Người có uy tín góp sức đổi thay vùng đồng bào Khmer

Trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, những người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc Khmer tại Vĩnh Long đang ngày càng khẳng định vai trò là lực lượng nòng cốt ở cơ sở.

thach-uom-1205.jpg
Ông Thạch Uông, ấp Chợ, xã Bình Phú, thường xuyên nghiên cứu các sách chữ Khmer để truyền đạt cho trẻ em trong vùng.

Bằng uy tín, tinh thần trách nhiệm, sự gương mẫu và am hiểu phong tục tập quán, họ trở thành cầu nối quan trọng giữa cấp ủy, chính quyền với nhân dân, góp phần đưa chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống, tạo chuyển biến tích cực trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Tận tụy với cộng đồng

Giữa những phum sóc của đồng bào Khmer ở Vĩnh Long, người có uy tín không chỉ là chỗ dựa tinh thần mà còn trực tiếp tham gia vận động nhân dân phát triển kinh tế, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, đời sống văn hóa và giữ gìn an ninh trật tự ở cơ sở. Bằng sự tận tụy và trách nhiệm, họ đang góp phần từng bước thay đổi diện mạo nông thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Ông Thạch Uông (sinh năm 1964, ngụ ấp Chợ, xã Bình Phú) là một trong những người có uy tín tiêu biểu trong vùng đồng bào dân tộc Khmer ở Vĩnh Long. Nhiều năm qua, với vai trò thành viên Ban Công tác Mặt trận, Chi hội trưởng Hội Chữ thập đỏ ấp và tích cực tham gia công tác người cao tuổi, ông luôn gương mẫu đi đầu trong các phong trào tại địa phương.

Ấp Chợ hiện có hơn 564 hộ dân, trong đó đồng bào Khmer chiếm hơn 42%. Với tinh thần trách nhiệm, ông Thạch Uông thường xuyên vận động các nhà hảo tâm hỗ trợ quà cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ khó khăn dịp lễ, Tết; đồng thời kết nối xây dựng 2 căn nhà Đại đoàn kết cho các gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, góp phần lan tỏa tinh thần tương thân, tương ái trong cộng đồng.

Một trong những dấu ấn nổi bật của ông là cùng chính quyền địa phương vận động 34 hộ dân tự nguyện hiến hơn 3.000 m² đất để xây dựng 3 tuyến đường giao thông nông thôn dài hơn 1,5 km. Thời gian đầu, nhiều hộ còn băn khoăn do ảnh hưởng đến diện tích đất của gia đình. Với sự chân thành và uy tín của mình, ông Thạch Uông đã nhiều lần đến từng nhà để vận động, phân tích lợi ích lâu dài của việc mở đường như tạo thuận lợi giao thương, nâng cao giá trị đất đai, cải thiện điều kiện sinh hoạt và giúp học sinh đi lại an toàn hơn.

Nhờ sự kiên trì, thấu tình đạt lý của ông, người dân đồng thuận, tự nguyện hiến đất, góp sức hoàn thiện các tuyến đường. Những con đường mới không chỉ phục vụ đi lại, vận chuyển hàng hóa mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh các trường: Mẫu giáo Ánh Dương, Tiểu học Phương Thạnh A, Trung học cơ sở Phương Thạnh đến trường an toàn, thuận tiện mỗi ngày.

Không chỉ tích cực trong công tác xã hội, từ năm 1986 đến nay, ông Thạch Uông còn bền bỉ duy trì các lớp dạy chữ Khmer miễn phí cho trẻ em trong vùng, góp phần bảo tồn tiếng nói, chữ viết và bản sắc văn hóa dân tộc.

Em Thạch Ngọc Trâm, học sinh lớp 7, Trường Trung học cơ sở Phương Thạnh chia sẻ, nhiều năm qua, cứ vào dịp hè em đều tham gia lớp học chữ Khmer miễn phí do ông Thạch Uông trực tiếp giảng dạy tại địa phương. Không chỉ tận tình hướng dẫn chữ viết, cách đọc, cách hiểu tiếng mẹ đẻ, ông còn thường xuyên giúp các em ôn luyện thêm kiến thức văn hóa dân tộc Khmer, giải đáp những điều chưa hiểu trong học tập cũng như đời sống thường ngày.

thach-uong-1205.jpg
Ông Thạch Uông, ấp Chợ, xã Bình Phú, dạy chữ Khmer cho học sinh trong vùng.

Theo Ngọc Trâm, nhờ sự chỉ bảo gần gũi, kiên nhẫn của ông Thạch Uông, em không chỉ đọc, viết tiếng Khmer tốt hơn mà còn thêm hiểu, thêm yêu tiếng nói, chữ viết, phong tục tập quán và bản sắc văn hóa dân tộc mình. Ông luôn động viên chúng em cố gắng học chữ Khmer để giữ gìn truyền thống của dân tộc. Những lúc bài khó hay chưa hiểu, em đều có thể đến hỏi và được ông tận tình chỉ dạy. Nhờ ông, em thấy tự hào hơn về văn hóa dân tộc Khmer của mình.

Những lớp học giản dị nhưng bền bỉ suốt nhiều năm của ông Thạch Uông không chỉ góp phần gìn giữ tiếng nói, chữ viết dân tộc Khmer cho thế hệ trẻ mà còn vun đắp ý thức gìn giữ bản sắc văn hóa truyền thống, tiếp thêm động lực để các em học sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số thêm tự tin vươn lên trong học tập và cuộc sống.

Theo ông Thạch Riêng, Trưởng Ban nhân dân ấp Chợ, nhờ sự đồng hành tích cực của những người như ông Thạch Uông, đời sống địa phương đã có nhiều đổi thay rõ nét. Nếu như khoảng 15 năm trước, tỷ lệ hộ nghèo trong ấp chiếm hơn 50% thì nay chỉ còn 2 hộ thuộc diện bảo trợ xã hội; thu nhập bình quân đầu người tăng gấp đôi, đạt mức 82 triệu đồng/người/năm.

Tại ấp Nguyệt Lãng C, xã Bình Phú, ông Kim Thành (sinh năm 1962), Trưởng ban Công tác Mặt trận ấp là một trong những điển hình tiêu biểu trong công tác dân vận ở vùng đồng bào Khmer. Với sự gần gũi, trách nhiệm và uy tín trong cộng đồng, ông tích cực tuyên truyền, vận động người dân tham gia xây dựng nông thôn mới, hiến đất làm đường, xây dựng hệ thống thoát nước và chỉnh trang cảnh quan môi trường.

Phát huy vai trò của mình, ông Kim Thành cùng chính quyền địa phương vận động hơn 80 hộ dân tự nguyện hiến khoảng 3.500 m² đất để xây dựng 3 tuyến đường giao thông nông thôn với tổng chiều dài gần 3,5 km. Ngoài ra, ông còn thường xuyên tham gia hòa giải các vụ việc, tranh chấp trong cộng đồng, góp phần củng cố khối đoàn kết ở khu dân cư và giữ vững an ninh trật tự tại địa phương.

Góp sức xây dựng nông thôn mới

Tỉnh Vĩnh Long có diện tích hơn 6.296 km² với dân số trên 3,38 triệu người; trong đó đồng bào dân tộc thiểu số có hơn 373.640 người, chiếm 11,03% dân số. Đồng bào Khmer có hơn 353.000 người, chiếm 10,42% dân số toàn tỉnh, sinh sống chủ yếu ở khu vực nông thôn, đoàn kết gắn bó cùng đồng bào Kinh, Hoa; tích cực lao động sản xuất, giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống và tham gia hiệu quả các phong trào thi đua yêu nước tại địa phương.

Nhờ phát huy hiệu quả vai trò của đội ngũ người có uy tín trong đồng bào Khmer, nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh đã tạo được sự đồng thuận cao trong nhân dân, huy động tốt nguồn lực cộng đồng để đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới, nhất là trong phát triển hạ tầng giao thông, chỉnh trang cảnh quan và giảm nghèo bền vững.

Đến nay, 100% xã, phường của tỉnh có đường ô tô đến trung tâm; 100% khóm, ấp có điện lưới quốc gia; trên 98% hộ Khmer sử dụng điện và 99% người dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh. Diện mạo nông thôn vùng đồng bào Khmer ngày càng khởi sắc, đời sống vật chất, tinh thần của người dân không ngừng được nâng lên. Cuối năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số của tỉnh giảm còn 1,16%.

vinh-long-1205.jpg
Ông Kim Thành, Trưởng Ban Công tác Mặt trận ấp Nguyệt Lãng C, xã Bình Phú, trao đổi kế hoạch hỗ trợ các hộ Khmer với Trưởng Ban Nhân dân ấp Nguyệt Lãng C Thạch Thị Đa Ny.

Hiện toàn tỉnh có 98/105 xã đạt chuẩn nông thôn mới; 20 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao và 1 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu là xã Long Vĩnh. Tỉnh đang tập trung triển khai các giải pháp để 7 xã còn lại hoàn thành tiêu chí nông thôn mới trong năm nay.

Ông Kiên Banh, Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Vĩnh Long cho biết, toàn tỉnh hiện có 445 người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số. Đây là lực lượng có nhiều đóng góp tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tại địa phương. Thời gian qua, các cấp ủy, chính quyền luôn quan tâm chăm lo, phát huy vai trò đội ngũ người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số thông qua nhiều chính sách thiết thực.

Hằng năm, địa phương tổ chức thăm hỏi, tặng quà, động viên người có uy tín vào các dịp lễ, Tết, khi ốm đau; hỗ trợ bảo hiểm y tế, cấp phát báo chí, cung cấp thông tin tuyên truyền, tạo điều kiện tham quan, học tập kinh nghiệm. Riêng năm 2025, tỉnh đã bố trí hơn 1,5 tỷ đồng để thực hiện các chính sách dành cho người có uy tín. Địa phương đang xây dựng nghị quyết mới nhằm tiếp tục hỗ trợ bảo hiểm y tế và bổ sung kinh phí phục vụ công tác thông tin, tuyên truyền cho lực lượng này.

Thực tiễn tại Vĩnh Long cho thấy, khi người có uy tín được quan tâm, tạo điều kiện và phát huy đúng vai trò, họ sẽ trở thành những “hạt nhân đoàn kết” ở cơ sở, góp phần quan trọng trong giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, bảo tồn văn hóa dân tộc và thúc đẩy phát triển bền vững vùng đồng bào Khmer trong giai đoạn mới./.

​

Bài và ảnh: Thanh Hòa/TTXVN
Dân tộc Khmer

Tên tự gọi: Người Khmer.

Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.

Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.

Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.

Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).

Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.

Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu (2).JPG
Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu

Ở: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.

Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.

Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.

Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.

Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.

Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.

Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.

Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.

Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.

Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.

Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).

Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.

Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm.jpg
Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm

Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Khmer

Có thể bạn quan tâm

Người mang quả ngọt phủ xanh đất dốc

Người mang quả ngọt phủ xanh đất dốc

Từ những diện tích trồng ngô, sắn và một số cây trồng kém hiệu quả, người dân vùng cao Sơn La đã mạnh dạn chuyển sang trồng cây ăn quả trên đất dốc, từng bước thay đổi phương thức sản xuất. Nhiều mô hình mang lại doanh thu hàng tỷ đồng mỗi năm. Gia đình ông Vàng A Sở, dân tộc Mông, ở tổ dân phố Pakhen, phường Thảo Nguyên là một trong những trường hợp như vậy.

Khởi nghiệp từ khai thác giá trị bản sắc văn hóa đồng bào Hrê

Khởi nghiệp từ khai thác giá trị bản sắc văn hóa đồng bào Hrê

Từ tình yêu với văn hóa truyền thống dân tộc, chị Trinh Sơn Uyên, người con Hrê ở xã Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi đã xây dựng mô hình Plây Hrê - Làng Hrê, kết hợp ẩm thực với trải nghiệm văn hóa, du lịch sinh thái và giới thiệu sản phẩm đặc trưng địa phương.

Cô giáo đứng lớp 'xóa mù' cho đồng bào Dao ở Thái Nguyên

Cô giáo đứng lớp 'xóa mù' cho đồng bào Dao ở Thái Nguyên

Hơn hai tháng đứng lớp xóa mù chữ cho 18 học viên người Dao ở xóm Tân Kim, xã Thần Sa (Thái Nguyên), cô giáo Hà Thị Phương vui mừng chứng kiến từng đổi thay của học trò, từ những người còn e dè, chưa biết chữ đến khi có thể tự đọc, viết và nhắn tin bằng điện thoại...

Chiến sĩ quân hàm xanh mang ‘Ánh sáng số’ đến bản Vàng Ma Chải

Chiến sĩ quân hàm xanh mang ‘Ánh sáng số’ đến bản Vàng Ma Chải

Đến Vàng Ma Chải, nơi cuối trời Tây Bắc của tỉnh Lai Châu, hỏi về Thiếu tá Nguyễn Duy Khánh, Chính trị viên phó Đồn Biên phòng Vàng Ma Chải, Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng Lai Châu, ai cũng biết, bởi anh là người mang “Ánh sáng số” đến với đồng bào các dân tộc khu vực biên giới.

Giáo dục mở đường cho thế hệ trẻ Chăm Islam vươn lên

Giáo dục mở đường cho thế hệ trẻ Chăm Islam vươn lên

Để cộng đồng Chăm Islam phát triển bền vững, điều quan trọng là chăm lo việc học hành, tạo cơ hội để người trẻ có kiến thức, nghề nghiệp và việc làm. Cùng với đó, người có uy tín phải gần dân, hiểu bà con cần gì để đồng hành, vận động và gắn kết cộng đồng.

Hiến máu cứu người - lan tỏa tinh thần nhân ái

Hiến máu cứu người - lan tỏa tinh thần nhân ái

Tỉnh Lạng Sơn đã có nhiều cách làm linh hoạt, phù hợp với đặc thù địa phương nhằm lan tỏa phong trào hiến máu cứu người; góp phần hoàn thành mục tiêu tiếp nhận 12.500 đơn vị máu năm 2026.

Dịp Lễ hội Nguyên Tiêu hàng năm, bà con người Hoa thường tổ chức nhiều hoạt động văn hóa đặc sắc tại các hội quán ở khu vực Chợ Lớn.

'Muốn người dân đồng thuận, trước hết phải gần gũi, lắng nghe và tạo dựng niềm tin'

Am hiểu tiếng nói, phong tục và đời sống của bà con, thầy giáo Trần Thích, nguyên Hiệu trưởng Trường Tiểu học Châu Văn Liêm, nhiều năm trực tiếp tuyên truyền chính sách, tham gia hòa giải, vận động nguồn lực chăm lo an sinh và khuyến học. Với ông, muốn người dân đồng thuận, trước hết phải gần gũi, lắng nghe và tạo dựng niềm tin.

Cô gái Mông 'gùi' luật lên non

Cô gái Mông 'gùi' luật lên non

Từng là nạn nhân của những hủ tục lạc hậu gắn liền với định kiến giới khắt khe, thay vì chấp nhận số phận, cô gái trẻ Sùng Thị Sơ (Lào Cai) đã lựa chọn con đường học vấn để tự giải cứu chính mình và trở thành người mang kiến thức pháp luật đến các bản làng.

Người có uy tín - cầu nối đưa pháp luật đi vào cuộc sống

Người có uy tín - cầu nối đưa pháp luật đi vào cuộc sống

Mảnh đất vùng biên Quảng Trực (Lâm Đồng) đang tiếp tục thay da đổi thịt và khoác lên mình một diện mạo mới. Thành quả này là nhờ sự ưu tiên nguồn lực của Trung ương và địa phương, sự chung sức, chung lòng của cộng đồng các dân tộc anh em sinh sống trên địa bàn xã; đặc biệt là vai trò nêu gương cũng như tấm lòng vì cộng đồng của các già làng, người có uy tín vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Những phụ nữ tiên phong ở bản vùng cao Điện Biên

Những phụ nữ tiên phong ở bản vùng cao Điện Biên

Tại Điện Biên, thời gian qua nhiều phụ nữ vùng cao luôn đi đầu trong các phong trào, phát triển kinh tế, gìn giữ bản sắc văn hóa và vận động hội viên cùng vươn lên. Họ chính là những “thủ lĩnh phụ nữ” ở cơ sở.

Mô hình hiệu quả hỗ trợ học trò nghèo vùng biên giới

Mô hình hiệu quả hỗ trợ học trò nghèo vùng biên giới

Cứ mỗi dịp hè đến, những người lính mang quân hàm xanh của Đồn Biên phòng Ia Púch, tỉnh Gia Lai, lại trở thành những người thầy bồi đắp kiến thức cho các học sinh nghèo vùng biên giới. Suốt 5 năm qua, lớp học đã trở thành địa chỉ thân thuộc của các em có hoàn cảnh khó khăn, bố mẹ bận mưu sinh, ít có điều kiện kèm cặp việc học được củng cố kiến thức, duy trì thói quen học tập và vui chơi lành mạnh trong những ngày hè.

Lực lượng xung kích 'lá chắn' phòng, chống thiên tai ở cơ sở

Lực lượng xung kích 'lá chắn' phòng, chống thiên tai ở cơ sở

Cùng với việc chủ động “4 tại chỗ” của các địa phương, lực lượng xung kích phòng, chống thiên tai cấp xã ở tỉnh Lào Cai đang bám địa bàn, kịp thời phát hiện nguy cơ, triển khai các biện pháp bảo đảm an toàn cho người dân trong mùa mưa lũ, không để bị động, bất ngờ.