Từ những nếp nhà trình tường dưới chân Cột cờ quốc gia Lũng Cú, ruộng bậc thang Hoàng Su Phì đến tiếng then, làn điệu cọi, nghề dệt lanh và những lễ hội truyền thống, kho tàng văn hóa đa dạng đang mở ra dư địa phát triển mới cho Tuyên Quang.
Khi được bảo tồn đúng hướng, tổ chức thành sản phẩm và gắn với nhu cầu của thị trường, văn hóa không chỉ làm nên bản sắc mà còn tạo việc làm, nâng cao thu nhập, thúc đẩy du lịch, dịch vụ và tiêu thụ sản phẩm địa phương.
Chỉ tính riêng từ đầu năm 2026 đến nay, Tuyên Quang đón hơn 2,093 triệu lượt khách, trong đó có 406.368 lượt khách quốc tế và hơn 1,686 triệu lượt khách nội địa. Tổng chi tiêu của khách du lịch đạt trên 5.857 tỷ đồng. Kết quả này cho thấy văn hóa, cảnh quan và đời sống cộng đồng đang từng bước được chuyển hóa thành nguồn lực kinh tế, góp phần mở rộng sinh kế cho người dân, nhất là ở khu vực nông thôn, miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Tạo sinh kế từ những giá trị bản địa
Nằm dưới chân Cột cờ quốc gia Lũng Cú, làng Lô Lô Chải là một trong những điểm đến cho thấy rõ sự chuyển biến từ bảo tồn văn hóa sang khai thác giá trị văn hóa phục vụ phát triển. Những ngôi nhà trình tường, mái ngói âm dương, trang phục truyền thống, lễ hội, ẩm thực và nhịp sống của đồng bào Lô Lô từng chỉ hiện diện trong cộng đồng, nay trở thành những yếu tố tạo nên sức hấp dẫn riêng của điểm đến.
Người dân cải tạo nhà ở thành cơ sở lưu trú nhưng vẫn giữ kiến trúc truyền thống; sử dụng nông sản tại chỗ để phục vụ khách; giới thiệu nghề thủ công, trang phục, dân ca, dân vũ và phong tục của dân tộc mình. Từ chỗ chủ yếu sản xuất nông nghiệp quy mô nhỏ, nhiều hộ đã có thêm nguồn thu từ lưu trú, ăn uống, bán hàng lưu niệm, vận chuyển và hướng dẫn du khách trải nghiệm đời sống bản địa. Du lịch cộng đồng cũng tạo thị trường cho mật ong bạc hà, thịt hun khói, rau bản địa, thổ cẩm và nhiều sản phẩm đặc trưng khác.
Theo Chủ tịch UBND xã Lũng Cú Trần Đức Chung, địa phương xác định văn hóa là phần cốt lõi làm nên sự khác biệt của du lịch vùng cực Bắc. Việc phát triển du lịch không thể tách rời bảo tồn kiến trúc, trang phục, lễ hội, nghề truyền thống và môi trường sống của cộng đồng. Xã khuyến khích người dân tham gia làm du lịch, chú trọng giữ gìn cảnh quan, nâng cao chất lượng dịch vụ và xây dựng sản phẩm có bản sắc, để lợi ích từ du lịch quay trở lại phục vụ chính cộng đồng.
Không chỉ ở vùng cao nguyên đá, tại xã Lâm Bình, những nếp nhà sàn của đồng bào Tày, tiếng đàn tính, hát then, lễ hội Lồng Tông, ẩm thực truyền thống cùng cảnh quan hồ, núi và thác nước đang tạo nên chuỗi sản phẩm du lịch sinh thái, cộng đồng giàu bản sắc. Người dân bên cạnh cung cấp chỗ nghỉ, còn trực tiếp tham gia biểu diễn văn nghệ, chế biến món ăn, hướng dẫn trải nghiệm, bán nông sản và sản phẩm thủ công. Mỗi giá trị văn hóa được đưa vào hoạt động du lịch đã góp phần hình thành thêm một dịch vụ và mở rộng cơ hội việc làm tại chỗ.
Ở vùng chè cổ thụ Hoàng Su Phì, văn hóa canh tác trên sườn núi, tri thức lựa chọn cây giống, thu hái và chế biến chè của đồng bào các dân tộc đang được kết nối với du lịch trải nghiệm. Những đồi chè shan tuyết, ruộng bậc thang, chợ phiên và không gian sinh hoạt cộng đồng tạo thành một chỉnh thể, giúp sản phẩm chè gia tăng giá trị bằng câu chuyện về vùng đất, con người và phương thức sản xuất.
Các ngôi nhà trong Làng du lịch cộng đồng Lô Lô Chải.
Quản lý Panhou Retreat Lê Quang Huy cho rằng du khách ngày càng quan tâm đến những trải nghiệm gắn với thiên nhiên và văn hóa bản địa. Một sản phẩm du lịch có sức sống lâu dài phải giúp khách hiểu hơn về vùng đất, đồng thời tạo việc làm, thu nhập cho cư dân địa phương. Vì vậy, việc sử dụng lao động tại chỗ, lựa chọn nông sản bản địa, kết nối với người làm nghề truyền thống và tổ chức các hoạt động trải nghiệm cộng đồng vừa làm phong phú sản phẩm, vừa giúp giá trị kinh tế được chia sẻ rộng hơn.
Sự kết nối giữa văn hóa, du lịch và sản phẩm đặc trưng còn thể hiện qua Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm”. Trong 7 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 357 sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao trở lên, trong đó nhiều sản phẩm là kết tinh tri thức bản địa, tập quán canh tác, kỹ thuật chế biến và câu chuyện văn hóa của từng cộng đồng. Việc chuẩn hóa chất lượng, hoàn thiện bao bì, truy xuất nguồn gốc và kết nối sản phẩm OCOP với các điểm du lịch đang giúp nông sản địa phương tiếp cận thị trường rộng hơn, gia tăng giá trị và tạo thêm sinh kế cho người dân.
Đưa di sản vào dòng chảy phát triển
Tuyên Quang hiện có lợi thế lớn về tài nguyên văn hóa với hệ thống di tích cách mạng, lịch sử, danh lam thắng cảnh, lễ hội, làng nghề và kho tàng văn hóa phi vật thể phong phú của nhiều dân tộc. Tuy nhiên, để văn hóa thực sự trở thành nguồn lực kinh tế, giá trị ấy phải được chuyển hóa thành những sản phẩm có chất lượng, có khả năng tiếp cận thị trường và đem lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng.
Thực tế cho thấy không phải cứ có di sản, lễ hội hoặc cảnh quan đẹp là có thể hình thành sản phẩm du lịch hấp dẫn. Một số điểm đến vẫn thiếu dịch vụ lưu trú, bãi đỗ xe, khu vệ sinh, biển chỉ dẫn và đội ngũ hướng dẫn viên tại chỗ. Sản phẩm trải nghiệm còn đơn điệu; quà lưu niệm chưa tạo được dấu ấn; hoạt động quảng bá, bán hàng trên nền tảng số chưa tương xứng với tiềm năng. Sự liên kết giữa điểm đến, doanh nghiệp lữ hành, cơ sở lưu trú, hợp tác xã và người dân chưa thật chặt chẽ, khiến thời gian lưu trú và mức chi tiêu của du khách còn hạn chế.
Theo ông Nguyễn Trung Ngọc, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tuyên Quang, tỉnh đang định hướng phát triển các sản phẩm du lịch dựa trên những giá trị khác biệt của từng vùng; trong đó chú trọng du lịch lịch sử, văn hóa, sinh thái, cộng đồng và trải nghiệm nông nghiệp. Cùng với bảo tồn di sản, địa phương tăng cường liên kết tuyến, điểm; hỗ trợ xây dựng sản phẩm; nâng cao chất lượng nhân lực và ứng dụng công nghệ số trong quảng bá. Mục tiêu là kéo dài thời gian lưu trú, tăng mức chi tiêu của khách và tạo điều kiện để người dân tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị du lịch.
Một yêu cầu quan trọng là bảo đảm sự hài hòa giữa khai thác và bảo tồn. Nếu chạy theo số lượng khách, bê tông hóa không gian truyền thống hoặc sân khấu hóa quá mức các nghi lễ, văn hóa có thể mất đi tính chân thực - yếu tố làm nên sức hấp dẫn lâu dài. Ngược lại, nếu chỉ bảo tồn theo cách khép kín, tách khỏi đời sống đương đại, nhiều nghề thủ công, làn điệu dân ca và tri thức dân gian sẽ thiếu môi trường thực hành, khó truyền lại cho thế hệ trẻ.
Đồng bào Lô Lô Chải hòa mình trong điệu múa truyền thống, thu hút đông đảo du khách đến thưởng thức và trải nghiệm.
Câu chuyện của nghệ nhân Lý Văn Bình, Thôn 4, xã Tân Long cho thấy vai trò của chủ thể văn hóa trong quá trình này. Với người gìn giữ di sản, việc truyền dạy dân ca, dân vũ, nghi lễ và tri thức truyền thống nhằm phục vụ biểu diễn, quan trọng hơn là giúp lớp trẻ hiểu, yêu và có khả năng thực hành văn hóa của dân tộc mình. Khi nghệ nhân, người dân và thế hệ trẻ cùng tham gia xây dựng sản phẩm, văn hóa được giới thiệu một cách tự nhiên hơn, đồng thời tạo động lực để cộng đồng chủ động gìn giữ di sản.
Để khai thác hiệu quả nguồn lực này, Tuyên Quang cần tiếp tục đầu tư hạ tầng kết nối đến các điểm du lịch; hỗ trợ cộng đồng hoàn thiện kỹ năng phục vụ, quản trị cơ sở lưu trú và quảng bá sản phẩm trên môi trường số. Mỗi vùng cần lựa chọn những giá trị tiêu biểu để xây dựng sản phẩm đặc trưng, tránh phát triển homestay, tiết mục biểu diễn hay quà lưu niệm theo một khuôn mẫu. Cùng với đó, cần hình thành mối liên kết ổn định giữa doanh nghiệp, hợp tác xã, nghệ nhân và hộ dân, bảo đảm người dân không chỉ cung cấp dịch vụ đơn lẻ mà trở thành chủ thể trong chuỗi giá trị.
Tỉnh hiện có 1.478 cơ sở lưu trú với hơn 14.200 phòng và 52 doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành. Đây là nền tảng để hình thành những tuyến du lịch liên vùng, kết nối khu di tích quốc gia đặc biệt Tân Trào, Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang - Lâm Bình, ruộng bậc thang Hoàng Su Phì, Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn cùng các làng văn hóa, làng nghề và vùng sản xuất nông nghiệp đặc trưng. Khi mỗi điểm đến có một câu chuyện, một sản phẩm và một trải nghiệm riêng, dòng khách sẽ tạo thêm thị trường cho vận tải, lưu trú, ẩm thực, thương mại và nông sản địa phương.
Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam đặt ra yêu cầu biến những giá trị văn hóa thành sức mạnh nội sinh và động lực phát triển. Với Tuyên Quang, điều đó được cụ thể hóa bằng việc đưa di sản trở lại đời sống, đặt cộng đồng ở vị trí trung tâm và kết nối văn hóa với thị trường một cách có trách nhiệm. Khi người dân có thu nhập từ chính nếp nhà, nghề thủ công, làn điệu dân ca, lễ hội và tri thức bản địa, bảo tồn văn hóa không còn là công việc riêng của ngành chuyên môn mà trở thành nhu cầu tự thân của cộng đồng.
Văn hóa vì thế từ chỗ hiện diện trong di tích, bảo tàng hay những ngày hội, ngày nay đang đi vào từng sản phẩm, dịch vụ và trải nghiệm; góp phần tạo việc làm, mở rộng sinh kế và nâng cao giá trị của mỗi vùng đất. Đó cũng là con đường để Tuyên Quang chuyển lợi thế bản sắc thành nguồn lực kinh tế bền vững, trong đó sự phát triển hôm nay tiếp tục nuôi dưỡng những giá trị dành cho mai sau./.