Người có uy tín vận động đồng bào phát triển kinh tế, chấp hành quy định pháp luật

Ông Y Hồng, người có uy tín tại Suối Sim (Khánh Hòa) đang đồng hành cùng bà con Ê Đê trồng cây dược liệu, tạo thêm hướng phát triển kinh tế. Từ việc làm gương, hướng dẫn sản xuất đến vận động chấp hành pháp luật, ông góp phần giúp người dân từng bước thay đổi cách nghĩ, cách làm.

baotintuc_tr_anhnen.png
Ông Y Hồng, người có uy tín tại thôn Suối Sim, xã Tây Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa đã đồng hành cùng bà con Ê Đê phát triển sinh kế và nâng cao hiểu biết pháp luật.

Để hiểu rõ hơn cách ông làm gương trong sản xuất, vận động đồng bào phát triển kinh tế và chấp hành các quy định của pháp luật, phóng viên Báo Tin tức và Dân tộc đã có cuộc trò chuyện với ông Y Hồng:

Thưa ông, điều gì khiến ông lựa chọn đồng hành với bà con trồng cây xáo tam phân, mở thêm hướng sinh kế cho bà con bà con Ê Đê?

Sau nhiều năm làm trưởng thôn, tôi tiếp tục đồng hành với bà con Suối Sim trong phát triển sản xuất. Từ năm 2024, tôi tham gia liên kết với hợp tác xã để trồng, bảo tồn cây xáo tam phân và vận động bà con tìm hiểu mô hình. Khu vực này trước đây thuộc xã Ninh Tây, nay thuộc xã Tây Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.

Người dân ở Suối Sim trước đây chủ yếu trồng mì, mía. Bà con quen với những cây trồng này, nhưng muốn phát triển kinh tế thì cần tìm hiểu thêm mô hình phù hợp với đất đai và khả năng chăm sóc của từng gia đình. Khi hợp tác xã đưa cây xáo tam phân vào trồng, bảo tồn từ năm 2024, tôi thấy đây là một hướng có thể cùng bà con tìm hiểu, thử nghiệm.

baotintuc_tr_caysao4.png
Ông Y Hồng kiểm tra sự phát triển của cây xáo tam phân tại vùng trồng ở Ninh Hòa, Khánh Hòa.

Điều khiến người dân quan tâm là hợp tác xã cung cấp cây giống, hướng dẫn chăm sóc và tổ chức thu mua nguyên liệu. Bà con có thêm người đồng hành trong sản xuất, giảm bớt lo lắng về giống và nơi tiêu thụ. Tuy nhiên, cây trồng mới cần có thời gian để đánh giá, nên chúng tôi bắt đầu từ những hộ tham gia trồng, chăm sóc, theo dõi khả năng thích nghi rồi mới tính chuyện mở rộng.

Tôi đã gắn bó với công việc ở thôn nhiều năm, hiểu bà con cần nhìn thấy việc làm cụ thể mới yên tâm làm theo. Bản thân mình phải tham gia, tìm hiểu cách trồng và trao đổi những điều đã biết. Khi người dân có thắc mắc, mình cùng hợp tác xã giải thích rõ, giúp bà con hiểu công việc trước khi quyết định.

Tôi mong cây dược liệu tạo thêm nguồn thu, giúp các gia đình chủ động hơn trong phát triển kinh tế. Việc liên kết cũng hướng đến giữ gìn cây xáo tam phân tại địa phương, để nguồn nguyên liệu được phát triển bằng hoạt động trồng, chăm sóc có tổ chức.

Để mô hình mang lại hiệu quả kinh tế, người dân cần thay đổi cách trồng và chăm sóc như thế nào, thưa ông?

Trước hết, bà con phải hiểu yêu cầu của cây dược liệu. Khi nhận giống, người trồng cần làm theo hướng dẫn, theo dõi cây và trao đổi với hợp tác xã nếu có vấn đề phát sinh. Mình không nên nghĩ rằng được hỗ trợ giống, có người thu mua thì có thể chăm sóc tùy ý. Chất lượng nguyên liệu còn phụ thuộc vào quá trình sản xuất của từng hộ.

Qua thời gian trồng, chúng tôi nhận thấy cây có khả năng thích nghi với điều kiện đất tại đây, kể cả những khu vực đất khô, có sỏi đá. Tuy nhiên, người dân vẫn phải chăm sóc và quan sát thực tế. Mỗi diện tích có điều kiện khác nhau, nên việc mở rộng cần dựa trên kết quả đã làm được.

Trong chăm sóc, mô hình chú trọng sử dụng chất hữu cơ. Bà con có thể tận dụng rơm, vật liệu thực vật mục để ủ thành phân, thực hiện theo hướng dẫn của đơn vị liên kết. Người trồng cần giữ đúng yêu cầu của vùng nguyên liệu, tránh tự ý sử dụng đầu vào làm ảnh hưởng chất lượng cây.

Một thay đổi nữa là bà con phải gắn việc trồng với nhu cầu thu mua. Trước đây, nhiều gia đình chủ yếu tính chuyện sản xuất trên phần đất của mình. Khi liên kết, người dân cần trao đổi về giống, cách chăm sóc, thu hoạch và giao nguyên liệu. Các hộ cùng thực hiện yêu cầu thì hợp tác xã mới thuận lợi tổ chức thu gom.

Theo tôi, muốn giúp bà con vươn lên, mô hình phải phù hợp với sức lao động và điều kiện từng gia đình. Những hộ làm trước cần chia sẻ kinh nghiệm, còn người mới tham gia phải được hướng dẫn. Chúng tôi mong việc phát triển cây dược liệu giúp người dân có thêm lựa chọn sinh kế, từng bước cải thiện đời sống.

Theo ông việc liên kết với hợp tác xã đã mở ra cơ hội tiêu thụ ra sao và ông mong muốn điều gì để bà con phát triển lâu dài?

Điều bà con quan tâm nhất là trồng rồi bán cho ai. Với mô hình này, hợp tác xã đầu tư cây giống và tổ chức thu mua nguyên liệu. Người dân tập trung chăm sóc, thực hiện yêu cầu sản xuất; hợp tác xã đảm nhận việc thu gom, phát triển sản phẩm và tìm thị trường.

Theo thông tin tôi nắm được, sản phẩm đã được giới thiệu, tiêu thụ tại TP Hồ Chí Minh, Hà Nội và Đắk Lắk. Chúng tôi mong thời gian tới sản phẩm có thể đến thêm các địa phương khác. Khi thị trường phát triển, người trồng sẽ có thêm cơ sở để duy trì và mở rộng vùng nguyên liệu.

baotintuc_tr_caysao10.png
Người dân đưa cây giống xuống đất, từng bước mở rộng vùng trồng dược liệu.

Tuy nhiên, việc mở rộng phải đi cùng khả năng tiêu thụ. Bà con cần được trao đổi rõ về yêu cầu nguyên liệu, thời điểm thu hoạch, cách giao nhận và thanh toán. Người dân hiểu được những việc này thì sẽ chủ động hơn, tránh trồng theo phong trào rồi gặp khó khi bán sản phẩm.

Tôi cũng mong hợp tác xã tiếp tục hỗ trợ kỹ thuật, theo dõi vùng trồng và cùng người dân giải quyết vướng mắc. Những hộ mới tham gia cần được hướng dẫn từ đầu; những hộ đã có kinh nghiệm có thể chia sẻ cách chăm sóc để mọi người cùng tiến bộ.

Đối với người có uy tín, trách nhiệm của mình là vận động trên cơ sở việc làm thực tế. Mình cần nói rõ điều kiện tham gia, lắng nghe những lo lắng của bà con và kết nối với đơn vị có trách nhiệm. Tôi mong mối liên kết được giữ lâu dài, để người dân yên tâm sản xuất, có thêm thu nhập và cùng bảo tồn cây dược liệu bản địa.

Bên cạnh hỗ trợ sinh kế, theo ông cần làm gì để bà con tiếp cận chính sách, pháp luật và chủ động thực hiện đúng quy định?

Theo tôi, việc tuyên truyền cần gần với những vấn đề người dân đang gặp. Bà con quan tâm đến đất đai, sản xuất, vay vốn, chính sách hỗ trợ và những thủ tục liên quan đến gia đình. Người tuyên truyền cần giải thích rõ nội dung, điều kiện và nơi liên hệ, giúp người nghe biết mình cần làm bước nào tiếp theo.

Các buổi tuyên truyền tập trung là cần thiết, nhưng cũng cần trao đổi trực tiếp với từng hộ. Gia đình nào chưa hiểu thì mình đến tận nhà, lắng nghe và giải thích lại bằng cách nói dễ hiểu. Người dân có điều kiện trình bày hoàn cảnh, còn người làm công tác vận động hiểu rõ vướng mắc để kết nối hỗ trợ phù hợp.

baotintuc_tr_cay-sao.png
Vùng trồng dược liệu được tổ chức theo luống, thuận tiện cho việc chăm sóc và theo dõi cây.

Với nội dung vượt khả năng giải thích, người có uy tín cần hướng dẫn bà con tìm đến cơ quan chuyên môn. Mình phải truyền đạt đúng thông tin, tránh nói theo suy đoán hoặc hứa những việc không thuộc thẩm quyền. Khi người dân cần tìm hiểu chính sách hỗ trợ sản xuất, mình giúp kết nối để họ được hướng dẫn cụ thể.

Tôi cho rằng muốn bà con tin thì bản thân phải làm gương. Trong sản xuất, mình thực hiện đúng những điều đã thống nhất với hợp tác xã. Trong đời sống, mình chấp hành quy định và giữ lời nói đi đôi với việc làm. Khi người dân thấy việc làm rõ ràng, họ sẽ dễ tiếp nhận hơn.

Phát triển kinh tế và hiểu biết pháp luật cần được thực hiện cùng nhau. Bà con biết quyền lợi, trách nhiệm của mình sẽ chủ động hơn khi tham gia liên kết, sử dụng đất và thực hiện chính sách. Tôi mong người dân vừa có sinh kế phù hợp, vừa có thông tin đúng để bảo vệ quyền lợi, ổn định cuộc sống và cùng xây dựng cộng đồng đoàn kết.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

Hoàng Tuyết/Báo Tin tức và Dân tộc
Dân tộc Ê Đê

Tên tự gọi: Anăk Ea Ðê, Ra Ðê (hay Rhađê), ê Ðê, êgar, Ðê.

Nhóm địa phương: Kpă, Adham, Krung, Mđhur, Ktul, Dliê, Hruê, Bih, Blô, Kah, Kdrao, Dong Kay, Dong Mak, Ening, Arul, Hwing, Ktlê, Êpan... 

Dân số: 331.194 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói của người Ê Đê thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô-Pôlinêxia (ngữ hệ Nam Ðảo).

Lịch sử: Người Ê Đê là cư dân đã có mặt lâu đời ở miền trung Tây Nguyên. Dấu vết về nguồn gốc hải đảo của dân tộc Ê Đê đã phản ánh lên từ các sử thi và trong nghệ thuật kiến trúc, nghệ thuật tạo hình dân gian. Cho đến nay, cộng đồng Ê Đê vẫn còn là một xã hội đang tồn tại những truyền thống đậm nét mẫu hệ ở nước ta.

Hoạt động sản xuất: Người Ê Đê chủ yếu trồng lúa rẫy theo chế độ luân khoảnh. Rẫy sau một thời gian canh tác thì bỏ hoá cho rừng tái sinh rồi mới trở lại phát, đốt. Chu kỳ canh tác khoảng từ 5-8 năm tuỳ theo chất đất và khả năng hồi phục của đất. Rẫy đa canh và mỗi năm chỉ trồng một vụ. Ruộng nước trâu quần chỉ có ít nhiều ở vùng Bih ven hồ Lắc.

Gia súc được nuôi nhiều hơn cả là lợn và trâu, gia cầm được nuôi nhiều là gà, nhưng chăn nuôi chủ yếu chỉ để phục vụ cho tín ngưỡng. Nghề thủ công gia đình phổ biến có nghề đan lát mây tre làm đồ gia dụng, nghề trồng bông dệt vải bằng khung dệt kiểu Inđônêdiêng cổ xưa. Nghề gốm và rèn không phát triển lắm. Trước đây việc mua bán, trao đổi bằng phương thức hàng đổi hàng.

Ăn: Người Ê Đê ăn cơm tẻ bằng cách nấu trong nồi đất nung hay nồi đồng cỡ lớn. Thức ăn có muối ớt, măng, rau, củ do hái lượm, cá, thịt, chim thú do săn bắn. Thức uống có rượu cần ủ trong các vò sành. Xôi nếp chỉ dùng trong dịp cúng thần. Nam nữ đều có tục ăn trầu cau.

Mặc: Trang phục truyền thống là phụ nữ quấn váy tấm dài đến gót, mùa hè thì ở trần hay mặc áo ngắn chui đầu. Nam giới thì đóng khố, mặc áo cánh ngắn chui đầu. Mùa lạnh, nam nữ thường choàng thêm một tấm mền. Ðồ trang sức có chuỗi hạt, vòng đồng, vòng kền đeo ở cổ và tay, chân. Nam nữ đều có tục cà răng-căng tai và nhuộm đen răng. Ðội đầu có khăn, nón.

Ở: Ðịa bàn cư trú chủ yếu hiện nay là tỉnh Ðắk Lắk, phía nam tỉnh Gia Lai và miền tây Phú Yên, Khánh Hòa. Ngôi nhà truyền thống của người Ê Đê là nhà sàn dài, kiến trúc mô phỏng hình thuyền với 2 đặc trưng cơ bản là: hai vách dọc dựng thượng thách - hạ thu; hai đầu mái nhô ra. Nhà chỉ có hai hàng cột ngang, kết cấu theo vì cột, không kết cấu theo vì kèo. Không gian nội thất chia ra làm hai phần theo chiều dọc. Phần đầu gọi là Gah, vừa là phòng khách, vừa là nơi sinh hoạt cộng đồng của cả đại gia đình mẫu hệ. Phần cuối gọi là ôk, dành cho các cặp hôn nhân ở trong từng buồng có vách ngăn bằng phên nứa.

Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu là gùi đan cõng trên lưng bằng đôi quai quàng qua vai. ở vùng Krông Băk phổ biến có loại gùi cao cẳng. Vận chuyển trên bộ thì có voi nhưng không phổ biến lắm.

Quan hệ xã hội: Gia đình Ê Đê là gia đình mẫu hệ, hôn nhân cư trú phía nhà vợ, con mang họ mẹ, con gái út là người thừa kế. Xã hội Ê Đê vận hành theo tập quán pháp truyền của tổ chức gia đình mẫu hệ. Cả cộng đồng được chia làm hai hệ dòng để thực hiện hôn nhân trao đổi. Làng gọi là buôn và là đơn vị cư trú cơ bản, cũng là tổ chức xã hội duy nhất. Người trong một buôn thuộc về nhiều chi họ của cả hai hệ dòng nhưng vẫn có một chi họ là hạt nhân. Ðứng đầu mỗi làng có một người được gọi là chủ bến nước (Pô pin ca) thay mặt vợ điều hành mọi hoạt động của cộng đồng.

Cưới xin: Người phụ nữ chủ động trong việc hôn nhân, nhờ mai mối hỏi chồng và cưới chồng về ở rể. Khi một trong hai người qua đời thì gia đình và dòng họ của người quá cố phải có người đứng ra thay thế theo tục "nối dòng" (chuê nuê) để cho người sống không bao giờ đơn lẻ, sợi dây luyến ái giữa hai dòng họ Niê và Mlô không có chỗ nào bị đứt theo lời truyền bảo của ông bà xưa.

Ma chay: Khi có người chết thì tục nối dòng phải được thực hiện. Người chết già và chết bệnh thì tang lễ được tổ chức tại nhà rồi đưa ra nghĩa địa thổ táng. Xưa kia có tục người trong một dòng họ chết trong một thời gian gần nhau thì các quan tài được chôn chung một huyệt. Vì quan niệm thế giới bên kia là sự tái hiện thế giới bên này nên người chết được chia tài sản đặt ở nhà mồ. Khi dựng nhà mồ, lễ bỏ mả được tổ chức linh đình, sau đó là sự kết thúc việc săn sóc vong linh và phần mộ.

Nhà mới: Việc làm nhà được cả làng quan tâm. Sự giúp đỡ lẫn nhau về nguyên vật liệu: gỗ, tre, nứa và tranh lợp cũng như ngày công thông qua hình thức gọi là H’rim zít (tổ chức "giúp công" lao động hay "đổi công" trong làng). Lễ khánh thành được tiến hành sau khi dựng xong hàng cây chân vách. Nhưng việc dọn lên nhà mới có thể được thực hiện trước đó một thời gian dài khi các điều kiện để khánh thành nhà chưa cho phép. Nữ giới là đoàn người đầu tiên được bước lên sàn nhà mới. Họ mang theo nước và lửa để sưởi ấm và tưới mát cho nơi cư trú mới mẻ này. Ðó là cách chúc phúc cho ngôi nhà và các thành viên của gia chủ. Dẫn đầu các thành viên nữ là một khoa sang – bà chủ của gia đình mẫu hệ.

Lễ Tết: Người Ê Đê ăn tết vào tháng chạp (tháng 12 lịch âm) khi mùa màng đã thu hoạch xong (không vào một ngày nhất định, tuỳ theo từng buôn). Sau tế ăn mừng cơm mới (hmạ ngắt) rồi mới đến tết (mnăm thun) ăn mừng vụ mùa bội thu. Ðó là tết lớn nhất, nhà giàu có khi mổ trâu, bò để cúng thần lúa; nhà khác thì mổ lợn gà. Vị thần lớn nhất là đấng sáng tạo Aê Ðiê và Aê Ðu rồi đến thần đất (yang lăn), thần lúa (yang mđiê) và các thần linh khác. Phổ biến quan niệm vạn vật hữu linh. Các vị thần nông được coi là phúc thần. Sấm, sét, giông bão, lũ lụt và ma quái được coi là ác thần. Nghi lễ theo đuổi cả đời người và lễ cầu phúc, lễ mừng sức khoẻ cho từng cá nhân. Ai tổ chức được nhiều nghi lễ này và nhất là những nghi lễ lớn hiến sinh bằng nhiều trâu, bò, chè quý (vò ủ rượu cần) thì người đó càng được dân làng kính nể.

Lịch: Nông lịch cổ truyền Ê Đê được tính theo tuần trăng: một năm có 12 tháng và được chia làm 9 mùa tương ứng với 9 công đoạn trong chu kỳ nông nghiệp rẫy: mùa phát rẫy, mùa đốt rẫy mới, mùa xới đất, mùa diệt cỏ... Mỗi tháng có 30 ngày.

Học: Việc học tập (học nghề, truyền bá kiến thức...) theo lối làm mẫu, bắt chước và nhập tâm, truyền khẩu. Ðến năm 1923 mới xuất hiện chữ Ê Đê theo bộ vần chữ cái La-tinh.

Văn nghệ: Có hình thức kể khan rất hấp dẫn. Về văn chương, khan là sử thi, trường ca cổ xưa; về hình thức biểu diễn là loại ngâm kể kèm theo một số động tác để truyền cảm. Về dân ca có hát đối đáp, hát đố, hát kể gia phả... Nền âm nhạc Ê Đê nổi tiếng ở bộ cồng chiêng gồm 6 chiêng bằng, 3 chiêng núm, một chiêng giữ nhịp và một trống cái mặt da. Không có một lễ hội nào, một sinh hoạt văn hoá nào của cộng đồng lại có thể vắng mặt tiếng cồng chiêng. Bên cạnh cồng chiêng là các loại nhạc cụ bằng tre nứa, vỏ bầu khô như các dân tộc khác ở Trường Sơn, Tây Nguyên, nhưng với ít nhiều kỹ thuật riêng mang tính độc đáo.

Chơi: Trẻ em thường thích chơi cù quay, thả diều vằng có sáo trúc. Trò chơi đi cà kheo trên cao nguyên cũng lôi cuốn không ít thiếu niên Ê Đê ở nhiều nơi. Trò bịt mắt dê, ném lao (ném xa và ném trúng mục tiêu cũng được nhiều trẻ em Ê Đê ưa thích.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Ê Đê

Có thể bạn quan tâm

Tuyên Quang chú trọng đầu tư các công trình hạ tầng có tính kết nối liên vùng

Tuyên Quang chú trọng đầu tư các công trình hạ tầng có tính kết nối liên vùng

Nhằm tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng và mở rộng không gian phát triển đến năm 2030, tỉnh Tuyên Quang đang tập trung đầu tư các công trình hạ tầng có tính kết nối liên vùng, tạo sức lan tỏa và dẫn dắt phát triển gắn với quy hoạch tỉnh và điều chỉnh quy hoạch tỉnh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Thái Nguyên đưa tuyến xe buýt điện đầu tiên vào hoạt động

Thái Nguyên đưa tuyến xe buýt điện đầu tiên vào hoạt động

Nhân kỷ niệm 195 năm thành lập tỉnh Thái Nguyên và Festival trà quốc tế - Thái Nguyên 2026, sáng 30/10, Công ty Cổ phần thương mại và du lịch Hà Lan đã tổ chức khai trương tuyến xe buýt điện số 01, kết nối Tân Long (Thái Nguyên) - Đa Phúc (Hà Nội).

Đưa tri thức số lên đỉnh Ngọc Linh

Đưa tri thức số lên đỉnh Ngọc Linh

Giữa đại ngàn Ngọc Linh, xã Trà Linh, thành phố Đà Nẵng, học sinh dân tộc Xơ Đăng đang từng bước tiếp cận máy tính, internet và những bài học trực quan.

Cây hồi mở hướng phát triển kinh tế vùng biên xứ Lạng

Cây hồi mở hướng phát triển kinh tế vùng biên xứ Lạng

Từ lâu, cây hồi đã gắn bó với người dân xứ Lạng. Mùa thu hoạch chính từ tháng 8 đến tháng 10 hàng năm. Đây là cây trồng chủ lực phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng của Lạng Sơn, cây hồi không chỉ phủ xanh đất mà còn đem lại nguồn thu nhập ổn định cho người dân địa phương.

Thay đổi cách làm để giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk

Thay đổi cách làm để giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk

Từ những mô hình hỗ trợ sinh kế thiết thực, nhiều hộ nghèo, cận nghèo tại các xã vùng biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk đã từng bước cải thiện thu nhập, ổn định cuộc sống. Qua đó, góp phần thay đổi nếp nghĩ, cách làm, tạo nền tảng để địa phương thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, đưa các xã, thôn, buôn ra khỏi diện đặc biệt khó khăn vào năm 2030.

Nông dân tự tin chuẩn hóa thương hiệu cho nông sản

Nông dân tự tin chuẩn hóa thương hiệu cho nông sản

Thay vì chỉ dừng lại ở việc tìm kiếm tương tác hay những đơn hàng nhỏ lẻ trên không gian mạng, nhiều nông dân tại Quảng Ninh đang tận dụng lợi thế từ các nền tảng số để từng bước chuẩn hóa quy trình sản xuất, xây dựng thương hiệu bài bản.

Gây dựng sinh kế xanh dưới tán rừng Hoàng Liên

Gây dựng sinh kế xanh dưới tán rừng Hoàng Liên

Nhằm gắn kết phát triển kinh tế với bảo tồn đa dạng sinh học, Vườn Quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai đã và đang nhân rộng các mô hình sinh kế khai thác khéo léo lợi thế tự nhiên tại khu vực vùng lõi và vùng đệm.