Độc đáo đám cưới của đồng bào Tày ở Tân Trào, Tuyên Quang

Trong khuôn khổ Lễ hội Tân Trào “Tết Độc lập” năm 2026, hoạt động tái hiện đám cưới truyền thống của đồng bào dân tộc Tày được tổ chức tại Làng văn hóa Tân Lập, xã Tân Trào (tỉnh Tuyên Quang). Trong trang phục truyền thống, người dân tái hiện các nghi thức cưới hỏi, đón dâu cùng những nét ứng xử đặc trưng giữa hai gia đình, dòng họ.

Hoạt động giúp người dân và du khách hiểu thêm về phong tục, đời sống tinh thần và những giá trị nhân văn trong văn hóa cưới của đồng bào Tày. Đây cũng là dịp gìn giữ, trao truyền bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời tạo sản phẩm trải nghiệm hấp dẫn, góp phần quảng bá hình ảnh con người và vùng đất cách mạng Tân Trào.

dam-cuoi-dan-toc-tay-11.jpg
Đoàn nhà trai mang lễ vật đến nhà gái trong lễ cưới truyền thống của đồng bào Tày ở Làng văn hóa Tân Lập, xã Tân Trào (Tuyên Quang).
dam-cuoi-dan-toc-tay-10.jpg
Những người phụ nữ Tày gánh lễ vật theo đoàn nhà trai đến xin dâu.
dam-cuoi-dan-toc-tay-15.jpg
Lễ vật được chuẩn bị trong đám cưới truyền thống của đồng bào Tày ở Tân Trào (Tuyên Quang).
dam-cuoi-dan-toc-tay-8.jpg
Đại diện nhà trai hát đối đáp, xin nhà gái mở lối vào thực hiện các nghi thức đón dâu.
dam-cuoi-dan-toc-tay-9.jpg
Đoàn nhà trai thực hiện nghi thức rửa tay trước khi lên nhà sàn làm lễ xin dâu.
dam-cuoi-dan-toc-tay-7.jpg
Chú rể rửa tay trước khi lên nhà sàn làm lễ xin dâu.
dam-cuoi-dan-toc-tay-5.jpg
Đoàn nhà trai đưa lễ vật lên nhà sàn của gia đình nhà gái.
dam-cuoi-dan-toc-tay-6.jpg
Đại diện hai họ gặp gỡ trong không gian nhà sàn truyền thống của đồng bào Tày.
dam-cuoi-dan-toc-tay-4.jpg
Cô dâu được người thân đưa ra gặp chú rể và đại diện nhà trai.
dam-cuoi-dan-toc-tay-3.jpg
Cô dâu, chú rể cùng đại diện hai gia đình trong lễ cưới truyền thống của đồng bào Tày ở xã Tân Trào (Tuyên Quang).
dam-cuoi-dan-toc-tay-2.jpg
Cô dâu, chú rể thực hiện nghi thức trước bàn thờ tổ tiên.
dam-cuoi-dan-toc-tay-12.jpg
Chú rể đón cô dâu rời nhà gái sau khi hoàn thành các nghi thức cưới.
dam-cuoi-dan-toc-tay-14.jpg
Cô dâu, chú rể dẫn đầu đoàn đưa dâu trong không gian xanh của Tân Trào (Tuyên Quang).
dam-cuoi-dan-toc-tay-1.jpg
Đoàn đưa dâu mang theo lễ vật, đồ dùng của cô dâu trên đường về nhà trai.
dam-cuoi-dan-toc-tay-13.jpg
Đoàn đưa dâu bằng mảng trên hồ Nà Nưa trong lễ cưới truyền thống của đồng bào Tày ở Tân Trào (Tuyên Quang).
Minh Tâm/TTXVN
Dân tộc Tày

Tên gọi khác: Thổ.

Dân số: 1.626.392 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Nhóm địa phương: Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao và Pa Dí.

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ nửa cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên.

Hoạt động sản xuất: Người Tày là cư dân nông nghiệp có truyền thống làm ruộng nước, từ lâu đời đã biết thâm canh và áp dụng rộng rãi các biện pháp thuỷ lợi như đào mương, bắc máng, đắp phai, làm cọn lấy nước tưới ruộng. Họ có tập quán đập lúa ở ngoài đồng trên những máng gỗ mà họ gọi là loỏng rồi mới dùng dậu gánh thóc về nhà. Ngoài lúa nước người Tày còn trồng lúa khô, hoa màu, cây ăn quả... Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm nhưng cách nuôi thả rông cho đến nay vẫn còn khá phổ biến. Các nghề thủ công gia đình được chú ý. Nổi tiếng nhất là nghề dệt thổ cẩm với nhiều loại hoa văn đẹp và độc đáo. Chợ là một hoạt động kinh tế quan trọng.

Ăn: Trước kia, ở một số nơi, người Tày ăn nếp là chính và hầu như gia đình nào cũng có ninh và chõ đồ xôi. Trong các ngày tết, ngày lễ thường làm nhiều loại bánh trái như bánh chưng, bánh giày, bánh gai, bánh dợm, bánh gio, bánh rán, bánh trôi, bánh khảo... Ðặc biệt có loại bánh bột hấp dẫn nhân bằng trứng kiến và cốm được làm từ thóc nếp non hơ lửa, hoặc rang rồi đem giã.

Mặc: Bộ y phục cổ truyền của người Tày làm từ vải sợi bông tự dệt, nhuộm chàm, hầu như không thêu thùa, trang trí. Phụ nữ mặc váy hoặc quần, có áo cánh ngắn ở bên trong và áo dài ở bên ngoài. Nhóm Ngạn mặc áo ngắn hơn một chút, nhóm Phén mặc áo màu nâu, nhóm Thu Lao quấn khăn thành chóp nhọn trên đỉnh đầu, nhóm Pa Dí đội mũ hình mái nhà còn nhóm Thổ mặc như người Thái ở Mai Châu (Hòa Bình).

vna_potal_tuyen_quang_gin_giu_nghe_det_tho_cam_cua_nguoi_tay_o_thuong_nong_5693566.jpg
Phụ nữ Tày biết dệt vải, may quần áo từ khi mới 13-14 tuổi. Ảnh: Nam Sương - TTXVN

Ở: Người Tày cư trú ở vùng thung lũng các tỉnh Ðông Bắc, từ Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang đến Lào Cai, Yên Bái. Họ thích sống thành bản làng đông đúc, nhiều bản có tới hàng trăm nóc nhà.

Ngôi nhà truyền thống của người Tày là nhà sàn có bộ sườn làm theo kiểu vì kèo 4, 5, 6 hoặc 7 hàng cột. Nhà có 2 hoặc 4 mái lợp ngói, tranh hay lá cọ. Xung quanh nhà thưng ván gỗ hoặc che bằng liếp nứa.

Phương tiện vận chuyển: Với những thứ nhỏ, gọn người Tày thường cho vào dậu để gánh hoặc cho vào túi vải để đeo trên vai, còn đối với những thứ to, cồng kềnh thì dùng sức người khiêng vác hoặc dùng trâu kéo. Ngoài ra, họ còn dùng mảng để chuyên chở.

Quan hệ xã hội: Chế độ quằng là hình thức tổ chức xã hội đặc thù theo kiểu phong kiến sơ kỳ mang tính chất quý tộc, thế tập, cha truyền con nối.

Trong phạm vi thống trị của mình quằng là người sở hữu toàn bộ ruộng đất, rừng núi, sông suối... vì thế có quyền chi phối những người sống trên mảnh đất đó và bóc lột họ bằng tô lao dịch, bắt phải đến lao động không công và tô hiện vật, buộc phải cống nạp. Chế độ quằng xuất hiện từ rất sớm và tồn tại dai dẳng mãi đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

Cưới xin: Nam nữ Tày được tự do yêu đương, tìm hiểu nhưng có thành vợ thành chồng hay không lại tuỳ thuộc vào bố mẹ hai bên và "số mệnh" của họ có hợp nhau hay không. Vì thế trong quá trình đi tới hôn nhân phải có bước nhà trai xin lá số của cô gái về so với lá số của con mình. Sau khi cưới, cô dâu ở nhà bố mẹ đẻ cho đến khi có mang sắp đến ngày sinh nở mới về ở hẳn bên nhà chồng.

Sinh đẻ: Khi có mang cũng như trong thời gian đầu sau khi đẻ, người phụ nữ phải kiêng cữ nhiều thứ khác nhau với ước muốn được mẹ tròn, con vuông, đứa bé chóng lớn, khoẻ mạnh và tránh được những vía độc hại.

Sau khi sinh được 3 ngày cúng tẩy vía và lập bàn thờ bà mụ. Khi đầy tháng tổ chức lễ ăn mừng và đặt tên cho trẻ.

Ma chay: Ðám ma thường được tổ chức linh đình với nhiều nghi lễ nhằm mục đích báo hiếu và đưa hồn người chết về bên kia thế giới. Sau khi chôn cất 3 năm làm lễ mãn tang, đưa hồn người chết lên bàn thờ tổ tiên. Hàng năm tổ chức cúng giỗ vào một ngày nhất định.

Nhà mới: Khi làm nhà phải chọn đất xem hướng, xem tuổi, chọn ngày tốt. Trong ngày vào nhà mới chủ gia đình phải nhóm lửa và giữ ngọn lửa cháy suốt đêm đến sáng hôm sau.

Thờ cúng: Người Tày chủ yếu thờ cúng tổ tiên. Ngoài ra còn thờ cúng thổ công, vua bếp, bà mụ.

Lễ tết: Hàng năm có nhiều ngày tết với những ý nghĩa khác nhau. Tết Nguyên đán, mở đầu năm mới và tết rằm tháng 7, cúng các vong hồn là những tết lớn được tổ chức linh đình hơn cả. Tết gọi hồn trâu bò tổ chức vào mùng 6 tháng 6 âm lịch, sau vụ cấy và tết cơm mới, tổ chức trước khi thu hoạch là những cái tết rất đặc trưng cho dân nông nghiệp trồng lúa nước.

Lịch: Người Tày theo âm lịch.

Học: Chữ nôm Tày xây dựng trên mẫu tự tượng hình, gần giống chữ nôm Việt ra đời khoảng thế kỷ XV được dùng để ghi chép truyện thơ, bài hát, bài cúng... Chữ Tày-Nùng dựa trên cơ sở chữ cái La-tinh ra đời năm 1960 và tồn tại đến giữa năm 80 được dùng trong các trường phổ thông cấp I vùng có người Tày, Nùng cư trú.

Văn nghệ: Người Tày có nhiều làn điệu dân ca như lượn, phong slư, phuối pác, phuối rọi, vén eng... Lượn gồm lượn cọi, lượn slương, lượn then, lượn nàng ới... là lối hát giao duyên được phổ biến rộng rãi ở nhiều vùng. Người ta thường lượn trong hội lồng tồng, trong đám cưới, mừng nhà mới hay khi có khách đến bản. Ngoài múa trong nghi lễ ở một số địa phương có múa rối với những con rối bằng gỗ khá độc đáo.

Chơi: Trong ngày hội lồng tồng ở nhiều nơi tổ chức ném còn, đánh cầu lông, kéo co, múa sư tử, đánh cờ tướng... Ngày thường trẻ em đánh quay, đánh khăng, đánh chắt, chơi ô...

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Tày

Có thể bạn quan tâm

Giữ mạch nguồn văn hóa Mông ở Điện Biên

Giữ mạch nguồn văn hóa Mông ở Điện Biên

Là một trong ba dân tộc có dân số đông nhất tỉnh Điện Biên, đồng bào Mông sinh sống chủ yếu ở các vùng núi cao và vẫn gìn giữ nhiều giá trị văn hóa đặc sắc, từ tiếng khèn, trang phục truyền thống, nghề thủ công đến những phong tục, lễ hội. Trong nhịp sống hôm nay, những giá trị ấy đang tiếp tục được trao truyền và phát huy, góp phần làm nên bản sắc văn hóa riêng có của Điện Biên.

Lãnh đạo Cần Thơ thăm, chúc mừng đồng bào Khmer dịp lễ Sene Dolta

Lãnh đạo Cần Thơ thăm, chúc mừng đồng bào Khmer dịp lễ Sene Dolta

Chiều 2/10, nhân dịp lễ Sene Dolta năm 2026 của đồng bào Khmer, đoàn công tác của thành phố Cần Thơ do Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Cần Thơ Đồng Văn Thanh làm trưởng đoàn đến thăm Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Thạnh Phú cùng Chùa Prek On Đớk (Cần Đước) tại xã Nhu Gia.

Giữ hồn văn hóa Tây Nguyên từ những người trẻ

Giữ hồn văn hóa Tây Nguyên từ những người trẻ

Giữa nhịp sống hiện đại, những giai điệu truyền thống ở phía Tây Quảng Ngãi đang được các nghệ sĩ trẻ nỗ lực gìn giữ và truyền lại cho thế hệ mai sau. Từ những buôn làng, âm nhạc đang tiếp tục được trao truyền bằng tình yêu và niềm tự hào văn hóa dân tộc.

Sôi nổi Lễ mừng cơm mới của người Mông vùng cao Púng Luông

Sôi nổi Lễ mừng cơm mới của người Mông vùng cao Púng Luông

Khi những thửa ruộng bậc thang vùng cao khoác lên mình sắc vàng mùa lúa chín, đồng bào Mông xã Púng Luông, Lào Cai lại tưng bừng tổ chức Lễ mừng cơm mới-nghi lễ truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, vừa có ý nghĩa tâm linh, vừa là điểm nhấn thu hút du khách trải nghiệm.

Lung linh Lễ hội Ánh sáng biên cương

Lung linh Lễ hội Ánh sáng biên cương

Tối 19/9, Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn tổ chức Lễ hội Ánh sáng biên cương lần thứ nhất năm 2026 với chủ đề “Sắc màu xứ Lạng”.

Độc đáo nghề làm mão, mặt nạ của đồng bào Khmer

Độc đáo nghề làm mão, mặt nạ của đồng bào Khmer

Đó là chủ đề trưng bày chuyên đề do Bảo tàng tỉnh Đắk Lắk phối hợp với Bảo tàng tỉnh Vĩnh Long tổ chức, ngày 11/9. Trưng bày giới thiệu đến công chúng những giá trị đặc sắc của nghề làm mão, mặt nạ truyền thống - di sản văn hóa gắn với đời sống tín ngưỡng và các loại hình nghệ thuật biểu diễn dân gian của đồng bào Khmer.

Nhịp cầu nối đôi bờ biên giới với những câu chuyện phối hợp và sẻ chia

Nhịp cầu nối đôi bờ biên giới với những câu chuyện phối hợp và sẻ chia

Tiếng hát “Việt Nam - Trung Hoa” vang lên trong buổi giao lưu tại phường Hà Giang 1, tỉnh Tuyên Quang, mở đầu cho những câu chuyện giữa cán bộ làm nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biên giới hai nước. Phía sau những tiết mục văn nghệ, trận bóng bàn và hành trình tìm hiểu các điểm đến của địa phương là một mối quan hệ được bồi đắp bằng nhiều năm phối hợp, chia sẻ và đồng hành.

Gìn giữ bản sắc văn hóa, tạo động lực phát triển vùng biên

Gìn giữ bản sắc văn hóa, tạo động lực phát triển vùng biên

Thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, tỉnh Lạng Sơn xác định, xây dựng và phát triển nền văn hóa toàn diện, giàu bản sắc, nhân văn, khoa học, hiện đại, trở thành nền tảng vững chắc, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực cho phát triển nhanh và bền vững.

Khai hội truyền thống Đền Minh Lương

Khai hội truyền thống Đền Minh Lương

Trong tiết thu dịu mát, tiếng trống khai hội vang lên giữa không gian cổ kính của Đền Minh Lương, xã Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang, mở đầu những ngày hội đậm sắc màu văn hóa, tín ngưỡng.

Đặc sắc Lễ hội Trung Nguyên Kiến Tiêu Nghinh ông Quan Thánh Đế Quân xuất du

Đặc sắc Lễ hội Trung Nguyên Kiến Tiêu Nghinh ông Quan Thánh Đế Quân xuất du

Sáng 6/9 (tức ngày 25/7 âm lịch), tại phường Phan Thiết (tỉnh Lâm Đồng), đoàn Quan Thánh Đế Quân xuất du diễn ra trong sự thích thú của đông đảo người dân địa phương và du khách. Đây là phần hội quan trọng và đặc sắc nhất của Lễ hội Trung Nguyên Kiến Tiêu Nghinh ông Quan Thánh Đế Quân xuất du lần thứ 15 - năm 2026.

'Đánh thức' nếp nhà xưa và các giá trị văn hóa bản địa

'Đánh thức' nếp nhà xưa và các giá trị văn hóa bản địa

Nằm nép mình bên những ghềnh đá cổ ven biển Sa Huỳnh, làng Gò Cỏ (phường Sa Huỳnh, tỉnh Quảng Ngãi) đang trở thành điểm đến hấp dẫn du khách trong và ngoài nước nhờ mô hình du lịch cộng đồng gắn liền với việc bảo tồn không gian kiến trúc truyền thống và các giá trị văn hóa bản địa.