Tại Khánh Hòa, với cách làm chủ động, bám sát cơ sở đang giúp thông tin về cuộc bầu cử Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 lan tỏa sâu rộng, củng cố niềm tin và trách nhiệm của cử tri, góp phần chuẩn bị các điều kiện để sự kiện chính trị quan trọng diễn ra an toàn, đúng quy định.
Đồng bào Raglai ở xã Bác Ái Tây (Khánh Hòa) theo dõi danh sách cử tri niêm yết công khai tại UBND xã.
Ở những địa bàn vùng sâu, vùng xa, dân cư phân tán như xã Bác Ái Tây, việc đưa thông tin đến với nhân dân đòi hỏi sự vào cuộc trực tiếp, thường xuyên của cấp ủy, chính quyền và các lực lượng ở cơ sở. Toàn xã có 6.789 cử tri, trong đó cử tri là người Raglai chiếm hơn 80%. Trên địa bàn xã đã thành lập 5 đơn vị bầu cử và 9 khu vực bỏ phiếu tại các thôn, bảo đảm phù hợp với đặc điểm dân cư, thuận lợi cho cử tri tham gia bỏ phiếu.
Cùng với việc chuẩn bị cơ sở vật chất, xã Bác Ái Tây triển khai nhiều hình thức tuyên truyền như hệ thống truyền thanh, loa lưu động, pano, băng rôn; lồng ghép nội dung bầu cử trong các cuộc họp thôn, sinh hoạt chi bộ, đoàn thể. Phương châm “đi từng ngõ, gõ từng nhà” được thực hiện nhằm bảo đảm mọi người dân nắm rõ thông tin, ý nghĩa, quyền và nghĩa vụ trong bầu cử.
Đồng bào Raglai ở xã Bác Ái Tây (Khánh Hòa) tiếp nhận thông tin bầu cử qua kênh thông tin báo chí và nền tảng mạng xã hội.
Bà Nguyễn Thị Minh Nguyên, Chủ tịch UBND xã Bác Ái Tây cho biết, địa phương đã xây dựng kế hoạch tuyên truyền bầu cử với nội dung cụ thể theo từng mốc thời gian. Do địa bàn có đông đồng bào Raglai, nhiều người thường xuyên đi làm xa hoặc ở lại chòi rẫy, xã đã chỉ đạo trưởng thôn và các bộ phận phụ trách bầu cử tổ chức rà soát từng hộ, từng đối tượng. Qua đó, bảo đảm khi người dân trở về khu dân cư vào buổi tối đều được thông tin đầy đủ về cuộc bầu cử, nắm rõ thời gian và tham gia bỏ phiếu sớm, đầy đủ vào ngày 15/3.
Tại thôn Tà Lọt nơi có 483 cử tri, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 87,4%, công tác tuyên truyền được đẩy mạnh với nhiều hình thức phù hợp. Bà Katơr Thị Hiệp, Trưởng thôn Tà Lọt cho biết: “Thôn đẩy mạnh tuyên truyền bằng nhiều hình thức, kết hợp các ngôn ngữ phù hợp; đồng thời tận dụng các nền tảng mạng xã hội như Facebook, Zalo..., Ban quản lý thôn phối hợp đoàn viên thanh niên thường xuyên chia sẻ thông tin, nắm bắt tình hình người dân đi làm ăn xa, người cao tuổi để kịp thời vận động tham gia bầu cử”.
Thông tin tuyên truyền về bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026–2031 trên trang mạng xã hội của xã Bác Ái Tây (Khánh Hòa).
Cử tri Katơr Thơm (thôn Tà Lọt, xã Bác Ái Tây) bày tỏ: “Cuộc bầu cử có ý nghĩa rất quan trọng, là dịp để chúng tôi lựa chọn những đại biểu đủ đức, đủ tài, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh ở địa phương cũng như cả nước”.
Tại khu vực ven biển, công tác tuyên truyền bầu cử được triển khai phù hợp với đặc thù nhiều lao động đi biển dài ngày. Ở phường Đông Hải, trong tổng số 39.275 cử tri có 357 chủ tàu và 623 thuyền viên thường xuyên khai thác hải sản trên biển. Ủy ban bầu cử phường Đông Hải đã phối hợp lực lượng công an, biên phòng, cảng cá và các tổ dân phố đẩy mạnh tuyên truyền đến chủ tàu, ngư dân đánh bắt xa bờ về thời gian, địa điểm bỏ phiếu, quyền và nghĩa vụ cử tri.
Theo ông Trần Ngọc Quang, Chủ tịch UBND phường Đông Hải, phường đang đẩy mạnh vận động ngư dân chủ động sắp xếp thời gian, cập bến tham gia bầu cử; đồng thời rà soát danh sách, tuyên truyền, nhắc nhở chủ tàu, thuyền trưởng tạo điều kiện để thuyền viên thực hiện quyền bầu cử, phấn đấu đảm bảo 100% cử tri là ngư dân đủ điều kiện đều tham gia bỏ phiếu theo quy định.
Danh sách cử tri và ứng cử viên đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026–2031 được niêm yết công khai tại phường Phan Rang (Khánh Hòa).
Ban Chỉ đạo bầu cử tỉnh Khánh Hòa đã thành lập các đoàn kiểm tra nhằm rà soát công tác chuẩn bị tại cơ sở, yêu cầu địa phương đảm bảo đầy đủ cơ sở vật chất, đồng thời tăng cường tuyên truyền, vận động để cử tri tham gia bỏ phiếu đông đủ, đúng quy định.
Trực tiếp kiểm tra công tác bầu cử tại các địa phương, ông Nguyễn Khắc Hà, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh yêu cầu các địa phương, đơn vị phân công rõ trách nhiệm, tăng cường đôn đốc, không chủ quan trong bất kỳ khâu nào của công tác bầu cử. Công tác tuyên truyền phải được duy trì thường xuyên qua các kênh thông tin và hệ thống Mặt trận, đoàn thể, giúp cử tri nắm rõ thời gian, địa điểm bỏ phiếu cũng như chương trình hành động của người ứng cử. Đồng thời, chú trọng vận động ngư dân, chức sắc, tín đồ tôn giáo và tăng cường tuyên truyền bằng tiếng Raglai, Êđê, Chăm... tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Các lực lượng tổ chức vệ sinh môi trường, chỉnh trang khu vực bỏ phiếu trên địa bàn xã Bác Ái Tây (Khánh Hòa) chuẩn bị cho ngày bầu cử.
Đến nay, toàn bộ 65/65 xã, phường, đặc khu của Khánh Hòa đã hoàn thành việc lập, niêm yết danh sách cử tri và tiểu sử tóm tắt người ứng cử theo luật định, đồng thời tiếp tục rà soát các trường hợp biến động. Tại Đặc khu Trường Sa, Lữ đoàn 146, Vùng 4 Hải quân và Ủy ban Bầu cử tỉnh đã đưa thùng phiếu từ đất liền ra các đảo, công tác chuẩn bị cho ngày hội bầu cử ở các đảo đến nay đã cơ bản hoàn tất. Các hội nghị tiếp xúc cử tri, vận động bầu cử đang được tỉnh tổ chức theo quy định.
Sở Nội vụ tỉnh Khánh Hòa tổ chức tập huấn nghiệp vụ bầu cử theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến, tập trung vào quy trình bỏ phiếu, kiểm phiếu và xử lý tình huống phát sinh. Theo quy định, Khánh Hòa sẽ bầu 12 đại biểu Quốc hội khóa XVI tại 4 đơn vị bầu cử; bầu 67 đại biểu HĐND cấp tỉnh và 1.392 đại biểu HĐND cấp xã. Toàn tỉnh đã thành lập các ban bầu cử, phê chuẩn 1.123 khu vực bỏ phiếu, sẵn sàng cho ngày bầu cử 15/3 tới đây./.
Nhóm địa phương: Rai (ở Hàm Tân - Bình Thuận), Hoang, La Oang (Ðức Trọng - Lâm Ðồng)...
Dân số: 122.245 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Pôlynêxia (ngữ hệ Nam Ðảo). Do có sự tiếp xúc với các dân tộc khác quanh vùng nên ở người Ra Glai đã xuất hiện tượng song ngữ và đa ngữ. Tiếng phổ thông hiện giữ một vai trò quan trọng, là ngôn ngữ giao tiếp của người dân nơi đây với những dân tộc cận cư khác.
Lịch sử: Người Ra Glai đã sinh sống lâu đời ở vùng miền Nam Trung bộ.
Hoạt động sản xuất: Nghề làm rẫy luôn chi phối các hoạt động kinh tế khác. Trên rẫy đồng bào trỉa cả lúa, bắp, đậu, bầu bí và cây ăn trái. Rẫy được phát bằng chà gạc, rựa hoặc rìu. Cư dân sử dụng đoạn gỗ ngắn, nhọn đầu để trỉa giống, làm cỏ rẫy bằng chiếc cào nhỏ và thu hoạch lúa bằng tay... Rèn và đan lát là hai nghề thủ công khá phát triển... Chăn nuôi phổ biến với các đàn gia súc, gia cầm gồm trâu, lợn, gà, vịt... Ngày nay cư dân đã biết trồng cấy lúa nước.
Có nhiều cách chế thóc thành gạo: xay, cối giã gạo bằng chân, cối giã gạo bằng sức nước, cối giã gạo bằng chày, tay... Người Ra Glai cũng như các dân tộc Tây Nguyên phổ biến giã gạo bằng chày tay.
Cồng chiêng là nhạc cụ rất phổ biến ở Tây Nguyên và các tỉnh miền Trung. Nam nữ, người già, người trẻ Ra Glai đều say sưa chơi và thưởng thức tiếng cồng chiêng trong các đêm hội.
Ðàn môi là một loại nhạc cụ truyền thống của người Ra Glai, các bộ phận của đàn được làm bằng các chất liệu khác nhau: nhôm, lá đồng, tre, dây đàn, sáp ong. Khi thổi tay phải giữ bệ đàn, thân đàn cho vào môi ngậm, ngón tay trỏ của tay trái gầy vào đầu nốt nhạc.
Ăn: Sáng và chiều là hai bữa ăn chính. Cơm trưa thường được mang lên rẫy. Canh nấu lẫn thịt, cá và các loại rau là món ăn được ưa thích. Ðồ uống gồm nước lã đựng trong vỏ bầu khô và rượu cần. Thuốc lá tự thái, quấn trong vỏ bắp ngô được dùng phổ biến trong các gia đình.
Mặc: Rất khó tìm thấy y phục truyền thống của người Ra Glai. Ngày nay, đàn ông thì mặc quần âu và áo sơ mi, đàn bà mặc váy hoặc quần với áo bà ba. Thời xa xưa, đàn ông nơi đây ở trần, đóng một loại khố đơn giản, không có hoa văn trang trí. Những ngày lễ hội truyền thống, phụ nữ mặc áo dài, phía trên được ghép thành những ô vuông màu đỏ trắng xen kẽ nhau.
Ở: Người Ra Glai ở trong vùng núi và thung lũng có độ cao từ 500-1000m, tập trung ở các huyện Ninh Sơn (Ninh Thuận), Bắc Bình (Bình Thuận) và một số nơi thuộc Phú Yên, Khánh Hòa, Lâm Ðồng. Trước đây, họ ở nhà sàn. Hiện nay, nhà đất đã khá phổ biến. Những căn nhà thường có dạng hình vuông, chỉ rộng chừng 12-14m2. Một vài nhà lớn hơn, có hình chữ nhật. Kỹ thuật lắp ghép rất đơn sơ, chủ yếu sử dụng chạc cây và dây buộc. Mái lợp bằng tranh hoặc lá mây. Vách được che bằng phên đan hay sử dụng đất trát.
Phương tiện vận chuyển: Như các dân tộc khác trên Trường Sơn - Tây Nguyên, phương tiện vận chuyển của người Ra Glai là gùi. Gùi được đan đơn giản, không hoa văn trang trí. Gùi có các kích cỡ khác nhau, phù hợp với đôi vai của từng người và từng công việc cụ thể.
Quan hệ xã hội: Mỗi làng là nơi sinh sống của nhiều dòng họ. Trong những trường hợp cần thiết "Hội đồng già làng" hình thành dựa trên sự thừa nhận của mọi thành viên trong làng. Mỗi đơn vị cư trú đều có một người đứng đầu, là người có công tìm đất lập làng. Khi nhiều làng cùng sinh tụ trên một vùng rừng núi thì ở đó có một người là chủ núi bên cạnh các chủ làng... Tầng lớp thày cúng cũng đã hình thành. Tuy nhiên, mọi quan hệ xã hội của người Ra Glai trước kia và hiện nay đều chịu sự chi phối của chế gia đình mẫu hệ.
Cưới xin: Tình yêu của trai gái trước hôn nhân được người Ra Glai tôn trọng. Việc cưới xin phải trải qua nhiều bước, nhiều thủ tục khá phức tạp. Lễ cưới được tiến hành cả ở hai bên gia đình: nhà gái trước, nhà trai sau. Quan trọng nhất trong lễ cưới là nghi thức trải chiếu cho cô dâu, chú rể. Cô dâu, chú rể ngồi trên chiếu này để hai ông cậu của hai bên cúng trình với tổ tiên, thần linh về việc cưới xin. Cũng chính trên chiếc chiếu này, họ ăn chung bữa cơm đầu tiên trước sự chứng kiến của hai họ. Sau lễ cưới, việc cư trú bên vợ đang còn phổ biến.
Sinh đẻ: Trước và sau khi sinh nở, phụ nữ Ra Glai kiêng một số thức ăn, không nói tên một vài loài thú và tránh làm những công việc nặng nhọc. Họ được chồng dựng cho một căn nhà nhỏ ở bìa rừng để sinh đẻ. Họ đẻ ngồi và tự mình giải quyết các công việc khi sinh. Một số nơi, sản phụ được sự giúp đỡ của một người đàn bà giàu kinh nghiệm. Khi sinh xong, người mẹ bế con về nhà và khoảng 7 ngày sau họ tiếp tục làm các công việc như bình thường. Ngày nay, phụ nữ nơi đây đã đến sinh đẻ ở trạm xá, với sự giúp đỡ của các nữ hộ sinh.
Ma chay: Người chết được quấn trong vải hoặc quần áo cũ rồi đặt trong quan tài bằng thân cây rỗng hay quấn bằng vỏ cây là tuỳ theo mức giàu nghèo của gia đình. Người chết được chôn trên rẫy hoặc trong rừng, đầu hướng về phía tây. Khi có đủ điều kiện về kinh tế người ta làm lễ bỏ mả, dựng nhà mồ cho người chết. Quanh nhà mồ được trồng các loại cây như: chuối, mía, dứa và khoai môn. Trên đỉnh nhà mồ còn có hình chiếc thuyền và những chú chim bông lau. Vật dụng thuộc về người chết được phá hỏng, đặt quanh nhà và trong nhà mồ.
Thờ cúng: Người Ra Glai cho rằng có một thế giới thần linh bao quanh và vượt ra ngoài hiểu biết của họ. Các vị thần đều có thể bớt gây tai họa hay trợ giúp họ nếu được cúng tế và thỉnh cầu. Vong linh người chết là lực lượng siêu nhiên gây cho họ nhiều sợ hãi nhất. Cư dân còn tin vào sự linh hoá của các loại thú vật... Vì vậy, hàng năm thường xuyên diễn ra các nghi lễ cúng bái với việc hiến tế để mong thần linh giúp đỡ. Việc cúng tế này đã có sự tham gia của lớp thầy cúng, họ đang dần tách khỏi lao động và coi cúng bái như một nghề nghiệp chính thức.
Lễ tết: Theo chu kỳ sản xuất, người Ra Glai thường tiến hành các nghi lễ khi chọn rẫy, phát và đốt rẫy, gieo trỉa và thu hoạch. Theo chu kỳ đời người, đó là các lễ tiết khi sinh nở, lúc ốm đau, rồi cưới xin, ma chay... Những nghi lễ lớn trong năm thường tập trung vào khoảng tháng 1-2 dương lịch, khi đã thu hoạch rẫy, gồm cả lễ mừng thu hoạch, cưới xin và lễ bỏ mả. Ðây chính là những ngày tết của cư dân vùng này.
Văn nghệ: Ðó là những truyện cổ tích, thần thoại, những làn điệu dân ca, những câu tục ngữ, ca dao... thể hiện tâm tư, tình cảm của cư dân. Ðó cúng còn là bộ nhạc cụ khá phong phú của người Ra Glai. Bộ chiêng đồng đầy đủ với 12 chiếc. Tuy nhiên, có thể sử dụng 4, 6, 7 hay 9 chiếc. Khèn bầu, khèn môi, đàn ống tre khá phổ biến. Người Ra Glai cũng là cư dân biết sử dụng những thanh đá kêu, ghép thành bộ thường gọi là đàn đá, đánh thay chiêng, khá độc đáo và lý thú.
Theo cema.gov.vn