Ngày 15/4, Đoàn công tác của Hội đồng Dân tộc của Quốc hội do bà Đinh Thị Phương Lan, Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc làm Trưởng đoàn, đã đến thăm, chúc Tết cổ truyền Chôl Chnăm Thmây năm 2026 của đồng bào Khmer trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long.
Đoàn đến thăm, chúc Tết Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước tỉnh Vĩnh Long; chùa Kompong (phường Trà Vinh), Trường Trung cấp Pali-Khmer (phường Nguyệt Hóa), Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học phổ thông Trà Vinh (phường Long Đức); thăm các gia đình chính sách là người Khmer tiêu biểu trên địa bàn. Dịp này, Đoàn trao tặng 50 phần quà cho các vị chức sắc và người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc Khmer.
Phát biểu tại các điểm đến, Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc gửi lời chúc mừng năm mới đến các vị chức sắc, sư sãi, Achar và toàn thể đồng bào Khmer, chúc bà con đón Tết vui tươi, an lành, hạnh phúc.
Bà Đinh Thị Phương Lan nhấn mạnh, Tết cổ truyền Chôl Chnăm Thmây có ý nghĩa thiêng liêng, thể hiện bản sắc văn hóa đặc trưng và đời sống tinh thần phong phú của đồng bào Khmer; đồng thời là dịp tri ân tổ tiên, cầu mong mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Bà ghi nhận, đánh giá cao những đóng góp của đồng bào Khmer trong phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn bản sắc văn hóa, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đồng thời khẳng định vai trò quan trọng của các vị chức sắc, người có uy tín trong việc vận động đồng bào chấp hành chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, sống “tốt đời, đẹp đạo”, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng bền chặt.
Đoàn công tác chụp hình lưu niệm cùng Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước tỉnh Vĩnh Long và người có uy tín vùng đồng bào dân tộc Khmer.
Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc cho biết, thời gian qua, nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương, đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào Khmer không ngừng được nâng lên; các chương trình, chính sách dân tộc được triển khai hiệu quả, góp phần giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới. Nhân dịp năm mới, bà mong muốn đồng bào tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, giữ gìn và lan tỏa các giá trị văn hóa tốt đẹp, tích cực lao động sản xuất, chung tay xây dựng quê hương ngày càng phát triển.
Đảng, Nhà nước luôn đặc biệt quan tâm đến công tác giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú. Nhiều thế hệ lãnh đạo, cán bộ của các địa phương đã trưởng thành từ môi trường này, cho thấy vai trò quan trọng của nhà trường trong đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Bà Đinh Thị Phương Lan, Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, phát biểu tại Trường Trung cấp Pali-Khmer.
Theo bà Đinh Thị Phương Lan, trường phổ thông dân tộc nội trú không chỉ thực hiện nhiệm vụ dạy chữ mà còn có trách nhiệm giữ gìn, trao truyền các giá trị văn hóa truyền thống, bồi dưỡng tinh thần yêu nước, ý thức trách nhiệm với quê hương, đất nước cho học sinh. Đây là lực lượng nòng cốt để tiếp tục gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc và đóng góp cho sự phát triển của địa phương trong tương lai.
Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc đề nghị cấp ủy, chính quyền địa phương, ngành giáo dục tiếp tục quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng giảng dạy, chăm lo đội ngũ giáo viên và tạo điều kiện tốt nhất để học sinh dân tộc thiểu số được học tập, rèn luyện trong môi trường thuận lợi. Bà cũng mong muốn các thầy, cô giáo tiếp tục phát huy tinh thần trách nhiệm, thực hiện tốt sứ mệnh giáo dục, dìu dắt học sinh trưởng thành, trở thành những công dân có ích cho quê hương, đất nước.
Toàn tỉnh Vĩnh Long có gần 3,4 triệu dân, trong đó đồng bào Khmer chiếm hơn 10%. Tết Chôl Chnăm Thmây năm nay diễn ra trong 3 ngày, từ 14 đến 16/4/2026. Dịp này, tỉnh triển khai nhiều hoạt động thiết thực chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào Khmer.
Đoàn công tác tặng quà Trường Trung cấp Pali-Khmer.
Cũng trong 2 ngày 14 - 15/4, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Vĩnh Long đã tổ chức trao tặng 660 suất quà Tết cho hộ nghèo, hộ cận nghèo là đồng bào dân tộc Khmer trên địa bàn. Trước đó, từ nguồn Quỹ “Vì người nghèo” và nguồn vận động xã hội hóa gần 2,5 tỷ đồng, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Vĩnh Long đã trao gần 5.000 phần quà (trị giá 500.000 đồng/phần) cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn.
Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, UBND, Ủy bạn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Vĩnh Long tổ chức họp mặt hơn 800 đại biểu là cán bộ, người có uy tín, chức sắc, đồng bào Khmer tiêu biểu. Đồng thời, tỉnh thành lập nhiều đoàn thăm, chúc Tết tặng quà 156 chùa Phật giáo Nam tông Khmer, các cơ sở giáo dục- đào tạo và đơn vị nghệ thuật phục vụ đồng bào Khmer vui Tết …
Cùng với hoạt động thăm, tặng quà, địa phương còn tổ chức các chương trình văn hóa, văn nghệ, thể thao phù hợp với bản sắc dân tộc; tổ chức hoạt động khám, chữa bệnh miễn phí; tăng cường giữ vững an ninh trật tự, an toàn xã hội; bảo đảm cung ứng điện, nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất, nhất là tại các địa bàn có đông đồng bào Khmer sinh sống.
Tết Chôl Chnăm Thmây không chỉ là dịp để đồng bào Khmer vui Xuân, đón năm mới mà còn thể hiện tinh thần đoàn kết, gắn bó cộng đồng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc./.
Tên tự gọi: Người Khmer.
Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.
Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.
Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.
Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).
Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.
Ở: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.
Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.
Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.
Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.
Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.
Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.
Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.
Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.
Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.
Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.
Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).
Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.
Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.
Theo cema.gov.vn