Trong tiến trình xây dựng chính quyền địa phương 2 cấp, Tây Ninh xác định đồng bộ, liên thông dữ liệu là yếu tố then chốt để nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều hành. Việc kết nối thông tin xuyên suốt giữa các cấp, các ngành không chỉ rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ mà còn cải thiện chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp, hướng tới nền hành chính minh bạch, hiện đại.
Thẳng thắn nhận diện “điểm nghẽn”
Dù giữ vai trò trọng tâm, song việc triển khai liên thông dữ liệu hiện nay tại các địa phương vẫn bộc lộ một số “điểm nghẽn” cần sớm tháo gỡ. Sự thiếu đồng bộ và kết nối chưa liền mạch giữa các hệ thống, các cấp từ khâu tiếp nhận đến xử lý hồ sơ đang làm ảnh hưởng đến tiến độ xử lý công việc, đòi hỏi các địa phương thẳng thắn nhận diện và đề xuất các giải pháp quyết liệt, đồng bộ hơn.
Xã Hảo Đước có 13 ấp với khoảng 32.503 dân, là nơi sinh sống của nhiều dân tộc như Kinh, Mường, Hoa, Khmer. Theo ông Nguyễn Tiến Hưng, Phó Bí thư Đảng ủy xã, sau sắp xếp đơn vị hành chính, tổ chức bộ máy cơ bản ổn định, từng bước nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện nhiệm vụ chính trị. Đến giữa tháng 4/2026, thu ngân sách đạt 34,04%; trên 90% người dân tham gia bảo hiểm y tế; tỷ lệ sử dụng nước sạch đạt 78,94%; địa phương cũng đăng ký phát triển 2 sản phẩm OCOP trong năm 2026.
Tuy nhiên, công tác cải cách hành chính dù đạt kết quả tích cực vẫn còn có “điểm nghẽn”. Quý I/2026, kết quả đánh giá cung cấp dịch vụ công trực tuyến của xã xếp hạng 47; tuy nhiên thứ hạng theo tuần thường ở mức thấp, cho thấy tính ổn định chưa cao. Theo ông Nguyễn Tiến Hưng, nguyên nhân chủ yếu do người dân chưa chủ động sử dụng dịch vụ công trực tuyến; quy trình liên thông hồ sơ còn phụ thuộc nhiều cấp, nhiều ngành nên vẫn xảy ra trễ hạn. Bên cạnh đó, hạ tầng thông tin, dữ liệu chưa đồng bộ, còn phát sinh thao tác thủ công, làm tăng thời gian xử lý, dễ sai sót và tạo áp lực cho đội ngũ cán bộ, công chức.
Tây Ninh tăng cường các giải pháp ứng dụng công nghệ số, đẩy mạnh số hóa dữ liệu trong thực hiện thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả phục vụ người dân và doanh nghiệp.
Để khắc phục, UBND xã Hảo Đước đề nghị Trung tâm Hành chính công tỉnh và Trung tâm Chuyển đổi số tỉnh hỗ trợ kiểm tra, rà soát quy trình tiếp nhận, xử lý hồ sơ trên Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính; kiểm tra việc đồng bộ dữ liệu với Cổng Dịch vụ công Quốc gia; đồng thời xem xét, đối chiếu, điều chỉnh điểm số đánh giá khi phát hiện sai sót.Xã Hòa Hội có đường biên giới dài 24 km, tiếp giáp các địa phương thuộc tỉnh Svay Rieng (Campuchia), giữ vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Theo bà Nguyễn Thị Thanh Sơn, Bí thư Đảng ủy xã, công tác kiện toàn tổ chức bộ máy được quan tâm, phù hợp với tình hình thực tiễn; việc rà soát, sắp xếp, bố trí cán bộ được thực hiện chặt chẽ, bảo đảm đúng tiêu chuẩn, điều kiện, phát huy năng lực, sở trường của từng cán bộ, công chức; từng bước tinh gọn đầu mối, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở. Qua đó, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn mới, tạo nền tảng thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Nhờ đó, kinh tế - xã hội tiếp tục phát triển ổn định; sản xuất, kinh doanh, thương mại - dịch vụ được duy trì; các lĩnh vực quy hoạch, xây dựng, giao thông, chiếu sáng được quan tâm; văn hóa - xã hội có chuyển biến tích cực; giáo dục, y tế, an sinh xã hội được bảo đảm; quốc phòng - an ninh giữ vững.
Về lưu trữ, số hóa, địa phương đã kiểm kê, lưu trữ hồ sơ theo quy định; bước đầu triển khai số hóa nhưng chưa chỉnh lý do thiếu kinh phí. Trong giải quyết thủ tục hành chính và chuyển đổi số, xã đã niêm yết 306 thủ tục hành chính thuộc 9 lĩnh vực; tổng số hồ sơ 5.578, đã giải quyết 5.436 (3.460 trước hạn, 1.976 đúng hạn, không có hồ sơ trễ hạn). Tuy nhiên, hiện nay xã vẫn còn thiếu 13/44 công chức so với biên chế tạm giao; nhiều vị trí quá tải, bố trí chưa đúng chuyên môn; nhiệm vụ tài chính – kế hoạch còn chồng chéo; một đầu mối thực hiện nhiều khâu; trụ sở làm việc phân tán. Địa phương kiến nghị bổ sung 11 biên chế, nhất là lĩnh vực xây dựng, quản lý đất đai; đề nghị giao đơn vị độc lập làm chủ đầu tư các công trình, dự án; đồng thời tăng cường tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn cho công chức các lĩnh vực liên quan.
Người dân mong muốn các thủ tục hành chính được giải quyết minh bạch, đúng hạn, gắn với đẩy mạnh số hóa dữ liệu để nâng cao chất lượng phục vụ.
Từng bước tháo gỡ
Trước tình trạng thiếu biên chế, cán bộ kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ, một số vị trí chuyên môn chưa đáp ứng yêu cầu, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Huỳnh Văn Sơn cho biết, trước mắt UBND tỉnh giao Sở Nội vụ chủ trì rà soát tổng thể nhu cầu biên chế của các địa phương; tham mưu phương án bổ sung, điều tiết biên chế phù hợp; khẩn trương hoàn thiện phê duyệt vị trí việc làm; hướng dẫn bố trí, sắp xếp cán bộ bảo đảm đúng chuyên môn, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
Đối với những khó khăn trong vận hành hệ thống, hạ tầng công nghệ thông tin chưa đồng bộ, kết quả đánh giá chưa ổn định, UBND tỉnh giao Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì rà soát, nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, hệ thống phần mềm; bảo đảm vận hành ổn định, liên thông giữa các hệ thống; hướng dẫn, hỗ trợ địa phương nâng cao hiệu quả ứng dụng chuyển đổi số.
Liên quan đến tình trạng kiến nghị về áp lực văn bản, tiến độ xử lý gấp và thiếu hướng dẫn cụ thể trong triển khai, UBND tỉnh giao các sở, ngành khi ban hành văn bản phải bảo đảm rõ nội dung, rõ yêu cầu, có lộ trình thực hiện phù hợp; đồng thời tăng cường hướng dẫn, tập huấn cho địa phương và hạn chế ban hành văn bản dồn dập, thời gian thực hiện ngắn gây khó khăn cho cơ sở.
Cũng theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh, thời gian tới, các địa phương cần tập trung thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm.
Trước hết, về công tác lãnh đạo, điều hành, các địa phương tiếp tục quán triệt, triển khai nghiêm túc các nghị quyết, chương trình, kế hoạch của Tỉnh ủy, UBND tỉnh; rà soát toàn bộ chỉ tiêu, nhiệm vụ năm 2026, xác định rõ nội dung đã đạt, chưa đạt và có nguy cơ không đạt, từ đó xây dựng kế hoạch điều hành cụ thể theo từng tháng, quý, bảo đảm rõ người, rõ việc, rõ tiến độ, rõ kết quả. Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền phải trực tiếp chỉ đạo, theo dõi và chịu trách nhiệm toàn diện đối với kết quả thực hiện tại địa phương.
Người dân Tây Ninh thực hiện các thủ tục hành chính trên môi trường số, góp phần nâng cao hiệu quả cải cách hành chính.
Về phát triển kinh tế - xã hội và thu ngân sách, cần tập trung thúc đẩy sản xuất, kinh doanh; khai thác hiệu quả các nguồn lực tại chỗ. Đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao chất lượng giải quyết thủ tục hành chính, khắc phục tình trạng hồ sơ trễ hạn, bảo đảm 100% hồ sơ được giải quyết đúng và trước hạn; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong quản lý, điều hành, khai thác hiệu quả các hệ thống phần mềm dùng chung, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức trong thực hiện nhiệm vụ trên môi trường số; gắn kết quả cải cách hành chính với đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị, cá nhân.
Đối với công tác xây dựng tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ, các địa phương tiếp tục kiện toàn theo vị trí việc làm; rà soát, bố trí, sắp xếp cán bộ phù hợp với năng lực, trình độ chuyên môn; khắc phục tình trạng bố trí chưa đúng chuyên môn, kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ. Đồng thời, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực, chú trọng kỹ năng quản lý, điều hành và ứng dụng công nghệ thông tin./.
Tên gọi khác: Khách, Hán, Tàu.
Nhóm địa phương: Quảng Ðông, Quảng Tây, Hải Nam, Triều Châu, Phúc Kiến, Sang Phang, Xìa Phống, Thoòng Nhằn, Minh Hương, Hẹ...
Dân số: 823.071 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Hán (Ngữ hệ Hán - Tạng).
Lịch sử: Người Hoa di cư đến Việt Nam vào những thời điểm khác nhau từ thế kỷ XVI, và sau này vào cuối thời Minh, đầu thời Thanh, kéo dài cho đến nửa đầu thế kỷ XX.
Hoạt động sản xuất: Người Hoa ở vùng nông thôn chủ yếu sống bằng nghề nông, coi lúa nước là đối tượng canh tác chính. Ở các thành phố, thị xã, thị trấn họ làm nghề dịch vụ, buôn bán... Tiểu thủ công nghiệp khá phát triển như nghề gốm (Quảng Ninh, Sông Bé, Ðồng Nai), làm giấy súc, làm nhang (Thành phố Hồ Chí Minh)... Một bộ phận người Hoa cư trú ở ven biển sống chủ yếu bằng nghề làm muối và đánh cá. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, người Hoa luôn coi trọng chữ "tín".
Ăn: Lương thực chính là gạo, nhưng trong bữa ăn thường có các loại như mì sào, hủ tiếu... Ở các gia đình bình dân, buổi sáng điểm tâm bằng cháo trắng với trứng vịt muối, còn những nhà khá giả hơn là hủ tiếu, bánh bao, xíu mại... Người Hoa có kỹ thuật nấu ăn giỏi, thích các món ăn xào mỡ với gia vị.
Thức uống của người Hoa ngoài tác dụng giải khát còn là loại thuốc mát, bồi dưỡng "lục phủ, ngũ tạng". Các loại trà sâm, hoa cúc... là những thứ thông dụng trong mọi gia đình. Những dịp hội hè, lễ, tết nam giới cũng quen dùng rượu. Thuốc lá được nhiều người hút, kể cả phụ nữ, nhất kà những người phụ nữ có tuổi.
Mặc: Những trang phục gọi là truyền thống của người Hoa hiện chỉ còn thấy ở một số người có tuổi hay trong các nghi lễ cưới xin, tang ma. Phụ nữ thường mặc áo cổ viền cao, cài khuy một bên, xẻ tà cao hoặc một chiếc áo "sườn xám" may dài, ôm ngang hông, xẻ tà dưới phần đùi. Màu sắc trang phục của họ, nhất là các thiếu nữ thích màu hồng hoặc màu đỏ, cùng với các sắc màu đậm. Ðàn ông mặc áo màu đen hay xanh đậm, cài khuy vải một bên, vai liền cổ đứng, xẻ tà hoặc kiểu áo tứ thân, xẻ giữa, cổ đứng, vai liền, có túi. Phụ nữ thích dùng đồ trang sức, đặc biệt là vòng tay (bằng đồng, vàng, đá, ngọc...), bông tai, dây chuyền... Ðàn ông thích bịt răng vàng và xem như một lối trang sức.
Ở: Những người làm nghề nông thường sống thành thôn xóm. Làng thường ở ven chân núi, trong cánh đồng, trải dài trên bờ biển, gần nguồn nước, giao thông thuận tiện. Trong làng, nhà ở bố trí sát nhau theo dòng họ. Ở thành thị họ thường sống tập trung trong các khu phố riêng.
Nhà cửa thường có 3 loại: nhà 3 gian hai chái, nhà chữ Môn và chữ Khẩu. Nhà thường xây bằng đá, gạch mộc hay trình đất, lợp ngói máng hay là quế, lá tre, phên lứa...
Nổi bật trong nhà ở là các bàn thờ tổ tiên, dòng họ, thờ Phật và các vị thần cùng các câu đối, liễn, các giấy hồng chữ Hán với nội dung cầu phúc, cầu lợi, cầu bình yên.
Quan hệ xã hội: Xã hội phân hoá giai cấp sâu sắc và mang tính phụ quyền cao.
Mối quan hệ với những người cùng họ được hết sức coi trọng. Mỗi một dòng họ có một từ đường để thờ cúng. Hàng năm vào một ngày nhất định, những người cùng họ tụ tập tại từ đường để làm lễ giỗ tộc họ. Những hoạt động kinh doanh, sản xuất thường có các hội nghề nghiệp tương ứng. Những hội này đều có một vị tổ và một ngày giỗ tổ trong năm.
Gia đình được xây dựng theo chế độ một vợ một chồng khá bền vững và mang tính phụ hệ. Người Hoa thường dựng vợ gả chồng cho con trong cùng một nhóm địa phương. Trưởng họ, ông mối, các chức dịch đóng vai trò khá quan trọng trong hôn nhân. Hiện nay, phụ nữ xây dựng gia đình khá muộn (tuổi cưới trung bình là 28, 30) và số con ít nhất (trung bình một phụ nữ sinh 2 hoặc 3 con).
Lễ tết: Trong một năm có nhiều ngày lễ tết: Nguyên đán, Nguyên tiêu, Thanh minh, Ðoan ngọ, Trung nguyên, Trung thu.
Tết Nguyên đán vào những năm cũ chuyển sang năm mới theo âm lịch và kéo dài tới ngày rằm tháng giêng (tết Nguyên tiêu). Lễ Nguyên tiêu là đặc trưng lễ tết của người Hoa, mọi hoạt động tập trung nhất của tín ngưỡng và văn hoá truyền thống đều được biểu hiện trong dịp này.
Thờ cúng: Nổi bật trong các tín ngưỡng dân gian là thờ cúng tổ tiên, gia tộc, dòng họ, thờ cúng các vị thần phù hộ (thần bếp, thổ địa, thần tài...) và một số vị thánh và bồ tát (Quan Công, bà Thiên Hậu, ông Bổn, Nam Hải Quan Âm...)
Hệ thống chùa miếu khá phát triển. Chùa miếu của người Hoa thường gắn liền với các hội quán, trường học. Ðó cũng là nơi sinh hoạt văn hoá cộng đồng, nơi diễn ra các hội lễ.
Học: Chữ Hán được dạy và học trong các trường phổ thông.
Văn nghệ: Sinh hoạt văn hoá truyền thống của người Hoa có nhiều thể loại như hát, múa, hài kịch... với nhiều loại nhạc cụ: tiêu, sáo, các loại đàn (tỳ bà, nhị, nguyệt...), chập choã... Hát "sơn ca" (sán cố) là hình thức được nhiều người ưa chuộng, nhất là tầng lớp thanh niên. Tổ chức văn nghệ dân gian truyền thống mang tính nghiệp dư đã có từ lâu là các "nhạc xã".
Múa lân, sư tử, rồng... là những loại hình nghệ thuật mang tính quần chúng sâu rộng được trình diễn hàng năm, vào những ngày lễ lớn, ngày lễ tết.
Theo cema.gov.vn
Tên tự gọi: Người Khmer.
Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.
Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.
Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.
Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).
Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.
Ở: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.
Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.
Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.
Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.
Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.
Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.
Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.
Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.
Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.
Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.
Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).
Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.
Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.
Theo cema.gov.vn