Phụ nữ dân tộc thiểu số thích ứng với công nghệ số

Việc người dân tộc thiểu số tiếp cận với điện thoại thông minh, Internet và mạng xã hội không chỉ là một thay đổi công nghệ đơn thuần, mà là sự khởi đầu cho nhiều chuyển biến xã hội sâu sắc.

Khi công nghệ số len lỏi vào các bản làng vùng cao, nó dần góp phần định hình lại cách người dân tộc thiểu số giao tiếp, kết nối, tiếp cận thông tin, học tập, mưu sinh và thậm chí là nhận thức về bản thân và cộng đồng. Mạng xã hội trở thành cầu nối giữa “bên trong” và “bên ngoài”, giữa truyền thống và hiện đại, giữa cá nhân và tập thể.

phu-nu-dan-toc-thieu-so.jpg
Các phụ nữ dân tộc thiểu số áp dụng công nghệ 4.0 trong kết nối phục vụ sản xuất kinh doanh tại một Diễn đàn. Ảnh tư liệu: Anh Tuấn/TTXVN

Đặc biệt, với nhóm phụ nữ dân tộc thiểu số, vốn chịu nhiều thiệt thòi về vị thế và cơ hội, không gian mạng đang tạo nên những thay đổi đầy bất ngờ: từ kinh tế hộ, vai trò giới cho đến cách ứng xử với các mối quan hệ xã hội và gia đình.

Góp phần tìm kiếm thông tin, phát triển sinh kế

Tại xã Y Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, nơi sinh sống tập trung của đồng bào Hà Nhì, mạng xã hội đang từng bước len lỏi vào đời sống hàng ngày của phụ nữ dân tộc thiểu số. Từ việc chỉ sử dụng điện thoại để liên lạc, phụ nữ nơi đây đã dần làm quen với các nền tảng như Facebook, Zalo, WeChat và YouTube để kết nối, tìm kiếm thông tin và phát triển sinh kế.

Qua nghiên cứu thực địa, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Bùi Thị Bích Lan, Phó Viện trưởng Viện Dân tộc học và Tôn giáo, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam nhận định, mạng xã hội không chỉ giúp phụ nữ Hà Nhì mở rộng phạm vi giao tiếp, tiếp cận kiến thức về chăm sóc con cái, sức khỏe, làm đẹp, mà còn tạo điều kiện để họ chủ động hơn trong kinh tế gia đình. Nhiều người đã sử dụng mạng xã hội để quảng bá, rao bán thổ cẩm, nông sản, dược liệu hoặc dịch vụ homestay. Những hình thức này tuy quy mô nhỏ nhưng góp phần tăng thu nhập và giúp phụ nữ tự tin hơn trong vai trò xã hội.

Tuy nhiên, Tiến sỹ Bùi Thị Bích Lan cũng cho rằng bên cạnh lợi ích rõ rệt, mạng xã hội đồng thời đặt ra nhiều thách thức. Một số phụ nữ trẻ bị ảnh hưởng bởi các hình mẫu lý tưởng hóa trên mạng, dẫn tới tâm lý so sánh, mặc cảm, áp lực tinh thần. Không ít người thiếu kỹ năng số và nhận diện rủi ro mạng nên dễ bị dụ dỗ, lừa đảo hoặc sa vào các mối quan hệ không lành mạnh.

Đáng lưu ý, trong bối cảnh nhiều phụ nữ làm mẹ đơn thân hoặc có chồng đi làm xa, mạng xã hội còn là nơi họ tìm kiếm sự chia sẻ, kết nối tinh thần. Các nhóm cộng đồng trực tuyến như “Mẹ đơn thân Hà Nhì”, “Không gục ngã”, “Phụ nữ vùng cao yêu thương nhau” đang hình thành như một cách để phụ nữ tự hỗ trợ nhau trong cuộc sống.

Từ những quan sát thực tế, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Bùi Thị Bích Lan đề xuất cần tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng số phù hợp với trình độ của phụ nữ vùng cao; lồng ghép nội dung giáo dục giới, phòng tránh rủi ro mạng vào các chương trình truyền thông cơ sở; đồng thời gắn kết mạng xã hội với các mô hình sinh kế bản địa để tạo điều kiện cho phụ nữ khởi nghiệp, phát triển kinh tế gắn với bảo tồn văn hóa.

Nếu được hỗ trợ đúng hướng, mạng xã hội sẽ không chỉ là công cụ thông tin mà còn là phương tiện giúp phụ nữ dân tộc thiểu số khẳng định vị trí, vai trò và đóng góp nhiều hơn cho cộng đồng.

Tăng cường giáo dục kỹ năng số

Nghiên cứu nhân học thực hiện tại bản Văng Môn, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An, nơi cư trú của cộng đồng người Ơ-đu đã làm rõ những chuyển biến sâu sắc trong đời sống xã hội của tộc người này khi tiếp cận với điện thoại thông minh, Internet và mạng xã hội. Đây là một trong những dân tộc có dân số ít nhất Việt Nam, nhưng lại điển hình cho quá trình thích ứng mạnh mẽ với công nghệ số trong điều kiện tái định cư và hội nhập.

Theo ghi nhận từ nghiên cứu của Tiến sỹ Bùi Minh Hảo, Khoa Nhân học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, việc tiếp cận với mạng di động, 3G, 4G và Wifi từ năm 2006 đến nay đã mở ra không gian giao tiếp, học tập và mưu sinh hoàn toàn mới cho người Ơ-đu. Thanh niên và phụ nữ Ơ-đu sử dụng mạng xã hội như một phần không thể thiếu trong đời sống hàng ngày: từ gọi điện video, gửi ảnh, cập nhật thông tin, cho đến kinh doanh online…

Nhiều cá nhân đã biết tận dụng mạng xã hội để mở cửa hàng trực tuyến bán đặc sản vùng cao… Một số người khác dùng mạng xã hội để kết nối với khách hàng, quảng bá du lịch cộng đồng hoặc tìm kiếm cơ hội làm việc tại các thành phố lớn. Các hình thức giao tiếp mới qua video call, mạng xã hội cũng giúp gắn kết gia đình trong bối cảnh lao động di cư ngày càng phổ biến.

Trường hợp như chị Lo Thị Mỹ, từ chỗ không biết sử dụng mạng xã hội, nay đã sở hữu một tài khoản Facebook có hơn 5.000 bạn bè, điều hành một cửa hàng online và trở thành trụ cột kinh tế của gia đình. Hay như chị Lo Thị Chín, làm việc xa con, nhưng vẫn duy trì tình cảm gia đình qua các cuộc gọi video mỗi tối, cho thấy mạng xã hội đang đóng vai trò như một “cây cầu kết nối” mới trong đời sống người Ơ-đu.

Nghiên cứu cũng nhận diện rõ rủi ro: Khi người Ơ-đu tiếp cận mạng mà thiếu kỹ năng, họ có thể bị dẫn dụ vào các trào lưu không phù hợp, tiêu dùng lãng phí hoặc mất cảnh giác với thông tin giả mạo. Tuy vậy, điều đáng ghi nhận là sự chủ động của người dân trong việc khai thác công nghệ để thích nghi chứ không hoàn toàn bị động tiếp nhận.

Qua quá trình nghiên cứu tại địa phương, Tiến sỹ Bùi Minh Hảo đề xuất, cần tiếp tục cải thiện hạ tầng mạng tại vùng sâu, vùng tái định cư; phát triển chương trình hỗ trợ sinh kế số gắn với đặc thù văn hóa dân tộc; tăng cường giáo dục kỹ năng số cơ bản, bảo vệ người dùng mạng xã hội tại các vùng dân tộc thiểu số. Mạng xã hội đang định hình một “không gian sống mới” nơi truyền thống và hiện đại không loại trừ nhau, mà hòa quyện và đồng hành, giúp người Ơ-đu tự tin bước vào tiến trình hội nhập xã hội trên cơ sở giữ gìn bản sắc./.

Lý Thanh Hương/TTXVN

Có thể bạn quan tâm

Phương án nghỉ hưu cho người lao động ở vùng đặc biệt khó khăn

Phương án nghỉ hưu cho người lao động ở vùng đặc biệt khó khăn

Bạn đọc hỏi: Tôi là thầy giáo 48 tuổi, đã đóng BHXH bắt buộc 25 năm 5 tháng, trong đó có 8 năm công tác ở vùng đặc biệt khó khăn. Do sức khỏe không ổn định nên tôi muốn nghỉ việc để chuyển sang công việc khác. Xin hỏi, nếu không đóng tiếp BHXH thì đợi đến năm 62 tuổi mới nhận được lương hưu, thì mức lương hưu hằng tháng được tính như thế nào? Thời gian công tác ở vùng đặc biệt khó khăn là 8 năm có được tính để nghỉ hưu sớm hay không?

Hiểu tiếng đồng bào, thấu lòng dân

Hiểu tiếng đồng bào, thấu lòng dân

Tại các xã miền núi tỉnh Quảng Ngãi - nơi quy tụ đồng bào của 44 dân tộc thiểu số cùng chung sống, rào cản ngôn ngữ từng là khó khăn lớn trong công tác tiếp xúc, giải quyết công việc của đội ngũ cán bộ, chiến sĩ và giáo viên công tác tại cơ sở.

Điện Biên xây dựng môi trường giáo dục số

Điện Biên xây dựng môi trường giáo dục số

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong dạy học, tỉnh Điện Biên đang từng bước xây dựng môi trường giáo dục số. Công nghệ không chỉ làm cho bài học trực quan, sinh động hơn mà còn hỗ trợ đổi mới phương pháp giảng dạy và công tác quản lý nhà trường. Ghi nhận tại Trường Tiểu học và THCS Mường Thanh, phường Mường Thanh.

Phổ biến Bộ Quy tắc ứng xử văn hóa trên môi trường mạng

Phổ biến Bộ Quy tắc ứng xử văn hóa trên môi trường mạng

Ngày 28/9, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai tổ chức Hội nghị tuyên truyền, phổ biến Bộ Quy tắc ứng xử văn hóa trên môi trường mạng và các quy định của pháp luật về quản lý, cung cấp, sử dụng thông tin trên mạng năm 2026.

Bảo tồn nguồn gen, mở rộng chăn nuôi gà sáu ngón Mẫu Sơn

Bảo tồn nguồn gen, mở rộng chăn nuôi gà sáu ngón Mẫu Sơn

Gà sáu ngón là con nuôi bản địa quý đã gắn bó lâu đời với người dân xã Mẫu Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Đây là giống gà có giá trị dinh dưỡng và đem lại thu nhập cao, được bà con dân tộc Dao, Tày, Nùng nuôi rải rác ở vùng núi cao Mẫu Sơn.

Lào Cai tăng cường quản lý đất đai, môi trường

Lào Cai tăng cường quản lý đất đai, môi trường

Sau sự việc cơ sở đốt than củi gây ô nhiễm, xã Đông Cuông, tỉnh Lào Cai rà soát toàn bộ 15 cơ sở sản xuất than củi quế, siết chặt quản lý đất đai, xây dựng và môi trường; yêu cầu hoàn thiện thủ tục pháp lý, hệ thống xử lý khí thải trước khi hoạt động trở lại.

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Ở vùng biên giới Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên, nơi điều kiện tiếp cận công nghệ của người dân còn hạn chế, những người lính Đồn Biên phòng Nậm Nhừ đang tìm cách đưa thông tin chính thống và kỹ năng số đến gần hơn với từng bản làng. Từ những chiếc điện thoại, mã QR đến loa truyền thanh di động, họ đang trở thành những “người lính truyền thông số”, giúp bà con chủ động hơn trong tiếp cận thông tin và bảo vệ mình trên không gian mạng.

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Thực hiện chủ trương sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục công lập, năm học 2026-2027, hệ thống trường học trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk bước vào giai đoạn vận hành theo mô hình mới. Toàn tỉnh giảm 642/1.267 cơ sở giáo dục, tương đương 50,7%. Quy mô mạng lưới thay đổi kéo theo những thay đổi lớn về tổ chức, đội ngũ và phương thức quản lý. Những ngày đầu vận hành cho thấy, các trường cơ bản bảo đảm việc dạy và học; đồng thời bắt đầu nhận diện những thuận lợi, khó khăn và từng bước điều chỉnh cách quản trị để phù hợp với mô hình mới.