Địa phương đang xây dựng chuỗi sản phẩm du lịch gắn với sinh kế và lợi ích của người dân với mục tiêu đưa làng Chăm Châu Phong trở thành điểm đến hấp dẫn trên hành lang du lịch sông Mê Kông.
Từ khung dệt đến sản phẩm du lịch độc đáo
Ở ấp Phũm Soài (xã Châu Phong), ông Mohamad (68 tuổi) đã dành phần lớn cuộc đời để gìn giữ nghề dệt thổ cẩm truyền thống của đồng bào Chăm. Ông duy trì nghề dệt qua nhiều thế hệ, từ khâu xử lý sợi đến hoàn thiện sản phẩm. Những hoa văn như mặt võng, con thoi, lồng đèn, răng cưa, hoa lá… được ông gìn giữ qua từng tấm thổ cẩm, góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa truyền thống của đồng bào Chăm. Năm 2000, nhận thấy việc sản xuất xà rông, khăn rằn khó mở rộng thị trường, ông chủ động cải tiến mẫu mã, phát triển thêm túi xách, ba lô, nón, móc khóa để bán cho du khách tham quan làng Chăm.
Ông Mohamad cho biết, cơ sở dệt thổ cẩm của gia đình hiện duy trì hơn 10 khung dệt, tạo việc làm cho khoảng 15–20 lao động địa phương, với thu nhập khoảng 150.000 đồng/ngày. Bên cạnh tạo sinh kế, ông còn mong muốn đưa nghề dệt thổ cẩm truyền thống của đồng bào Chăm đến gần hơn với du khách. Năm 2024, Tổ hợp tác du lịch cộng đồng làng Chăm Châu Phong được thành lập với 11 thành viên, do ông làm tổ trưởng. Tổ hợp tác kết nối với các công ty lữ hành, đưa hoạt động dệt thổ cẩm vào hành trình khám phá văn hóa địa phương, giúp du khách tìm hiểu nghề dệt truyền thống, các hoa văn đặc trưng và bản sắc văn hóa của đồng bào Chăm.
Du khách đến làng Chăm Châu Phong có thể tìm hiểu quy trình dệt, tham quan thánh đường Hồi giáo, khám phá kiến trúc nhà sàn truyền thống, trải nghiệm trang phục cưới của người Chăm và thưởng thức các món ăn đặc trưng như tung lò mò, cà ri, bánh bò nướng. Những thanh âm trống Rappana của đồng bào Chăm cũng góp phần tạo nên trải nghiệm văn hóa đa dạng cho du khách.
Xã Châu Phong hiện có 5.646 người Chăm, với 1.269 hộ sinh sống tập trung tại các ấp Châu Giang, Phũm Soài, Hòa Long. Cộng đồng nơi đây lưu giữ nhiều giá trị văn hóa đặc sắc, từ Thánh đường Mubarak, di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia, nhà sàn gỗ truyền thống, nghề dệt thổ cẩm đến các nghi lễ vòng đời và văn hóa ẩm thực Halal. Tháng 3/2023, nghề dệt thổ cẩm của người Chăm Châu Phong được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, mở ra cơ hội phát triển du lịch gắn với bảo tồn nghề truyền thống.
Hiện làng Chăm Châu Phong được kết nối giao thông thuận lợi khi cầu Châu Đốc đưa vào khai thác, rút ngắn thời gian di chuyển từ trung tâm du lịch Châu Đốc đến Châu Phong còn khoảng 5 phút. Bên cạnh đó, tuyến Quốc lộ N1, đường tỉnh 953 cùng hệ thống giao thông đường thủy trên sông Hậu và kênh Vĩnh An tạo điều kiện kết nối làng chăm Châu Phong với các khu du lịch trong khu vực.
Theo đánh giá của xã Châu Phong: Hiện tiềm năng văn hóa và lợi thế vị trí chưa được chuyển hóa tương xứng thành giá trị kinh tế. Năm 2025, Châu Phong chỉ đón khoảng 10.000 lượt khách, doanh thu du lịch tại điểm đến ước đạt 2 tỷ đồng. Thời gian lưu lại bình quân của du khách chỉ khoảng 2 giờ; hoạt động tham quan chủ yếu tập trung tại Thánh đường Mubarak, làng dệt và một số hộ dân. Trong khi đó, các dịch vụ lưu trú, ẩm thực, trải nghiệm nghề thủ công, nông nghiệp và mua sắm sản phẩm địa phương chưa hình thành được chuỗi liên kết hoàn chỉnh. Vì vậy, lượng khách đến làng Chăm chưa nhiều, thời gian lưu lại ngắn, giá trị chi tiêu chưa cao và lợi ích từ du lịch chưa tạo thành sinh kế rõ nét cho người dân.
Bài toán đặt ra cho Châu Phong không chỉ là thu hút thêm khách, mà phải để mỗi chuyến đi của du khách có nhiều trải nghiệm hơn, ở lại lâu hơn và nguồn chi tiêu phải được phân bổ đến nhiều hộ dân trong cộng đồng.
Xây dựng chuỗi giá trị du lịch
Để văn hóa Chăm thành lợi thế phát triển du lịch bền vững, xã Châu Phong triển khai Đề án “Phát triển du lịch cộng đồng Châu Phong theo chuỗi giá trị, dựa trên bản sắc văn hóa dân tộc Chăm đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2035”, hướng đến tạo sinh kế và nâng cao thu nhập cho cộng đồng.
Bí thư Đảng ủy xã Châu Phong Nguyễn Thanh Lâm, cho biết: Đề án đặt mục tiêu đến năm 2030 xây dựng làng Chăm Châu Phong trở thành điểm đến du lịch văn hóa cộng đồng tiêu biểu của An Giang và vùng Đồng bằng sông Cửu Long; đưa làng Chăm Châu Phong được công nhận điểm du lịch, đáp ứng các tiêu chí của Tiêu chuẩn Du lịch cộng đồng ASEAN, xây dựng nơi đây trở thành hệ sinh thái du lịch cộng đồng thông minh, thân thiện với người Hồi giáo...
Châu Phong dự kiến thí điểm tour “Một ngày làm cư dân Chăm”, đưa du khách tham quan thánh đường, dùng bữa tại nhà sàn, trải nghiệm dệt thổ cẩm, mặc trang phục truyền thống và giao lưu văn hóa. Bên cạnh đó, chương trình “Hành trình di sản bên bờ sông Hậu” sẽ kết nối Châu Đốc với làng Chăm Châu Phong bằng đường thủy, kết hợp tham quan làng bè, thưởng thức ẩm thực và khám phá sản phẩm đặc trưng địa phương. Đến năm 2030, Châu Phong phấn đấu đón 60.000 lượt khách mỗi năm, trong đó có 8.000 khách quốc tế; thời gian lưu trú bình quân đạt 4,5 giờ, chi tiêu khoảng 450.000 đồng/khách. Du lịch địa phương dự kiến đạt doanh thu 27 tỷ đồng/năm, thu hút khoảng 150 hộ người Chăm tham gia chuỗi dịch vụ và hình thành 15 cơ sở lưu trú cộng đồng đạt chuẩn, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân. Đến năm 2035, Châu Phong đón 150.000 lượt khách mỗi năm, trong đó đón 25.000 khách quốc tế; đạt doanh thu 105 tỷ đồng/năm.
Đề án được kỳ vọng sẽ tạo sinh kế bền vững, nâng cao thu nhập cho đồng bào dân tộc Chăm Châu Phong, gia tăng tỷ trọng kinh tế phi nông nghiệp. Đến năm 2035, An Giang đưa làng Chăm Châu Phong là hình mẫu về bảo tồn di sản sống gắn với kinh tế du lịch bền vững; là điểm đến hấp dẫn trên hành lang du lịch sông Mê Kông, phấn đấu đưa làng Chăm Châu Phong đạt Giải thưởng Du lịch cộng đồng ASEAN hoặc Giải thưởng Du lịch bền vững ASEAN. Đề án định hướng đưa nghề dệt thổ cẩm trở thành sản phẩm du lịch trải nghiệm, với khoảng 30 khung dệt phục vụ trình diễn phục vụ khách tham quan. Địa phương sẽ xây dựng cơ chế nhận diện, truy xuất nguồn gốc sản phẩm dệt thổ cẩm của làng Chăm Châu Phong nhằm bảo vệ giá trị và phân biệt sản phẩm thủ công truyền thống với hàng công nghiệp...
Cùng với nghề dệt thổ cẩm, những ngôi nhà sàn gỗ truyền thống của người Chăm cũng được định hướng phát triển thành cơ sở lưu trú cộng đồng. Du khách có thể ở lại, dùng bữa cùng gia đình người Chăm, tìm hiểu nếp sinh hoạt và trực tiếp trải nghiệm các hoạt động văn hóa. Ẩm thực Halal, sản phẩm OCOP và nông nghiệp địa phương cũng được kết nối vào hành trình, tạo thêm cơ hội tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ. Chuyển đổi số được kỳ vọng giúp điểm đến tiếp cận khách du lịch rộng hơn thông qua bản đồ số, hình ảnh 360 độ, mã QR thuyết minh đa ngôn ngữ, tem truy xuất nguồn gốc và các kênh đặt dịch vụ trực tuyến.
Những mục tiêu trên thể hiện định hướng chuyển từ khai thác điểm tham quan đơn thuần sang phát triển du lịch trải nghiệm, tạo sinh kế và nâng cao thu nhập cho người dân. Để thực hiện, Châu Phong sẽ nâng cao chất lượng dịch vụ, đào tạo nhân lực, kết nối người dân với doanh nghiệp lữ hành, bảo đảm đầu ra cho sản phẩm truyền thống và phân chia lợi ích hài hòa giữa các bên.
Bên cạnh phát triển du lịch, Châu Phong luôn chú trọng gìn giữ bản sắc văn hóa Chăm. Các hoạt động du lịch phải tôn trọng phong tục, tập quán, đời sống tín ngưỡng của người dân, đồng thời bảo vệ môi trường và bảo đảm an toàn cho du khách. Việc khai thác du lịch đi đôi với bảo tồn chính là nền tảng để di sản Chăm trở thành nguồn lực phát triển bền vững, vừa gìn giữ giá trị truyền thống, vừa nâng cao đời sống cộng đồng. Với định hướng phát triển du lịch gắn với bảo tồn di sản và sinh kế cộng đồng, Châu Phong kỳ vọng đưa bản sắc văn hóa Chăm trở thành lợi thế riêng, thu hút du khách và tạo thêm nguồn thu cho người dân. Đây cũng là hướng đi để những giá trị văn hóa truyền thống được gìn giữ, tiếp nối và phát huy bền vững.
Tên gọi khác: Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Chăm Pa, Hời...
Nhóm địa phương: Chăm Hroi, Chăm Poổng, Chà Và Ku, Chăm Châu Ðốc.
Dân số: 161.729 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Polynéxia (ngữ hệ Nam Ðảo).
Lịch sử: Dân tộc Chăm vốn sinh tụ ở duyên hải miền Trung Việt Nam từ rất lâu đời, đã từng kiến tạo nên một nền văn hoá rực rỡ với ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá Ấn Ðộ. Ngay từ những thế kỉ thứ XVII, người Chăm đã từng xây dựng nên vương quốc Chăm pa. Hiện tại cư dân gồm có hai bộ phận chính: Bộ phận cư trú ở Ninh Thuận và Bình Thuận chủ yếu theo đạo Bà la môn (một bộ phận nhỏ người Chăm ở đây theo đạo Islam truyền thống gọi là người Chăm Bà ni). Bộ phận cư trú ở một số địa phương thuộc các tỉnh Châu Ðốc, Tây Ninh, An Giang, Ðồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh theo đạo Islam (Hồi giáo) mới.
Hoạt động sản xuất: Người Chăm có truyền thống nông nghiệp ruộng nước, giỏi làm thuỷ lợi và làm vườn trồng cây ăn trái. Bên cạnh việc làm ruộng nước vẫn tồn tại loại hình ruộng khô một vụ trên sườn núi. Bộ phận người Chăm ở Nam Bộ lại sinh sống chủ yếu bằng nghề chài lưới, dệt thủ công và buôn bán nhỏ, nghề nông chỉ là thứ yếu.
Nghề thủ công phát triển ở vùng Chăm nổi tiếng là dệt lụa tơ tằm và nghề gốm nặn tay, nung trên các lò lộ thiên. Việc buôn bán với các dân tộc láng giềng đã xuất hiện từ xưa. Vùng duyên hải miền Trung đã từng là nơi hoạt động của những đội hải thuyền nổi tiếng trong lịch sử.
Ăn: Người Chăm ăn cơm, gạo được nấu trong những nồi đất nung lớn, nhỏ. Thức ăn gồm cá, thịt, rau củ, do săn bắt, hái lượm và chăn nuôi, trồng trọt đem lại. Thức uống có rượu cần và rượu gạo. Tục ăn trầu cau rất phổ biến trong sinh hoạt và trong các lễ nghi phong tục cổ truyền.
Mặc: Nam nữ đều quấn váy tấm. Ðàn ông mặc áo cánh ngắn xẻ ngực cài khuy. Ðàn bà mặc áo dài chui đầu. Màu chủ đạo trên y phục là màu trắng của vải sợi bông. Ngày nay, trong sinh hoạt hằng ngày, người Chăm ăn mặc như người Việt ở miền Trung, chỉ có chiếc áo dài chui đầu là còn thấy xuất hiện trong giới nữ cao niên.
Ở: Người Chăm cư trú tại Ninh Thuận, Bình Thuận, ở nhà đất (nhà trệt). Mỗi gia đình có những ngôi nhà được xây cất gần nhau theo một trật tự gồm: nhà khách, nhà của cha mẹ và các con nhỏ tuổi, nhà của các cô gái đã lập gia đình, nhà bếp và nhà tục trong đó có kho thóc, buồng tân hôn và là chỗ ở của vợ chồng cô gái út.
Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu và thường xuyên vẫn là cái gùi cõng trên lưng. Cư dân Chăm cũng là những người thợ đóng thuyền có kỹ thuật cao để hoạt động trên sông và biển. Họ làm ra những chiếc xe bò kéo, trâu kéo có trọng tải khá lớn để vận chuyển trên bộ.
Quan hệ xã hội: Gia đình người Chăm mang truyền thống mẫu hệ, mặc dù xã hội Chăm trước đây là xã hội đẳng cấp, phong kiến. Ở những vùng theo Hồi giáo Islam, tuy gia đình đã chuyển sang phụ hệ, vai trò nam giới được đề cao, nhưng những tập quán mẫu hệ vẫn tồn tại khá đậm nét trong quan hệ gia đình, dòng họ với việc thờ cúng tổ tiên. Cư dân Chăm vốn được phân thành hai thị tộc: Cau và Dừa như hai hệ dòng Niê và Mlô ở dân tộc Ê đê. Về sau thị tộc Cau biến thành tầng lớp của những người bình dân, trong khi thị tộc Dừa trở thành tầng lớp của quý tộc và tăng lữ. Dưới thị tộc là các dòng họ theo huyết hệ mẹ, đứng đầu là một người đàn bà thuộc dòng con út. Mỗi dòng họ lại có nhiều chi họ. Xã hội cổ truyền Chăm được phân thành các đẳng cấp như xã hội Ấn Ðộ cổ đại. Họ có những vùng cư trú riêng và có những ngăn cách rõ rệt: không được thiết lập quan hệ hôn nhân, không sống cùng một xóm, không ăn cùng một mâm...
Cưới xin: Phụ nữ chủ động trong quan hệ luyến ái. Hôn nhân cư trú phía nhà vợ, con sinh ra đều theo họ mẹ. Sính lễ do nhà gái lo liệu. Gia đình một vợ một chồng là nguyên tắc trong hôn nhân.
Ma chay: Người Chăm có hai hình thức đưa người chết về thế giới bên kia là thổ táng và hoả táng. Nhóm cư dân theo đạo Bà la môn thường hoả táng theo giáo luật, còn các nhóm cư dân khác thì thổ táng. Những người trong cùng một dòng họ thì được chôn cất cùng một nơi theo huyết hệ mẹ.
Nhà mới: Người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận khi dựng nhà mới phải thực hiện một số nghi lễ cúng thần như: cúng Thổ thần để đốn gỗ tại rừng. Khi gỗ vận chuyển về làng phải làm lễ đón cây. Lễ phạt mộc được tổ chức để khởi công cho việc xây cất ngôi nhà.
Lễ tết: Người ta thực hiện nhiều nghi lễ nông nghiệp trong một chu kỳ năm như: lễ khai mương đắp đập, lễ hạ điền, lễ mừng lúa con, lễ mừng lúa ra đòng. Nhưng lễ lớn nhất vẫn là lễ Bon katê được tổ chức linh đình tại các đền tháp vào giữa tháng mười âm lịch.
Lịch: Người Chăm có nông lịch cổ truyền tính theo lịch âm.
Học: Dân tộc Chăm có chữ từ rất sớm. Hiện tồn tại nhiều bia kí, kinh bằng chữ Chăm. Chữ Chăm được sáng tạo dựa vào hệ thống văn tự Sascrit, nhưng việc sử dụng chữ này còn rất hạn hẹp trong tầng lớp tăng lữ và quý tộc xưa. Việc học hành, truyền nghề, vẫn chủ yếu là truyền khẩu và bắt chước, làm theo.
Văn nghệ: Nhạc cụ Chăm nổi bật có trống mặt da Paranưng, trống vỗ, kèn xaranai. Nền dân ca - nhạc cổ Chăm đã để lại nhiều ảnh hưởng đến dân ca - nhạc cổ của người Việt ở miền Trung như trống cơm, nhạc nam ai, ca hò Huế... Dân vũ Chăm được thấy trong các ngày hội Bon katê diễn ra tại các đền tháp.
Chơi: Trẻ em thích đánh cù và thả diều, đánh trận giả, thi cướp cờ, chơi trò bịt mắt bắt dê.
Theo cema.gov.vn