Plây Hrê được Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trao Giải Ba tại Cuộc thi Dự án khởi nghiệp thanh niên nông thôn năm 2026.
Chị Uyên đang tìm cách đưa văn hóa bản địa trở thành sản phẩm có giá trị, mở ra hướng đi mới cho thanh niên vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tạo thêm sinh kế bền vững cho cộng đồng. Mới đây, Dự án Plây Hrê được Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trao giải Ba tại Cuộc thi Dự án khởi nghiệp thanh niên nông thôn năm 2026...
Từ bản sắc đến sản phẩm
Sinh ra và lớn lên trong cộng đồng Hrê ở Sơn Hà, Trinh Sơn Uyên đã tiếp nhận nhiều tri thức về ẩm thực, phong tục, tập quán và đời sống tinh thần của dân tộc mình. Với cô gái trẻ, những điều tưởng như bình dị ấy không chỉ gắn với ký ức tuổi thơ mà còn trở thành nguồn cảm hứng để hình thành ý tưởng khởi nghiệp.
Trên diện tích khoảng 1 ha, Plây Hrê - Làng Hrê được xây dựng theo dáng dấp một không gian làng truyền thống với nhà sàn, ao cá, vườn hoa, vườn rau, khu sinh hoạt chung và sân khấu biểu diễn cồng chiêng, dân ca Hrê. Thay vì chỉ giới thiệu văn hóa qua hiện vật hay các tiết mục trình diễn, mô hình hướng đến những trải nghiệm trực tiếp. Du khách có thể tự tay hái rau, chế biến món ăn mang hương vị núi rừng, tìm hiểu nghề đan lát, học đánh chiêng, đàn tre hoặc nghỉ tại homestay.
Chị Trinh Sơn Uyên đang giới thiệu những sản phẩm truyền thống của địa phương.
Ẩm thực truyền thống là một điểm nhấn của Plây Hrê. Những món ăn dân dã của người Hrê được chế biến từ nguyên liệu địa phương, phục vụ theo hình thức cơm làng và tiệc ngoài trời. Các sản phẩm như: cá lăng, thịt heo đen, thịt trâu, bò gác bếp, cá chuồn tẩm gia vị sả, ớt xiêm... được giới thiệu, bày bán tại đây. Người dân địa phương và các nghệ nhân trực tiếp tham gia vào nhiều hoạt động. Nghệ nhân đảm nhận biểu diễn chiêng ba, đan lát, hướng dẫn trải nghiệm, người am hiểu ẩm thực tham gia chế biến, phục vụ. Những giá trị vốn hiện hữu trong đời sống cộng đồng đã được kết nối thành các sản phẩm, dịch vụ, tạo thêm việc làm và thu nhập ổn định cho bà con.
Để văn hóa tiếp tục sống
Nghề đan lát truyền thống của người Hrê được giới thiệu đến du khách.
Biến văn hóa thành sản phẩm kinh tế là hành trình không dễ dàng. Chị Trinh Sơn Uyên cho biết, trong quá trình thử nghiệm mô hình đã gặp không ít khó khăn, có lúc nản lòng trước sự cạnh tranh trong lĩnh vực nghỉ dưỡng sinh thái và trải nghiệm văn hóa. Từ thực tế đó, chị nhận thấy bài toán đặt ra là phải giữ được những giá trị truyền thống cốt lõi, linh hoạt trong cách phát triển dịch vụ và mở rộng đối tượng khách hàng.
Theo chị, người làm dự án trước hết phải hiểu mình đang có gì, đâu là lợi thế và làm thế nào để khai thác những giá trị ấy phù hợp. Bởi khi du khách tìm đến một không gian văn hóa bản địa, điều họ tìm kiếm không chỉ là một bữa ăn hay chỗ nghỉ, mà còn là những trải nghiệm đời thường gắn với chiều sâu lịch sử, văn hóa. Đặc biệt hơn là họ cảm thấy đồng tiền mà họ bỏ ra xứng đáng với những gì nhận lại. Văn hóa không mất đi chỉ vì bị lãng quên mà sẽ mất đi khi chính chúng ta không biết làm gì để nó có thể sống lại.
Thổ cẩm truyền thống của người Hrê được trưng bày, giới thiệu đến du khách.
Với cô gái trẻ, khi nghệ nhân có thêm việc làm, nông sản, thực phẩm và hàng thủ công của người dân có thêm đầu ra thì phát triển kinh tế cũng đồng thời tạo môi trường để văn hóa được duy trì. Những người tham gia mô hình có thêm nguồn thu nhập ngoài công việc đồng áng, nương rẫy thường nhật, góp phần cải thiện đời sống. Đó cũng là động lực để Trinh Sơn Uyên tiếp tục tìm kiếm những hướng đi mới, từng bước xây dựng thương hiệu và đưa Plây Hrê đến gần hơn với thị trường du lịch.
Hiện mô hình Plây Hrê - Làng Hrê kết nối với nhiều nhóm khách, từ học sinh tham gia hoạt động ngoại khóa đến khách vãng lai, khách du lịch và người yêu thích khám phá, nghiên cứu văn hóa. Việc liên kết với các đơn vị lữ hành cũng được mở rộng, góp phần đưa trải nghiệm văn hóa Hrê đến gần hơn với du khách.
Trinh Sơn Uyên với không gian trưng bày đồ dùng sinh hoạt của người Hrê nằm trong khuôn viên Plây Hrê.
Ông Giáp Hùng Vương, Phó Chủ tịch UBND xã Sơn Hà cho rằng, địa phương ghi nhận và đánh giá cao sự táo bạo, tinh thần dám nghĩ, dám làm của Trinh Sơn Uyên. Mô hình Plây Hrê là niềm tự hào của xã Sơn Hà khi được Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trao giải Ba tại Cuộc thi Dự án khởi nghiệp thanh niên nông thôn năm 2026, tổ chức tại Đắk Lắk vừa qua.
Thời gian tới, xã sẽ ưu tiên nguồn lực, tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng nơi đây thành Trung tâm bảo tồn văn hóa góp phần gìn giữ văn hóa cộng đồng người Hrê. Địa phương cũng tích cực hỗ trợ chủ thể hoàn thiện các thủ tục liên quan đến sản xuất, kinh doanh, an toàn vệ sinh thực phẩm; tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách và các Chương trình mục tiêu quốc gia...; đăng ký sản phẩm OCOP 3 - 4 sao; kết nối mô hình với các sự kiện văn hóa, thể thao, du lịch để gia tăng lượng khách đến tham quan. Về lâu dài, xã định hướng phát triển Plây Hrê thành khu du lịch sinh thái cộng đồng bền vững.
Với bước đệm này, dựa trên tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, chị Trinh Sơn Uyên xác định sẽ tiếp tục khai thác những giá trị văn hóa cốt lõi, kết nối sức mạnh cộng đồng và mở rộng loại hình lưu trú để du khách có thêm thời gian trải nghiệm. Khởi nghiệp từ văn hóa, với chị không chỉ là tạo dựng một mô hình kinh tế mà còn là cách để những giá trị truyền thống tiếp tục được trao truyền, được trải nghiệm và sống cùng cộng đồng.
Tên tự gọi: Hrê, trước kia thường gắn với tên sông sở tại như: "người Krê" - sông Krế ở Sơn Hà; "người Hrê" - sông Hrê ở Ba Tơ; "người nước Ðinh" - sông Ðinh ở An Lão)...
Tên gọi khác: Chăm Rê, Chom, Thượng Ba Tơ, Mọi Luỹ, Mọi Sơn Phòng, Mọi Ðá Vách, Chăm Quảng Ngãi, Mọi Chòm, Rê, Màn Thạch Bích.
Dân số: 127.420 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (Ngữ hệ Nam Á). Từ thời kỳ trước năm 1975, chữ viết ra đời bằng cách dùng hệ thống kí tự La-tinh để phiên âm, được sử dụng rộng rãi, nhưng nay đã bị mai một.
Lịch sử: Người Hrê thuộc số cư dân sinh tụ rất lâu đời ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên.
Hoạt động sản xuất: Phần lớn người Hrê làm ruộng nước là chính, chỉ có một bộ phận sống chủ yếu nhờ rẫy. Lối canh tác rẫy phát - đốt - chọc trỉa, với bộ nông cụ đơn giản gồm rìu, dao quắm, gậy chọc lỗ, cái nạo cỏ, khi thu hoạch thì dùng tay tuốt lúa. Cách thức làm ruộng tương tự như ở người Việt vùng nam Trung bộ (dùng cày, bừa có đôi trâu kéo, biết gieo mạ và cấy, dùng liềm và vằng để gặt...) nhưng còn thấy dấu vết của tập quán trồng lúa rẫy.
Từng gia đình thường nuôi trâu, lợn, chó, gà. Nghề thủ công chỉ có đan lát và dệt vải nhưng nay cũng không phát triển, nhất là nghề dệt chỉ còn ở vài nơi. Việc giao lưu hàng hoá thường theo hình thức trao đổi vật trực tiếp. Hái lượm, săn bắt và đánh cá cung cấp nguồn thức ăn quan trọng cho mỗi gia đình.
Ăn: Người Hrê thường ngày ăn cơm tẻ, ngày lễ tết có thêm cơm nếp. Thức ăn chủ yếu là những thứ kiếm được và muối ớt, khi có cúng bái thì thịt con vật hiến sinh được dùng làm đồ nhắm và cải thiện bữa ăn. Thức ăn đựng trong các vật làm bằng mo cau. ¡n bốc. Thức uống có nước lã, nước chè xanh, rượu cần (nay rượu cất khá thông dụng). Tập quán hút thuốc lá và ăn trầu cau phổ biến.
Ở: Người Hrê sống chủ yếu ở miền tây tỉnh Quảng Ngãi (các huyện Sơn Hà, Ba Tơ, Minh Long) và tỉnh Bình Ðịnh (huyện An Lão), một số ít ở tỉnh Kon Tum (huyện Kon Plông). Nhà sàn có cửa ra vào ở mỗi đầu và một mặt bên, có 2 hàng cột tạo thành 2 vì cột, trên đỉnh đốc có hình cặp sừng thú, vách nghiêng phía trên ra ngoài. Mặt sàn thường hơi cao một chút về bên không đặt bếp đun, nhằm tạo thế nằm thoải mái: chân thấp hơn đầu. Nhà ở trong làng đều dựng ngang triền đất dốc, tránh để đòn nóc chĩa hướng chắn ngang dòng chảy của sông suối.
Ngày nay, hầu hết người Hrê mặc theo kiểu người Việt: tuy nhiều phụ nữ còn dùng váy nhưng không phải loại vải sợi bông tự làm ra với những dải hoa văn ở hai đầu ống váy và khi mặc không tạo thành hai tầng như xưa.
Mặc: Theo nếp cũ, đàn ông đóng khố, chít khăn, khi dự lễ hội hoặc đi xa thì mặc áo; đàn bà có váy ống mặc kiểu hai tầng. Có áo, khăn trùm đầu. Những vòng đeo trang sức làm bằng đồng bạc, nhôm và chuỗi cườm; riêng nam giới không trang sức ở tai.
Phương tiện vận chuyển: Người Hrê quen dùng gùi sau lưng, mỗi quai gùi quàng giữ vào một vai: chở thóc gạo thì dùng gùi đan dày, chở củi, sắn thì có gùi mắt thưa, đàn ông đi rừng hay đi trận có riêng loại gùi như chiếc túi hoặc gùi ba ngăn. Ngoài ra, người Hrê còn gánh lúa khi gặt và đội đồ vật trên đầu.
Quan hệ xã hội: Già làng có uy tín và ảnh hưởng lớn. Trước kia sự phân hoá xã hội đã khá sâu sắc, chế độ tôi tớ - đặc biệt là đi ở vì nợ - có phần khắc nghiệt hơn nhiều tộc Thượng khác, hiện tượng tranh chiếm và tập trung ruộng đất (theo đó là sự xác lập quyền thế của một số cá nhân) đã tương đối phát triển. Tuy vậy, quan hệ trong làng vẫn thể hiện tinh thần cộng đồng công xã.
Cưới xin: Cư trú phía chồng hay phía vợ là tuỳ thoả thuận giữa hai gia đình, phần đông sẽ dựng nhà ở riêng sau khi có con đầu lòng. Ðám cưới có nghi thức dâu và rể kết gắn với nhau thông qua việc trao bát rượu, miếng trầu cho nhau hay quàng chung một vòng dây sợi... Vợ goá có thể lấy tiếp em chồng, chồng có thể lấy cả em vợ. Con cô - con cậu, con gì - con già, con có chung mẹ hoặc cha đều không được lấy nhau.
Sinh đẻ: Việc sinh đẻ diễn ra bên cạnh bếp lửa trong nhà, có là đỡ hộ sinh, cắt rốn bằng dao, cái rau được gói trong mo cau rồi đem bỏ trong rừng hoặc chôn cạnh nhà. Sản phụ nghỉ ngơi vài chục ngày, kiêng ăn cá niêng, trứng, chuối, thịt gà trắng... Ðứa bé đầy tháng mới làm lễ đặt tên.
Ma chay: Quan tài độc mộc có dáng hao hao chiếc thuyền. Người chết được quàn tại nhà từ 1 đến 3 ngày rồi chôn trong bãi mộ của làng. Mộ đắp thành gò dài trên dựng nhà mồ có nóc mái làm như nhà ở. Tang gia "chia của" tựa hồ cho người chết đi ở riêng: từ đồ ăn thức uống cho đến vật dụng trong nhà, từ trang phục, công cụ lao động... đều có ở mộ.
Thờ cúng: Người Hrê có nhiều kiêng cữ và lễ thức tôn giáo, xuất phát từ quan niệm mọi vật đều có hồn hay ma và con người bị các lực lượng siêu nhiên chi phối. Khi ốm đau, rủi ro, khi làm nhà, mang thai, đẻ khó, có người chết, khi gieo cấy và gặt hái, khi gieo trỉa và tuốt lúa, khi đưa thóc lên kho và lần đầu lấy thóc về ăn... đều cúng bái. Cộng đồng làng chỉ tổ chức cúng cầu an, tránh dịch bệnh, còn lại đều là các lễ cúng của gia đình.
Lễ tết: Lễ hội có đâm trâu là lớn nhất, dù đó là lễ của làng hay một nhà cũng đông vui. Hàng năm, người Hrê ăn tết vào khoảng tháng 10, sau khi thu hoạch lúa, nay nhiều làng theo tết Nguyên đán. Ngày tết có cúng cho trâu và lợn, cầu sinh sôi, cúng mời tổ tiên và cúng sức khoẻ cho mọi người trong nhà; có bánh gói bằng gạo nếp, rượu, thịt... Dịp tết làng làm lễ cúng tập thể cầu mong mưa thuận, đủ nước.
Lịch: Cách tính tương tự âm lịch của người Việt. Trong tháng, phân biệt ngày tốt, ngày xấu và chọn ra những ngày nên làm việc này, không nên làm việc kia.
Văn nghệ: Nhạc cụ thường dùng là bộ chiêng ba chiếc, bộ cồng ba chiếc, trống, các loại đàn ống tre hoặc có vỏ bầu làm hợp âm, sáo, nhị, đàn môi, nữ giới chơi bộ ống vỗ hai chiếc. Dân ca phổ biến nhất là điệu Katê và Ka choi. Truyện cổ (Hmon) được lưu truyền như một vốn quý trong văn hoá dân tộc, gồm những đề tài khác nhau. Các mô típ hoa văn hình học dệt trên vải và thể hiện trên đồ đan cũng mang tính truyền thống lâu đời.
Theo cema.gov.vn