặc sỡ. Họ không theo theo mẫu vẽ sẵn trên vải mà hoàn toàn dựa vào trí nhớ, thêu ở mặt trái của vải để hình mẫu nổi lên mặt phải. Nhiều loại hoa văn như chữ vạn, cây thông, hình chim, người, động vật, lá cây. Cách in hoa văn trên vải bằng sáp ong ở người Dao rất độc đáo. Muốn hình gì người ta dùng bút vẽ hay nhúng khuôn in vào sáp ong nóng chẩy rồi in lên vải. Vải sau khi nhuộm chàm sẽ hiện lên hoa văn mầu xanh lơ do phủ lớp sáp ong không bị thấm chàm.

: Người Dao thường sống ở vùng lưng chừng núi hầu khắp các tỉnh miền núi miền Bắc. Tuy nhiên một số nhóm như Dao Quần trắng ở thung lũng, còn Dao Ðỏ lại ở trên núi cao. Thôn xóm phần nhiều phân tán, rải rác, năm bẩy nóc nhà. Nhà của người Dao rất khác nhau, tuỳ nơi họ ở nhà trệt, nhà sàn hay nhà nửa sàn, nửa đất.

Phương tiện vận chuyển: Người Dao ở vùng cao quen dùng địu có hai quai đeo vai, vùng thấp gánh bằng đôi dậu. Túi vải hay túi lưới đeo vai rất được họ ưa dùng.

Quan hệ xã hội: Trong thôn xóm tồn tại chủ yếu các quan hệ xóm giềng và quan hệ dòng họ.

Người Dao có nhiều họ, phổ biến nhất là các họ Bàn, Ðặng, Triệu. Các dòng họ, chi họ thường có gia phả riêng và có hệ thống tên đệm để phân biệt giữa những người thuộc các thế hệ khác nhau.

Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ ngồi, đẻ ngay trong buồng ngủ. Trẻ sơ sinh được tắm bằng nước nóng. Nhà có người ở cữ người ta treo cành lá xanh hay cài hoa chuối trước cửa để làm dấu không cho người lạ vào nhà vì sợ vía độc ảnh hưởng tới sức khoẻ đứa trẻ. Trẻ sơ sinh được ba ngày thì làm lễ cúng mụ.

Cưới xin: Trai gái muốn lấy được nhau phải so tuổi, bói chân gà xem có hợp nhau không. Có tục chăng dây, hát đối đáp giữa nhà trai và nhà gái trước khi vào nhà, hát trong đám cưới. Lúc đón dâu, cô dâu được cõng ra khỏi nhà gái và bước qua cái kéo mà thầy cúng đã làm phép mới được vào nhà trai.

Ma chay: Thày tào có vị trí quan trọng trong việc ma và làm chay. Nhà có người chết con cái đến nhà thầy mời về chủ trì các nghi lễ, tìm đất đào huyệt. Người ta kiêng khâm liệm người chết vào giờ sinh của những người trong gia đình. Người chết được liệm vào quan tài để trong nhà hay chỉ bó chiếu ra đến huyệt rồi mới cho vào quan tài. Mộ được đắp đất, xếp đá ở chân mộ. ở một số nơi có tục hoả táng cho những người chết từ 12 tuổi trở lên.

Lễ làm chay cho người chết diễn ra sau nhiều năm, thường được kết hợp với lễ cấp sắc cho một người đàn ông nào đó đang sống trong gia đình. Lễ tổ chức ba ngày, ngày đầu gọi là lễ phá ngục, giải thoát hồn cho người chết, ngày thứ hai gọi là lễ tắm hương hoa cho người chết trước khi đưa hồn về bàn thờ tổ tiên trong nhà, ngày thứ ba lễ cấp sắc. Người chết được cúng đưa hồn về quê cũ ở Dương Châu.


Nhà mới: Muốn làm nhà phải xem tuổi những người trong gia đình, nhất là tuổi chủ gia đình. Nghi lễ chọn đất được coi là quan trọng. Buổi tối, người ta đào một hố to bằng miệng bát, xếp một số hạt gạo tượng trưng cho người, trâu bò, tiền bạc, thóc lúa, tài sản rồi úp bát lên. Dựa vào mộng báo đêm đó mà biết điềm xấu hay tốt. Sáng hôm sau ra xem hỗ, các hạt gạo vẫn giữa nguyên vị trí là có thể làm nhà được.

Thờ cúng: Người Dao vừa tin theo các tín ngưỡng nguyên thuỷ, các nghi lễ nông nghiệp vừa chịu ảnh hưởng sâu sắc của Khổng giáo, Phật giáo và nhất là Ðạo giáo. Bàn vương được coi là thuỷ tổ của người Dao nên được cúng chung với tổ tiên từng gia đình. Theo truyền thống tất cả đàn ông đã đến tuổi trưởng thành đều phải qua lễ cấp sắc. một nghi lễ vừa mang tính chất của Ðạo giáo, vừa mang những vết của lễ thành đinh xa xưa.

Lịch: Người Dao quen dùng âm lịch để tính thời gian sản xuất và sinh hoạt.

Học: Hầu hết các xóm thôn người Dao đều có người biết chữ Hán, nôm Dao. Người ta học chữ để đọc sách cúng, sách truyện, thơ.

Văn nghệ: Người Dao có vốn văn nghệ dân gian rất phong phú, nhiều truyện cổ, bài hát, thơ ca. Ðặc biệt truyện Quả bầu với nạn hồng thuỷ, Sự tích Bàn Vương rất phổ biến trong người Dao. Múa, nhạc được họ sử dụng chủ yếu trong các nghi lễ tôn giáo.

Chơi: Người Dao thích chơi đu, chơi quay, đi cà kheo.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Dao
Dân tộc Mông

Tên tự gọi: Mông, Na Miẻo.

Tên gọi khác: Mẹo, Mèo, Miếu Hạ, Mán Trắng.

Nhóm địa phương: Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Ðỏ, Mông Ðen, Mông Xanh, Na Miẻo.

Dân số: 1.068.189 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngôn ngữ hệ Mông - Dao.

Hoạt động sản xuất: Nguồn sống chính là làm nương định canh hoặc nương du canh trồng ngô, lúa, lúa mạch. Nông dân có truyền thống trồng xen canh trên nương cùng với cây trồng chính là các cây ý dĩ, khoai, rau, lạc, vừng, đậu...

Chiếc cày của người Mông rất nổi tiếng về độ bền cũng như tính hiệu quả. Trồng lanh, thuốc phiện (trước đây), các cây ăn quả như táo, lê, đào, mận, dệt vải lanh là những hoạt động sản xuất đặc sắc của người Mông.

Người Mông chăn nuôi chủ yếu trâu, bò, lợn, gà, ngựa. Ngựa thồ là phương tiện vận chuyển rất có hiệu quả trên vùng cao núi đá. Con ngựa rất gần gũi và thân thiết với từng gia đình Mông.

Họ phát triển đa dạng các nghề thủ công như đan lát, rèn, làm yên cương ngựa, đồ gỗ, nhất là các đồ đựng, làm giấy bản, đồ trang sức bằng bạc phục vụ nhu cầu và thị hiếu của người dân. Các thợ thủ công Mông phần lớn là thợ bán chuyên nghiệp làm ra những sản phẩm nổi tiếng như lưỡi cày, nòng súng, các đồ đựng bằng gỗ ghép. Chợ ở vùng Mông thoả mãn vừa nhu cầu trao đổi hàng hoá vừa nhu cầu giao lưu tình cảm, sinh hoạt.

Ăn: Người Mông thường ăn ngày hai bữa, ngày mùa ăn ba bữa. Bữa ăn với các thực phẩm truyền thống có mèn mén (bột ngô đồ) hay cơm, rau xào mỡ và canh. Bột ngô được xúc ăn bằng thìa gỗ. Phụ nữ khéo léo làm các loại bánh bằng bột ngô, gạo vào những ngày tết, ngày lễ.

Người Mông quen uống rượu ngô, rượu gạo, hút thuốc bằng điếu cày. Ðưa mời khách chiếc điếu do tự tay mình nạp thuốc là biểu hiện tình cảm quý trọng. Trước kia, tục hút thuốc phiện tương đối phổ biến với họ.

Mặc: Trang phục của người Mông rất sặc sỡ, đa dạng giữa các nhóm.

Phụ nữ Mông Trắng trồng lanh, dệt vải lanh, váy màu trắng, áo xẻ ngực, thêu hoa văn ở cánh tay, yếm sau. Cạo tóc, để chỏm, đội khăn rộng vành.

Phụ nữ Mông Hoa mặc váy màu chàm có thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ nách, trên vai và ngực đắp vải màu và thêu. Ðể tóc dài, vấn tóc cùng tóc giả.

Phụ nữ Mông Ðen mặc váy bằng vải chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực.

Phụ nữ Mông Xanh mặc váy ống. Phụ nữ Mông Xanh đã có chồng cuốn tóc lên đỉnh đầu, cài bằng lược móng ngựa, đội khăn ra ngoài tạo thành hình như hai cái sừng.Trang trí trên y phục chủ yếu bằng đắp ghép vải màu, hoa văn thêu chủ yếu hình con ốc, hình vuông, hình quả trám, hình chữ thập.

Tuổi thơ hồn nhiên của trẻ em dân tộc Mông ở xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu (Sơn La). Ảnh Lưu Trọng Đạt.jpg
Tuổi thơ hồn nhiên của trẻ em dân tộc Mông ở xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu (Sơn La). Ảnh Lưu Trọng Đạt

: Người Mông quần tụ trong từng bản vài chục nóc nhà. Nhà trệt, ba gian hai chái, có từ hai đến ba cửa. Gian giữa đặt bàn thờ.

Nhà giàu thì tường trình, cột gỗ kê trên đá tảng hình đèn lồng hay quả bí, mái lợp ngói, sàn gác lát ván. Phổ biến nhà bưng ván hay vách nứa, mái tranh.

Lương thực được cất trữ trên sàn gác. Một số nơi có nhà kho chứa lương thực ở ngay cạnh nhà.

Chuồng gia súc được lát ván cao ráo, sạch sẽ.

Ở vùng cao núi đá, mỗi nhà có một khuôn viên riêng cách nhau bằng bức tường xếp đá cao khoảng gần 2 mét.

Phương tiện vận chuyển: Người Mông quen dùng ngựa thồ, gùi có hai quai đeo vai.

Quan hệ xã hội: Bản thường có nhiều họ, trong đó một hoặc hai họ giữ vị trí chủ đạo, có ảnh hưởng chính tới các quan hệ trong bản. Người đứng đầu bản điều chỉnh các quan hệ trong bản, trước kia, cả bằng hình thức phạt vạ lẫn dư luận xã hội. Dân mỗi bản tự nguyện cam kết và tuân thủ quy ước chung của bản về sản xuất, chăn nuôi, bảo vệ rừng và việc giúp đỡ lẫn nhau. Quan hệ trong bản càng gắn bó chặt chẽ hơn thông qua việc thờ cúng chung thổ thần của bản.

Người Mông rất coi trọng dòng họ bao gồm những người có chung tổ tiên. Các đặc trưng riêng với mỗi họ thể hiện ở những nghi lễ cúng tổ tiên, ma cửa, ma mụ... như số lượng và cách bày bát cúng, bài cúng, nơi cúng, ở các nghi lễ ma chay như cách quàn người chết trong nhà, cách để xác ngoài trời trước khi chôn, cách bố trí mộ...

Người cùng họ dù không biết nhau, dù cách xa bao đời nhưng qua cách trao đổi các đặc trưng trên có thể nhận ra họ của mình. Phong tục cấm ngặt những người cùng họ lấy nhau. Tình cảm gắn bó giữa những người trong họ sâu sắc. Trưởng họ là người có uy tín, được dòng họ tôn trọng, tin nghe.

Gia đình nhỏ, phụ hệ. Cô dâu đã qua lễ nhập môn, bước qua cửa nhà trai, coi như đã thuộc vào dòng họ của chồng. Vợ chồng rất gắn bó, luôn ở bên nhau khi đi chợ, đi nương, thăm hỏi họ hàng. Phổ biến tục cướp vợ.

Thờ cúng: Trong nhà có nhiều nơi linh thiêng dành riêng cho việc thờ cúng như nơi thờ tổ tiên, ma nhà, ma cửa, ma bếp. Những người biết nghề thuốc, biết làm thầy còn lập bàn thờ cúng những vị tổ sư nghề của mình. Nhiều lễ cúng kiêng cấm người lạ vào nhà, vào bản. Sau khi cúng ma cầu xin ai thường đeo bùa để lấy khước.

Học: Chữ Mông tuy được soạn thảo theo bộ vần chữ quốc ngữ từ những năm sáu mươi nhưng cho đến nay vẫn chưa thực sự phổ biến.

Lễ tết: Trong khi người Việt đang hối hả kết thúc tháng cuối cùng trong năm thì người Mông đã bước vào Tết năm mới truyền thống từ đầu tháng 12 âm lịch, sớm hơn tết Nguyên đán một tháng theo cách tính lịch cổ truyền của người Mông, phù hợp với nông lịch truyền thống.

Ngày Tết, dân làng thường chơi còn, đu, thổi khèn, ca hát ở những bãi rộng quanh làng. Tết lớn thứ hai là Tết 5 tháng năm (âm lịch). Ngoài hai tết chính, tuỳ từng nơi còn có các Tết vào các ngày 3 tháng 3, 13 tháng 6, 7 tháng 7 (âm lịch).

Các vận động viên dân tộc Mông thi đấu môn bắn nỏ tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc huyện Than Uyên (Lai Châu). Ảnh Quý Trung.jpg
Các vận động viên dân tộc Mông thi đấu môn bắn nỏ tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc huyện Than Uyên (Lai Châu). Ảnh Quý Trung

Văn nghệ: Thanh niên thích chơi khèn, vừa thổi vừa múa. Khèn, trống còn được sử dụng trong đám ma, lúc viếng, trong các lễ cúng cơm. Kèn lá, đàn môi là phương tiện để thanh niên trao đổi tâm tình.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Mông

Có thể bạn quan tâm

Giữ hồn tiếng sáo mũi của người Khơ Mú

Giữ hồn tiếng sáo mũi của người Khơ Mú

Giữa nhịp sống hiện đại đang đổi thay từng ngày, tiếng sáo mũi của người Khơ Mú, xã Mường Pồn vẫn ngân vang giữa núi rừng. Với âm thanh da diết, réo rắt, sáo mũi không chỉ là nhạc cụ dân gian mà còn góp phần lưu giữ bản sắc văn hóa dân tộc ở vùng cao Điện Biên.

Chính sách mới thắp sáng những mái trường vùng cao

Chính sách mới thắp sáng những mái trường vùng cao

Tại nhiều điểm trường vùng cao của tỉnh Tuyên Quang, nơi học sinh từng phải mang theo gạo, rau từ nhà đến lớp, Nghị định 66 của Chính phủ đang từng bước mang đến những đổi thay tích cực cho giáo dục miền núi.

Đảm bảo nước sinh hoạt hợp vệ sinh cho học sinh vùng cao

Đảm bảo nước sinh hoạt hợp vệ sinh cho học sinh vùng cao

Nhiều trường học vùng cao tại tỉnh Điện Biên đang đối mặt với tình trạng thiếu nước sinh hoạt mỗi mùa khô. Trước thực tế này, chính quyền địa phương và các nhà trường đang nỗ lực huy động nguồn lực, triển khai nhiều giải pháp nhằm đảm bảo nguồn nước sạch cho thầy và trò.

Ứng dụng KHCN trong sản xuất nông nghiệp tại Điện Biên

Ứng dụng KHCN trong sản xuất nông nghiệp tại Điện Biên

Những năm gần đây, việc ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp tại Điện Biên ngày càng được đẩy mạnh. Nhiều mô hình sản xuất hiện đại đã góp phần nâng cao năng suất, chất lượng nông sản và mở ra hướng phát triển nông nghiệp bền vững cho địa phương.

Những bước chân xanh trên ruộng vàng biên giới Huế

Những bước chân xanh trên ruộng vàng biên giới Huế

Giữa cái nắng đầu hè vùng cao A Lưới, không khí mùa gặt trở nên rộn ràng trên những cánh đồng lúa chín. Nổi bật giữa đồng vàng là màu xanh áo lính của cán bộ, chiến sĩ Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng thành phố Huế đang cùng người dân thu hoạch lúa đông xuân.

'Cột mốc xanh' nơi biên cương xứ Lạng

'Cột mốc xanh' nơi biên cương xứ Lạng

Những năm gần đây, các Đồn Biên phòng, Bộ đội Biên phòng tỉnh Lạng Sơn đã xây dựng, phát triển các "Vườn cây kiểu mẫu" góp phần tạo nên những “cột mốc xanh” trên tuyến biên giới, không chỉ mang ý nghĩa phủ xanh đất trống, bảo vệ môi trường mà còn khẳng định chủ quyền, lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.

Khám phá mùa mận chín trên cao nguyên Mộc Châu

Khám phá mùa mận chín trên cao nguyên Mộc Châu

Những ngày này, thung lũng Nà Ka trên cao nguyên Mộc Châu, tỉnh Sơn La bước vào mùa mận chín rực rỡ. Những vườn mận trĩu quả thu hút đông du khách đến tham quan, trải nghiệm tự tay hái và thưởng thức mận hậu giữa không gian núi rừng Tây Bắc thanh bình, thơ mộng.

Cần sớm đầu tư tuyến đường liên xã ở vùng cao Lào Cai

Cần sớm đầu tư tuyến đường liên xã ở vùng cao Lào Cai

Nhiều năm nay, tuyến đường duy nhất từ thôn Mộ, xã Châu Quế kết nối với thôn Khe Chìa, xã Phong Dụ Hạ, tỉnh Lào Cai chưa được đầu tư khiến việc đi lại của người dân gặp nhiều khó khăn. Niềm mong mỏi lớn nhất của người dân nơi đây có được một tuyến đường thuận lợi cho việc đi lại, giao thương, phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Khơi dòng vốn hỗ trợ đến tay nông dân

Khơi dòng vốn hỗ trợ đến tay nông dân

Nhằm thực hiện hiệu quả chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất nông lâm nghiệp, thủy sản, Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai đã ban hành Quyết định 13 quy định trình tự, thủ tục, hồ sơ thực hiện chính sách khuyến khích, hỗ trợ phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản trên địa bàn tỉnh Lào Cai theo nghị quyết số 21/2025/NQ-HĐND của HĐND tỉnh. Đây được coi là yếu tố then chốt để các địa phương có căn cứ thực hiện và khơi dòng vốn hỗ trợ đến tay nông dân.

Ấn tượng 'Hương sắc vùng cao'

Ấn tượng 'Hương sắc vùng cao'

Những bức ảnh nghệ thuật đặc sắc, các gian hàng trưng bày, giới thiệu sản phẩm đặc trưng của các tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Ninh Bình, Thanh Hoá, cùng những đêm diễn sôi động, hấp dẫn của âm nhạc và bản sắc văn hoá vùng miền. Đó là cảm nhận của đông đảo nhân dân và du khách khi đến tham dự Triển lãm “Hương sắc vùng cao” năm 2026 do Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch phối hợp với UBND tỉnh Sơn La tổ chức tại phường Mộc Sơn.

Tạo nền tảng để đồng bào Khmer thoát nghèo bền vững

Tạo nền tảng để đồng bào Khmer thoát nghèo bền vững

Sự kết hợp chặt chẽ giữa chính sách hỗ trợ từ Nhà nước và ý chí vươn lên của người dân đã trở thành "chìa khóa" mở ra cánh cửa thoát nghèo bền vững cho nhiều hộ đồng bào Khmer tại Cần Thơ. Những năm qua, việc triển khai các chính sách dân tộc không chỉ dừng lại ở các chương trình mục tiêu quốc gia, mà đã trở thành một chiến lược xuyên suốt, sát thực tiễn đời sống của người dân.

Lễ cầu ngư, thả hoa đăng trên sông Đà

Lễ cầu ngư, thả hoa đăng trên sông Đà

Tối 7/5, UBND phường Hòa Bình (tỉnh Phú Thọ) tổ chức Lễ cầu ngư, thả hoa đăng trên sông Đà năm 2026, tại khu vực Vườn hoa phố đi bộ đường Đà Giang.

Đổi thay trên quê hương cách mạng Pú Nhung

Đổi thay trên quê hương cách mạng Pú Nhung

Xã Pú Nhung, tỉnh Điện Biên là xã anh hùng, căn cứ cách mạng quan trọng trong kháng chiến chống Pháp, đồng thời là quê hương của Anh hùng liệt sĩ Vừ A Dính.

Từ một vùng đất còn nhiều khó khăn, nay trên những sườn đồi ở Pú Nhung, màu xanh của cà phê, mắc ca đang dần thay thế diện tích hoa màu kém hiệu quả. Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng đã mở ra hướng phát triển kinh tế mới cho người dân.

Phong lưu Sơn Vĩ - Phiên chợ tình ca

Phong lưu Sơn Vĩ - Phiên chợ tình ca

Giữa miền biên viễn nơi địa đầu cực Bắc Tổ quốc, sau phiên chợ tình Khâu Vai một ngày, đồng bào các dân tộc lại tìm về với chợ Phong lưu Sơn Vĩ ở xã Sơn Vĩ, tỉnh Tuyên Quang. Không chỉ là nơi gặp gỡ, trao đổi hàng hóa, chợ Phong lưu Sơn Vĩ còn là không gian văn hóa đậm sắc màu truyền thống, nơi lưu giữ những câu chuyện tình yêu mộc mạc, thủy chung của đồng bào vùng cao.

Lan tỏa hàng Việt trên 'chợ số'

Lan tỏa hàng Việt trên 'chợ số'

Đưa hàng Việt lên "chợ số" (thương mại điện tử) là chiến lược trọng tâm, kết hợp livestream, ứng dụng số và hỗ trợ của Chính phủ để nâng cao sức cạnh tranh. Nhiều doanh nghiệp đã tận dụng và coi các nền tảng “chợ số” là xu hướng thời đại để lan tỏa hàng Việt.

'Luồng xanh' khai thông điểm nghẽn đầu tư ở Điện Biên

'Luồng xanh' khai thông điểm nghẽn đầu tư ở Điện Biên

Trong bối cảnh thu hút đầu tư ngoài ngân sách được xác định là động lực tăng trưởng, tỉnh Điện Biên tập trung tháo gỡ vướng mắc về thủ tục hành chính. Cơ chế “Luồng xanh” được triển khai nhằm rút ngắn thời gian, nâng cao hiệu quả giải quyết thủ tục, góp phần cải thiện môi trường đầu tư.

Nỗi lo nước sạch của người dân vùng biên Thanh Thủy

Nỗi lo nước sạch của người dân vùng biên Thanh Thủy

Tại xã Thanh Thủy, Tuyên Quang, hệ thống cấp nước sinh hoạt xuống cấp sau nhiều năm khai thác, khiến nguồn nước không ổn định và tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn vệ sinh. Chính quyền địa phương đang triển khai các giải pháp khắc phục, hướng tới nâng cấp hệ thống nhằm bảo đảm nhu cầu sinh hoạt cho người dân.

Bàn giao 5 công trình dân sinh, sẻ chia khó khăn với người dân biên giới

Bàn giao 5 công trình dân sinh, sẻ chia khó khăn với người dân biên giới

Nhân dịp kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026), ngày 30/4, Đồn Biên phòng Hướng Phùng (Bộ đội Biên phòng Quảng Trị) đã tổ chức lễ dâng hương tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ và phối hợp với nhóm thiện nguyện “Vì nụ cười trẻ thơ” thành phố Hải Phòng bàn giao 5 công trình giếng khoan phục vụ dân sinh cho người dân trên địa bàn xã Hướng Phùng.

Hiệu quả trong ứng dụng công nghệ trong cảnh báo cháy rừng

Hiệu quả trong ứng dụng công nghệ trong cảnh báo cháy rừng

Trước những diễn biến phức tạp của thời tiết trong mùa khô, việc ứng dụng công nghệ vào quản lý, bảo vệ rừng đang trở thành giải pháp quan trọng. Tại Hạt kiểm lâm Sìn Hồ, Chi cục Kiểm lâm Lai Châu, hệ thống quan trắc, cảnh báo cháy rừng sớm đã phát huy hiệu quả, giúp lực lượng kiểm lâm chủ động hơn trong phát hiện và xử lý các điểm cháy.

Người già làng tận tụy vì buôn làng

Người già làng tận tụy vì buôn làng

Buôn Kơ Nia 4, xã Ea Nuôl, tỉnh Đắk Lắk, có một người già làng đã trở thành điểm tựa tinh thần của bà con suốt nhiều năm qua. Ở tuổi gần 80, già làng Y Hơ Êban vẫn lặng lẽ góp sức giữ gìn bình yên, vun đắp cuộc sống no ấm cho buôn làng.

Sớm di dời người dân vùng nguy cơ sạt lở đến nơi an toàn

Sớm di dời người dân vùng nguy cơ sạt lở đến nơi an toàn

Thực hiện Đề án “Sắp xếp ổn định dân cư khu vực có nguy cơ cao xảy ra lũ ống, lũ quét, sạt lở đất tại các huyện miền núi giai đoạn 2021-2025,” đến nay tỉnh Thanh Hóa đã sắp xếp, vận động được 574 hộ xây nhà và di chuyển đến nơi ở mới. Tuy nhiên, tới nay vẫn đang còn nhiều hộ dân sống trong vùng nguy cơ sạt lở, các hộ dân sống tại những khu vực này không có đủ kinh phí để di chuyển đến nơi ở mới và luôn phải sống trong tâm trạng bất an khi mùa mưa bão về.

Người dân vùng cao Thanh Hóa rất cần nước sạch sinh hoạt

Người dân vùng cao Thanh Hóa rất cần nước sạch sinh hoạt

Nhiều năm qua, tiêu chí nước sạch luôn giữ vai trò then chốt trong xây dựng nông thôn mới tại tỉnh Thanh Hóa, tiêu chí này trực tiếp nâng cao chất lượng cuộc sống và bảo đảm an sinh cho người dân. Tuy nhiên, tại khu vực các xã miền núi của tỉnh đang thiếu nhiều công trình cấp nước sạch, nhiều xã đang thiếu nguồn lực đầu tư, gặp khó khăn trong quản lý, vận hành, làm người dân nhiều xã miền núi luôn sống trong cảnh thiếu nước sạch.

Hợp tác xã tìm chỗ đứng trong chuỗi liên kết kinh tế tư nhân

Hợp tác xã tìm chỗ đứng trong chuỗi liên kết kinh tế tư nhân

Nghị quyết số 68 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân xác định nhiều nội dung trọng tâm, bao gồm hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh chuyển đổi số, hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp và khuyến khích liên kết chuỗi giá. Trong hệ sinh thái đó, hàng chục nghìn hợp tác xã sẽ đứng ở đâu và liên kết như thế nào để cùng phát triển với khu vực kinh tế tư nhân? Đây là bài toán đang được Liên minh Hợp tác xã Việt Nam tìm lời giải.