Không gian văn hóa đồng bào Co: Di sản sống giữa đại ngàn

Chiều 29/5, Bảo tàng Đà Nẵng phối hợp với UBND xã Trà Liên và Thư viện Đà Nẵng tổ chức khai mạc trưng bày chuyên đề “Không gian văn hóa đồng bào Co - Di sản sống giữa đại ngàn”.

da-nang-290526.jpg
Không gian trưng bày hiện vật văn hóa, nhạc cụ của đồng bào Co. Ảnh: danang.gov.vn

Trưng bày nhằm giới thiệu, lan tỏa và tôn vinh những giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào Co, một trong những dân tộc thiểu số cư trú lâu đời tại khu vực miền núi phía Nam - Tây Nam thành phố Đà Nẵng và phía Tây Bắc tỉnh Quảng Ngãi.

Tại lễ khai mạc, Phó Giám đốc Bảo tàng Đà Nẵng Trần Văn Đức cho biết, hoạt động trưng bày không chỉ là nhiệm vụ chuyên môn của ngành bảo tàng mà còn góp phần cụ thể hóa các chủ trương của Đảng, Nhà nước về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi. Việc đưa hoạt động trưng bày về cơ sở giúp bảo tàng đến gần hơn với công chúng, để di sản không chỉ hiện diện trong không gian triển lãm mà thực sự sống trong đời sống cộng đồng.

Trưng bày giới thiệu hơn 70 tư liệu hình ảnh và 20 hiện vật qua 4 phần gồm: “Cội nguồn và bản sắc”, “Di sản giữa đại ngàn”, “Di sản - Dòng chảy tiếp nối” và “Lan tỏa tri thức”. Nội dung các phần nhằm tái hiện đời sống sinh hoạt, lao động sản xuất, các giá trị văn hóa tinh thần, lễ hội truyền thống, nghệ thuật cồng chiêng, múa Cà đáo cùng nhiều tri thức bản địa đặc sắc của đồng bào Co.

Bên cạnh hoạt động tham quan, công chúng còn được trải nghiệm các hoạt động tương tác như thưởng thức biểu diễn đấu chiêng, múa Cà đáo; thực hành đánh cồng chiêng, đan lát thủ công; khám phá ẩm thực và nông sản đặc trưng vùng cao...

Dịp này, Thư viện Đà Nẵng phối hợp trao tặng tủ sách cho trường học trên địa bàn xã, đồng thời phục vụ xe thư viện lưu động nhằm tạo không gian đọc sách cho người dân và học sinh địa phương.

Triển lãm diễn ra tại xã Trà Liên đến hết ngày 1/6/2026./.

Trần Lê Lâm/TTXVN
Dân tộc Co

Tên tự gọi: Cor, Col.

Tên gọi khác: Cua, Trầu.

Dân số: 33.817 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), tương đối gần gũi các dân tộc khác trong vùng bắc Tây Nguyên và lân cận như: Hrê, Xơ Ðăng, Ba Na... Chữ viết ra đời từ thời kỳ trước năm 1975 trên cơ sở dùng chữ cái La-tinh. Hiện nay chữ viết này không không phổ biến nữa.

Lịch sử: Người Co cư trú rất lâu đời ở tây bắc tỉnh Quảng Ngãi và tây nam tỉnh Quảng Nam.

Hoạt động sản xuất: Kinh tế rẫy là nguồn sống chủ yếu, lúa rẫy là nguồn lương thực chính. Canh tác theo hình thức phát rừng, đốt, chọc lỗ tra hạt giống, tuốt lúa bằng tay. Kỹ thuật xen canh - đa canh trên từng đám rẫy và luân canh giữa các đám rẫy. Trầu không và quế của người Co nổi tiếng lâu đời. Ðặc biệt quế quý và nhiều là một nguồn lợi lớn: quế rừng và quế trồng. Rẫy quế của mỗi gia đình là loại tài sản quan trọng, thường 10 năm trở lên mới được thu hoạch. Nhờ bán quế, các gia đình có tiền mua sắm các gia sản được ưa chuộng (cồng, chiêng, ché, trâu, v.v... và nay thì xe, đài, đồng hồ, xây nhà, đóng đồ gỗ), đồng thời cũng chi dùng vào việc ăn uống, mặc, v.v... Hình thức dùng vật đổi vật được ưa thích.

Chăn nuôi: Trâu, lợn, gà trước hết để cúng tế; chó hầu như nhà nhà đều có. Nghề dệt và rèn không phát triển. Ðồ đan đẹp và phong phú. Sản phẩm hái lượm và săn bắt có ý nghĩa không nhỏ trong đời sống người Co.

Ăn: Bữa ăn thông thường là cơm gạo tẻ, muối ớt, các loại rau rừng và thịt cá kiếm được. Trước kia, đồng bào quen ăn bốc. Ðồ uống là nước lã, rượu cần, nay nhiều người đã dùng nước chín, nước chè xanh, rượu cất. Tục ăn trầu cau chỉ được duy trì ở lớp người lớn tuổi, nhưng tục hút thuốc lá vẫn còn phổ biến.

Ở: Người Co sống tập trung ở Trà Bồng và Trà Mi thuộc tây bắc tỉnh Quảng Ngãi và tây nam tỉnh Quảng Nam. Nhà sàn dài, cửa ra vào ở hai đầu hồi. Trong nhà chia dọc thành 3 phần: lối đi ở giữa, một bên được ngăn thành từng buồng nhỏ cho các gia đình sinh hoạt riêng, còn một bên dùng làm nơi sinh hoạt chung (tiếp khách, họp bàn, tổ chức lễ hội, ăn uống đông người, đan lát, vui chơi...). Xưa kia thường mỗi làng ở tập trung trong một vài ngôi nhà kiểu này, dài có khi hàng trăm mét, bên ngoài có rào chắn và bố trí vũ khí để phòng vệ. Gần đây, khắp vùng người Co phát triển trào lưu từng gia đình tách ra làm nhà ở riêng, nhà trệt, dựng theo kiểu nhà người Việt ở địa phương, đã có nhiều nhà lợp tôn, lợp ngói, cả nhà xây nữa.

Mặc: Ðồ mặc của người Co chủ yếu mua của người Xơ Ðăng và người Việt. Theo nếp truyền thống, nam đóng khố, ở trần, nữ quấn váy, mặc áo cộc tay; mùa lạnh thì khoác tấm vải choàng. Bộ quần áo dài với khăn xếp du nhập từ đồng bằng lên từng được dùng trưng diện trong ngày lễ hội, nhất là những bô lão khá giả. Ngày nay, quần áo người Việt được dùng lan tràn, váy còn thấy một số phụ nữ mặc nhưng đều dùng vải công nghiệp. Các loại vòng trang sức cũng chỉ bắt gặp thưa thớt, đơn giản, không dễ tìm được những phụ nữ quấn nhiều chuỗi hạt cườm quanh đầu, quanh cổ tay, cổ chân, trước ngực và quanh thắt lưng như trước kia nữa.

Phương tiện vận chuyển: Người Co có các loại gùi tự đan dùng để vận chuyển rất tiện lợi, thích hợp với điều kiện đất dốc, rừng núi và suối. Mọi thứ đều bỏ trong gùi và gùi được cõng trên lưng, có 2 quai quàng qua đôi vai.

Quan hệ xã hội: Mỗi làng có ông "già làng" được mọi người kính trọng và nghe theo. Dân làng sinh sống trên một địa vực ổn định có ranh giới, việc chuyển dịch cư trú của làng cũng chỉ trong vùng lãnh thổ ấy. Trong làng thường có quan hệ thân thuộc qua lại với nhau: hoặc về huyết thống, hoặc do hôn nhân. Tuy mỗi gia đình làm ăn riêng, chiếm hữu riêng đất rẫy, nhưng tính cộng đồng làng khá cao. Xã hội truyền thống Co đã nảy sinh giàu - nghèo khác nhau, nhưng chưa phát triển các hình thức bóc lột: nô lệ gia đình, cho vay nặng lãi...

Cưới xin: Hình thức hôn nhân cư trú đằng chồng là phổ biến. Phong tục cho phép nếu vợ chết có thể lấy tiếp em hoặc chị của vợ, nhưng vợ goá không thể lấy em chồng; nếu 2 anh em trai lấy 2 chị em gái thì phải anh lấy chị, em lấy em; nếu con gái nhà này đã làm dâu nhà kia thì 2 - 3 đời sau nhà kia mới gả con gái cho nhà này. Con cô - con cậu, con gì - con già, con có chung cha mẹ đều không được lấy nhau. Cùng một gốc sinh thành, nếu là anh em trai thì đời chắt của họ hoặc sau đó nữa mới có thể lấy nhau, song nếu là chị em gái hay một gái một bên trai thì cháu hoặc chắt của họ có thể lấy nhau. Ðám cưới đơn giản, gọn nhẹ, không tốn kém nhiều, chỉ là dịp mọi người uống rượu vui chứng kiến đôi trai gái thành vợ, thành chồng.

Ma chay: Quan tài gỗ, đẽo theo kiểu độc mộc. Người chết được chôn trong bãi mộ của làng, đặt không xa chỗ ở. Tang gia "chia của" cho người mới chết, đưa ra mộ không chỉ vật dụng và tư trang của người ấy, mà cả ché, chiêng...

Thờ cúng: Những đỉnh núi cao được người Co gọi là núi Ông núi Bà. Họ cho rằng có "thần linh" trú ngụ ở đó. Hệ thống "ma" (ka muych) và "thần" (kơi, ma) rất đông: ma người chết bình thường, ma người chết bất bình thường, ma quế, ma cây đa, ma nước, thần bếp lửa... Bởi vậy, người ra có nhiều kiêng cữ và cúng quải gắn với sản xuất và đời sống.

Lễ tết: Người Co có nhiều lễ, lớn nhất là lễ có đâm trâu tế thần - đây cũng là ngày hội lớn trong làng. Ngoài ra, tết gắn với sự kết thúc một mùa lúa rẫy là dịp sinh hoạt nhộn nhịp. Trong hai dịp đó, các món ăn dân tộc, nghệ thuật dân tộc và trang phục dân tộc được thể hiện tập trung, khơi dậy văn hoá truyền thống.

Lịch: Cách tính ngày tháng tương đương với âm lịch của người Việt, nhưng chỉ có 10 tháng, tiếp đến là thời gian nghỉ ngơi sau vụ canh tác. Bên cạnh đó, người Co coi trọng việc xác định ngày tốt, xấu để thực hiện các công việc khác nhau.

Văn nghệ: Ưa thích âm nhạc, dùng bộ chiêng 3 chiếc là phổ biến: nhạc cụ còn có trống, các loại đàn nhị. Múa chỉ xuất hiện trong lễ đâm trâu. Các điệu dân ca Xru (Klu), Agiới được lưu truyền rộng rãi. Vốn truyện cổ khá phong phú, có huyền thoại, truyền thuyết, truyện ngụ ngôn... Nghệ thuật trang trí tập trung nhất ở cây cột lễ và cái "gu" trong lễ hội đâm trâu.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Co

Có thể bạn quan tâm

Giữ mạch nguồn văn hóa Mông ở Điện Biên

Giữ mạch nguồn văn hóa Mông ở Điện Biên

Là một trong ba dân tộc có dân số đông nhất tỉnh Điện Biên, đồng bào Mông sinh sống chủ yếu ở các vùng núi cao và vẫn gìn giữ nhiều giá trị văn hóa đặc sắc, từ tiếng khèn, trang phục truyền thống, nghề thủ công đến những phong tục, lễ hội. Trong nhịp sống hôm nay, những giá trị ấy đang tiếp tục được trao truyền và phát huy, góp phần làm nên bản sắc văn hóa riêng có của Điện Biên.

Lãnh đạo Cần Thơ thăm, chúc mừng đồng bào Khmer dịp lễ Sene Dolta

Lãnh đạo Cần Thơ thăm, chúc mừng đồng bào Khmer dịp lễ Sene Dolta

Chiều 2/10, nhân dịp lễ Sene Dolta năm 2026 của đồng bào Khmer, đoàn công tác của thành phố Cần Thơ do Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Cần Thơ Đồng Văn Thanh làm trưởng đoàn đến thăm Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Thạnh Phú cùng Chùa Prek On Đớk (Cần Đước) tại xã Nhu Gia.

Giữ hồn văn hóa Tây Nguyên từ những người trẻ

Giữ hồn văn hóa Tây Nguyên từ những người trẻ

Giữa nhịp sống hiện đại, những giai điệu truyền thống ở phía Tây Quảng Ngãi đang được các nghệ sĩ trẻ nỗ lực gìn giữ và truyền lại cho thế hệ mai sau. Từ những buôn làng, âm nhạc đang tiếp tục được trao truyền bằng tình yêu và niềm tự hào văn hóa dân tộc.

Sôi nổi Lễ mừng cơm mới của người Mông vùng cao Púng Luông

Sôi nổi Lễ mừng cơm mới của người Mông vùng cao Púng Luông

Khi những thửa ruộng bậc thang vùng cao khoác lên mình sắc vàng mùa lúa chín, đồng bào Mông xã Púng Luông, Lào Cai lại tưng bừng tổ chức Lễ mừng cơm mới-nghi lễ truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, vừa có ý nghĩa tâm linh, vừa là điểm nhấn thu hút du khách trải nghiệm.

Lung linh Lễ hội Ánh sáng biên cương

Lung linh Lễ hội Ánh sáng biên cương

Tối 19/9, Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn tổ chức Lễ hội Ánh sáng biên cương lần thứ nhất năm 2026 với chủ đề “Sắc màu xứ Lạng”.

Độc đáo nghề làm mão, mặt nạ của đồng bào Khmer

Độc đáo nghề làm mão, mặt nạ của đồng bào Khmer

Đó là chủ đề trưng bày chuyên đề do Bảo tàng tỉnh Đắk Lắk phối hợp với Bảo tàng tỉnh Vĩnh Long tổ chức, ngày 11/9. Trưng bày giới thiệu đến công chúng những giá trị đặc sắc của nghề làm mão, mặt nạ truyền thống - di sản văn hóa gắn với đời sống tín ngưỡng và các loại hình nghệ thuật biểu diễn dân gian của đồng bào Khmer.

Nhịp cầu nối đôi bờ biên giới với những câu chuyện phối hợp và sẻ chia

Nhịp cầu nối đôi bờ biên giới với những câu chuyện phối hợp và sẻ chia

Tiếng hát “Việt Nam - Trung Hoa” vang lên trong buổi giao lưu tại phường Hà Giang 1, tỉnh Tuyên Quang, mở đầu cho những câu chuyện giữa cán bộ làm nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biên giới hai nước. Phía sau những tiết mục văn nghệ, trận bóng bàn và hành trình tìm hiểu các điểm đến của địa phương là một mối quan hệ được bồi đắp bằng nhiều năm phối hợp, chia sẻ và đồng hành.

Gìn giữ bản sắc văn hóa, tạo động lực phát triển vùng biên

Gìn giữ bản sắc văn hóa, tạo động lực phát triển vùng biên

Thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, tỉnh Lạng Sơn xác định, xây dựng và phát triển nền văn hóa toàn diện, giàu bản sắc, nhân văn, khoa học, hiện đại, trở thành nền tảng vững chắc, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực cho phát triển nhanh và bền vững.

Khai hội truyền thống Đền Minh Lương

Khai hội truyền thống Đền Minh Lương

Trong tiết thu dịu mát, tiếng trống khai hội vang lên giữa không gian cổ kính của Đền Minh Lương, xã Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang, mở đầu những ngày hội đậm sắc màu văn hóa, tín ngưỡng.

Đặc sắc Lễ hội Trung Nguyên Kiến Tiêu Nghinh ông Quan Thánh Đế Quân xuất du

Đặc sắc Lễ hội Trung Nguyên Kiến Tiêu Nghinh ông Quan Thánh Đế Quân xuất du

Sáng 6/9 (tức ngày 25/7 âm lịch), tại phường Phan Thiết (tỉnh Lâm Đồng), đoàn Quan Thánh Đế Quân xuất du diễn ra trong sự thích thú của đông đảo người dân địa phương và du khách. Đây là phần hội quan trọng và đặc sắc nhất của Lễ hội Trung Nguyên Kiến Tiêu Nghinh ông Quan Thánh Đế Quân xuất du lần thứ 15 - năm 2026.

'Đánh thức' nếp nhà xưa và các giá trị văn hóa bản địa

'Đánh thức' nếp nhà xưa và các giá trị văn hóa bản địa

Nằm nép mình bên những ghềnh đá cổ ven biển Sa Huỳnh, làng Gò Cỏ (phường Sa Huỳnh, tỉnh Quảng Ngãi) đang trở thành điểm đến hấp dẫn du khách trong và ngoài nước nhờ mô hình du lịch cộng đồng gắn liền với việc bảo tồn không gian kiến trúc truyền thống và các giá trị văn hóa bản địa.

Thắt chặt tình đoàn kết, hữu nghị giữa nhân dân khu vực biên giới Việt Nam - Lào

Thắt chặt tình đoàn kết, hữu nghị giữa nhân dân khu vực biên giới Việt Nam - Lào

Từ ngày 31/8 - 2/9, tại khu vực Cửa khẩu Quốc tế Lóng Sập, xã Lóng Sập diễn ra các hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch thu hút đông đảo du khách và nhân dân biên giới Việt Nam và Lào tham gia. Đây là sự kiện trong chuỗi hoạt động thuộc Tuần Văn hóa - Du lịch Mộc Châu năm 2026, do Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La tổ chức.