Rộn ràng thi công trường học mới trên đại ngàn Trường Sơn

Giữa núi rừng biên giới Việt - Lào, trong cái nắng bỏng rát của mùa hè, hàng trăm đôi tay đang hối hả, khẩn trương xây dựng trên công trình Trường Phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở Đắc Pring (xã Đắc Pring, thành phố Đà Nẵng). Chỉ còn chưa đầy hai tháng nữa, khi bắt đầu năm học mới, nơi đây sẽ là một trường học to đẹp, đầy đủ tiện nghi chào đón học sinh dân tộc Giẻ Triêng, Cơ Tu…

Nụ cười những người lính thợ

truong-lien-cap-1.jpg
Dân quân địa phương trên công trường xây dựng. Ảnh: Anh Dũng/TTXVN

Thành phố Đà Nẵng bắt đầu khởi công xây dựng 6 trường học nội trú liên cấp từ cuối năm 2025. Tuy nhiên, những tháng đầu năm 2026, thời tiết trên miền núi, nhất là tại xã Đắc Pring liên tục có mưa to khiến công tác thi công xây dựng gặp nhiều khó khăn. Từ khoảng hai tháng nay, tranh thủ thời tiết thuận lợi, công trình đang được đẩy nhanh tiến độ thi công, với khoảng 300 người làm việc mỗi ngày. Ngoài Ban quản lý, công nhân các nhà thầu, còn có nhiều lực lượng vũ trang tham gia xây dựng trực tiếp như: Sư đoàn 315 (Quân khu V), Ban Chỉ huy Phòng thủ khu vực 5 - Điện Bàn, Đồn Biên phòng Đắc Pring, dân quân địa phương…

Dân quân địa phương trên công trường xây dựng. Ảnh: Anh Dũng/TTXVN

Dân quân địa phương trên công trường xây dựng. Ảnh: Anh Dũng/TTXVN

Sinh ra và lớn lên trong gia đình làm nông tại tỉnh Đắk Lắk, chàng thanh niên 21 tuổi Nguyễn Nhật Minh ra nhập môi trường quân đội, với mong muốn cống hiến tuổi trẻ cho đất nước. Minh cùng hàng chục cán bộ, chiến sỹ thuộc Sư đoàn Bộ binh 315 (Quân khu V) được điều động lên xã biên giới Đắc Pring để xây trường học. Tạm rời vũ khí, đôi tay người lính trẻ lại thoăn thoắt vác gạch, trộn vữa, xây tường…

Nguyễn Nhật Minh chia sẻ: “Việc thi công gặp nhiều trở ngại vì thời tiết mưa nắng thất thường. Tuy nhiên, tình quân dân đoàn kết, sự phối hợp nhịp nhàng giữa các đơn vị đã giúp công trình được đẩy nhanh tiến độ. Bản thân tôi trước đây rất thích làm công tác thiện nguyện nên lần này rất vinh dự và hạnh phúc khi được đơn vị điều động đi hỗ trợ xây trường, góp phần giúp thiếu nhi vùng cao sớm được học trong ngôi trường mới".

Chiến sĩ Sư đoàn 315 (Quân khu V) cùng các lực lượng vũ trang trực tiếp tham gia hỗ trợ xây dựng, thắt chặt tình đoàn kết quân dân nơi biên giới. Ảnh: Anh Dũng/TTXVN

Chiến sĩ Sư đoàn 315 (Quân khu V) cùng các lực lượng vũ trang trực tiếp tham gia hỗ trợ xây dựng, thắt chặt tình đoàn kết quân dân nơi biên giới. Ảnh: Anh Dũng/TTXVN

Công trình Trường Phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở Đắc Pring gồm có 6 khối nhà đang đồng loạt được xây dựng. Các khối nhà đều được đổ bê tông sàn tầng 2 và đang tiếp tục vươn cao. Trên tòa nhà chính, hàng chục thanh niên dân quân đang hối hả buộc sắt, lắp ván khuôn để đổ bê tông. Giữa tiếng máy móc thi công hối hả, thỉnh thoảng lại rộ lên những tiếng cười giòn tan của những người lính thợ trên công trường vùng cao.

Dự án Trường PTNT liên cấp Tiểu học và THCS Đắc Pring có tổng mức đầu tư trên 288 tỷ đồng, với diện tích quy hoạch hơn 60.800m². Ảnh: Anh Dũng/TTXVN

Dự án Trường PTNT liên cấp Tiểu học và THCS Đắc Pring có tổng mức đầu tư trên 288 tỷ đồng, với diện tích quy hoạch hơn 60.800m². Ảnh: Anh Dũng/TTXVN

Anh Nguyễn Đình Nghĩa, dân quân thường trực thuộc Ban Chỉ huy Phòng thủ khu vực 5 - Điện Bàn (thành phố Đà Nẵng) cho biết, hành quân lên làm nhiệm vụ tại biên giới sẽ có nhiều khó khăn về nơi ăn ở, thời tiết và công việc cũng nặng nhọc hơn. Tuy nhiên, tất cả đồng đội đều quyết tâm rất cao để cùng các đơn vị khác và công nhân của nhà thầu thực hiện hiệu quả công việc, hoàn thành công trình đúng tiến độ, kịp cho năm học mới.

Vượt nắng, thắng mưa, quyết tâm về đích đúng hạn

Chiến sĩ Sư đoàn 315 (Quân khu V) cùng các lực lượng vũ trang trực tiếp tham gia hỗ trợ xây dựng, thắt chặt tình đoàn kết quân dân nơi biên giới. Ảnh: Anh Dũng/TTXVN

Chiến sĩ Sư đoàn 315 (Quân khu V) cùng các lực lượng vũ trang trực tiếp tham gia hỗ trợ xây dựng, thắt chặt tình đoàn kết quân dân nơi biên giới. Ảnh: Anh Dũng/TTXVN

Theo Trung tá Nguyễn Hữu Nhứt, Phó Chính ủy Ban Chỉ huy Phòng thủ khu vực 5 - Điện Bàn (thành phố Đà Nẵng), ngay sau khi được Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố phân công nhiệm vụ tăng cường đi xây trường học, đơn vị đã xác định đây là nhiệm vụ chính trị cao cả, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với đồng bào dân tộc thiểu số tại miền núi, vùng biên giới. Đơn vị đã điều động hai đợt, tổng cộng hơn 50 cán bộ, chiến sỹ cơ động tới xã Đắc Pring để phối hợp với nhà thầu và các lực lượng xây dựng trường. Sau khoảng hai tháng tham gia xây dựng, các quân nhân đã thành thục từ khâu làm sắt, đổ bê tông đến tô trát tường, nỗ lực vượt nắng, thắng mưa, làm ngày, làm đêm để hoàn thành nhiệm vụ.

Dân quân địa phương trên công trường xây dựng. Ảnh: Anh Dũng/TTXVN

Dân quân địa phương trên công trường xây dựng. Ảnh: Anh Dũng/TTXVN

Nhìn ngắm ngôi trường dần hình thành mỗi ngày, bà Zơ Râm Thị Hai, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Đắc Pring cho biết, thời gian qua, Ban quản lý, các lực lượng vũ trang và chính quyền địa phương phối hợp rất tốt để đẩy nhanh tiến độ, đạt mục tiêu bàn giao đưa vào sử dụng đúng theo kế hoạch. Ngoài công tác xây dựng hạ tầng, nguồn nhân lực cũng được Ban Thường vụ Đảng ủy xã quan tâm. Đến nay, xã đã lựa chọn, quyết định bố trí bộ máy lãnh đạo, quản lý của nhà trường gồm 1 Hiệu trưởng và 3 Phó Hiệu trưởng. Địa phương phối hợp với phụ huynh rà soát, vận động các em đến trường, nhất là trẻ chuẩn bị vào lớp 1. Các công tác chuẩn bị được thực hiện khẩn trương, gấp rút, đúng quy định để có thể vận hành ngôi trường mới từ đầu năm học 2026-2027 theo đúng chủ trương của Trung ương và thành phố Đà Nẵng.

Chiến sĩ Sư đoàn 315 (Quân khu V) cùng các lực lượng vũ trang trực tiếp tham gia hỗ trợ xây dựng, thắt chặt tình đoàn kết quân dân nơi biên giới. Ảnh: Anh Dũng/TTXVN

Chiến sĩ Sư đoàn 315 (Quân khu V) cùng các lực lượng vũ trang trực tiếp tham gia hỗ trợ xây dựng, thắt chặt tình đoàn kết quân dân nơi biên giới. Ảnh: Anh Dũng/TTXVN

Dự án Trường Phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở Đắc Pring có tổng mức đầu tư 288,711 tỷ đồng, với diện tích quy hoạch hơn 60.800 m². Trường có nhiều hạng mục như: Xây mới 2 khối lớp học 3 tầng; xây mới khối hiệu bộ 3 tầng; xây mới khối nhà ăn 1 tầng, khối nhà đa năng 1 tầng, khối nội trú học sinh 3 tầng và khối nhà ở giáo viên, nhân viên 3 tầng, các hạng mục thiết yếu cần thiết hiện đại, đảm bảo phù hợp điều kiện nhu cầu giáo dục của địa phương. Sau khi hoàn thiện, ngôi trường mới được kỳ vọng sẽ là nơi gieo con chữ, thắp sáng ước mơ và hiện thực hóa khát vọng, biểu tượng của tinh thần đại đoàn kết dân tộc, là tình cảm, trách nhiệm của Đảng và Nhà nước, của nhân dân đối với đồng bào dân tộc thiểu số vùng biên cương của Tổ quốc./.

Dân tộc Cơ Tu

Tên tự gọi: Cơ Tu.

Tên gọi khác: Ca Tu, Ka Tu.

Dân số: 61.588 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), gần gũi với tiếng Tà Ôi, Bru - Vân Kiều. Chữ viết ra đời từ thời kỳ trước năm 1975, trên cơ sở dùng chữ La-tinh để phiên âm, nhưng nay ít người sử dụng.

Lịch sử: Người Cơ Tu cư trú lâu đời ở miền núi tây bắc tỉnh Quảng Nam, tây nam tỉnh Thừa Thiên Huế, liền khoảnh với địa bàn phân bố tộc Cơ Tu bên Lào. Họ thuộc số cư dân cư trú lâu đời ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên.

Hoạt động sản xuất: Làm rẫy là chính, canh tác theo lối phát cây bằng rìu và dao quắm, rồi đốt, sau đó dùng gậy chọc lỗ để tra hạt giống, làm cỏ bằng cái nạo có lưỡi sắt uốn cong, tuốt lúa bằng tay. Rẫy đa canh, xen canh và cứ sau vài vụ lại bỏ hoá một thời gian dài trước khi canh tác tiếp. Mỗi năm chỉ gieo trồng một vụ.

Vật nuôi chủ yếu là trâu, lợn, chó, gà. Song, nguồn thực phẩm hàng ngày chủ yếu do hái lượm, săn bắn và đánh bắt cá đưa lại. Nghề thủ công chỉ có dệt vải và làm gốm (đồ đất nung) ở một số nơi phía giáp biên giới Việt - Lào; riêng đan lát phát triển rộng khắp. Kinh tế hàng hoá hạn hẹp, hình thức trao đổi vật đến nay vẫn thông dụng.

Phương tiện vận chuyển: Gùi đeo sau lưng nhờ đôi quai quàng vào hai vai. Có loại gùi đan dày, gùi đan thưa, với các cỡ thích hợp với người dùng. Ðàn ông có riêng loại gùi ba ngăn (gùi cánh dơi).

Ăn: Người Cơ Tu thường ngày ăn cơm tẻ, ngày lễ hội có thêm cơm nếp. Ăn bốc là tập quán cổ truyền. Họ thích các món nướng, ướp và ủ trong ống tre, uống nước lã (nay nhiều người đã dùng nước chín), rượu mía, rượu tà-vạk (chế từ một loại cây rừng, họ dừa) và rượu làm từ gạo, sắn v.v... Họ hút thuốc lá bằng tẩu.

Mặc: Người Cơ Tu ưa chuộng nhất bộ y phục bằng vải dệt nền đen có hoa văn bằng chì, thứ đến hoa văn bằng cườm trắng. Ðàn ông quấn khố, thường ở trần. Ðàn bà mặc váy ống. Nếu váy dài thì che từ ngực trở xuống, nếu váy ngắn thì thân trên mặc áo không ống tay; ngày lễ hội có thêm thắt lưng nền trắng mộc. Loại vải tấm lớn dùng để choàng, quấn và đắp.

: Người Cơ Tu sống tập trung ở các huyện Hiên, Giằng (tỉnh Quảng Nam) và các huyện Phú Lộc, A Lưới (Thừa Thiên Huế). Họ ở nhà sàn, mái uốn khum ở hai hồi tựa dáng mai rùa. Ðầu đốc nhà thường nhô lên một đoạn khau cút đơn giản. Trước kia trong nhà có nhiều cặp vợ chồng và con gái cùng sinh sống, thường là các gia đình của những anh em trai với nhau. Toàn bộ nhà ở trong làng dựng thành một vòng, quây quanh khoảng trống ở giữa. Mỗi làng có ngôi nhà chung gọi là Gươl, cao lớn và đẹp nhất. Ðó là nơi hội họp và sinh hoạt công cộng.

Người Cơ-tu xem Gươl như biểu tượng của tình đoàn kết cộng đồng. Ảnh Khánh Nguyên.jpg
Người Cơ-tu xem Gươl như biểu tượng của tình đoàn kết cộng đồng. Ảnh Khánh Nguyên

Quan hệ xã hội: Quan hệ cộng đồng dân làng khá chặt chẽ. Làng là một đơn vị dân cư trên một địa vực nhất định và riêng biệt, tự quản dựa vào tập tục, đứng đầu là ông "già làng" được nể trọng. Sự phân hoá xã hội chưa sâu sắc. Gia tài được xác định bằng chiêng ché, trâu, đồ đeo trang sức, vải.

Cưới xin: Nhà trai phải tốn của cải nộp cho nhà gái và tổ chức cưới. Việc lấy vợ phải trải qua các bước nghi thức: Hỏi, đính hôn, lễ cưới và sau này, khi đã khá giả thường tổ chức thêm lễ cưới lần nữa. Phổ biến hình thức con trai cô lấy con gái cậu, vợ goá lấy anh hoặc em chồng quá cố. Quan hệ hôn nhân một chiều: Nếu nhà A đã gả con gái cho nhà B thì nhà B không được gả con gái cho nhà A. Trước kia những người giàu thích tổ chức "cướp vợ".

Sinh đẻ: Người phụ nữ đẻ trong chòi dựng sau nhà hoặc đẻ ngay cạnh bếp lửa trong nhà, có vài phụ nữ giúp. Cái nhau bỏ vào vỏ bầu hoặc gói bằng vải, lá chuối chôn ở phía sau nhà. Sau 3 - 4 ngày hoặc một tuần sản phụ có thể đi làm. Qua vài ba tháng mới đặt tên cho đứa bé.

Ma chay: Quan tài độc mộc bằng loại gỗ tốt được chôn kín hoặc không lấp đất. Nhà khá giả thì quàn tử thi dài ngày hơn, đám ma có mổ trâu, nhà mồ làm bằng gỗ đẹp, cầu kỳ, có nhiều hình trang trí đẽo tạc và vẽ. Người Cờ Tu có tục "dồn mồ". Sau ít năm mai táng, khi tang gia đã chuẩn bị đủ điều kiện kinh tế, phải tập trung hài cốt của tang gia trong làng cùng tiến hành một ngày.

Thờ cúng: Trong đời sống cá nhân, gia đình và của làng, có rất nhiều lễ cúng gắn với sản xuất, sức khoẻ... Lễ cúng nhỏ chỉ cần tế bằng gà, thậm chí dùng trứng gà; lớn hơn thì dùng lợn; cao hơn nữa là dùng trâu; xưa kia cao nhất dùng máu người. Theo người Cờ Tu, đối với các siêu nhiên, máu con vật hiến sinh quan trọng đặc biệt. Làng có thể có vật "thiêng" (thường là hòn đá) được cất giữ ở ngôi nhà chung, như một thứ bùa. Một số cá nhân cũng có loại bùa này.

Lễ tết: Lớn hơn cả là lễ đâm trâu (của làng cũng như của từng nhà), lễ "dồn mồ". Ăn tết theo làng, vào khoảng Tháng Giêng, Tháng Hai dương lịch, sau mùa tuốt lúa, trước hết có các nghi lễ cúng quải tại nhà và nhà công cộng. Tết cũng là dịp ăn uống và đón tiếp khách vui vẻ. Nay nhiều nơi tổ chức Tết vào dịp tết Nguyên đán.

COTU2.jpg
Đồng bào Cơ Tu trong ngày hội. Ảnh: Khánh Nguyên

Lịch: Người Cơ Tu tính ngày trong tháng theo chu kỳ thay đổi hình dạng của mặt trăng. Căn cứ vào đó để họ đặt tên cho từng ngày. Cho nên, có những ngày cùng một tên gọi. Theo kinh nghiệm và quan niệm dân gian, có ngày trồng sắn, khoai sẽ nhiều củ; có ngày trồng cà, ớt sẽ sai quả; có ngày nên dựng nhà, cưới hỏi...

Văn nghệ: Người Cơ Tu có nhiều truyện cổ kể về sự tích, về xã hội con người, về sự phát sinh các dòng họ... Trong lễ hội thường trình diễn múa tập thể: nữ múa Dạ dạ, nam múa Ting tung. Nhạc cụ thường thấy là bộ chiêng 3 chiếc, cồng 1 chiếc, trống, sáo, đàn, nhị. Phụ nữ tài nghệ trong việc dệt các đồ án hoa văn bằng sợi màu trang trí với các hoạ tiết hình học phân bố và kết hợp khéo léo, chì và cườm trên vải. Nam giỏi trong điêu khắc trang trí ở nhà mồ, nhà công cộng, với những hình đầu trâu, chim, rắn, thú rừng, gà... cũng như trong việc vẽ hoa văn trang trí trên cây cột buộc con trâu tế. Người Cờ Tu có những điệu hát riêng của mình.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Cơ Tu
Dân tộc Gié-Triêng

Tên tự gọi: Mỗi nhóm có tên tự gọi riêng như Gié, Triêng, Ve, Bnoong.

Tên gọi khác: Cà Tang, Giang Rẫy.

Nhóm địa phương: Gié (Giẻ), Triêng (T’riêng), Ve, Bnoong (Mnoong). Nhóm Gié đông hơn cả.

Dân số: 50.962 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), tương đối gần gũi với tiếng Xơ Ðăng, Ba Na. Giữa các nhóm tiếng nói có những sự khác nhau nhất định. Chữ viết hình thành trong thời kỳ trước năm 1975, cấu tạo bộ vần bằng chữ cái La-tinh.

Lịch sử: Người Gié-Triêng là cư dân gắn bó rất lâu đời ở vùng quanh quần sơn Ngọc Linh.

Hoạt động sản xuất: Họ làm rẫy là chính. Xưa trồng nhiều lúa nếp, nay lúa tẻ giữ vị trí chủ đạo, gồm nhiều giống khác nhau. Cách thức canh tác như ở các dân tộc miền núi khác trong vùng. Công cụ chủ yếu gồm rìu và dao quắm để phát, gậy đẽo nhọn đầu hoặc có mũi sắt để chọc lỗ khi gieo trỉa, cái cuốc con có cán là đoạn chạc cây để làm cỏ. Tất cả cây trồng đều ở rẫy, ngoài lúa còn có ngô, sắn, bo bo, kê, khoai lang, khoai môn, bầu bí, dưa, thuốc lá, bông, mía, chuối... Vật nuôi phổ biến là gà, lợn, chó, trâu, chỉ khi dùng vào việc cúng tế mới mổ thịt. Nguồn thức ăn kiếm được nhờ hái lượm, săn bắn và đánh bắt cá đóng vai trò quan trọng. Người Gié-Triêng có sở trường về đan lát, nghề dệt vải phát triển ở nhiều nơi, vùng Ðắc Pét có truyền thống đãi vàng sa khoáng và làm đồ gốm ở trình độ chưa biết dùng bàn xoay và chưa biết xây lò nung. Quan hệ hàng hoá trước kia dùng vật đổi vật, nay đã dùng tiền.

Ăn: Mỗi ngày người Gié-Triêng ăn 3 bữa (sáng, trưa, tối). Họ ưa thích các món nướng đối với cá, thịt. Canh cũng là món thường có trong các bữa cơm. Tập quán ăn bốc tồn tại lâu đời (nay việc dùng đũa, bát khá rộng rãi). Ðồ uống truyền thống là nước lã, rượu cần chế từ gạo, ngô, sắn, kê và rượu chế từ nước một loại cây họ dừa mọc hoang trên rừng. Nam nữ đều hút thuốc lá bằng tẩu.

: Tại huyện Ðắc Glây tỉnh Kon Tum có nhóm Gié và Triêng, tỉnh Quảng Nam có nhóm Bnoong ở huyện Phước Sơn và Trà My, nhóm T’riêng và Ve ở huyện Giằng. Hình thức nhà sàn dài gồm nhiều "bếp" là lối kiến trúc truyền thống phổ biến, đặc biệt ở vùng người Gié và Bnoong có khi cả làng ở trong một vài ngôi nhà. Về sau, nhà trệt đã xuất hiện. ở nhiều nơi, trừ nhóm Bnoong, trong làng thường dựng nhà công cộng cao to và đẹp. Tập quán bố trí nhà tạo thành một vòng ôm quanh khoảng trống ở giữa là một nét văn hoá lâu đời của họ ở Giằng và một số nơi ở Ðắc Glây.

Mặc: Theo nếp cổ truyền, nam quấn khố, ở trần, trời lạnh thì choàng tấm vải cho ấm người; nữ mặc áo, quấn váy, có nơi dùng loại váy ống dài để che luôn cả thân trên, từ ngực trở xuống. Phụ nữ ưa đeo nhiều trang sức: các loại vòng bạc, đồng, chuỗi cườm, đeo cổ, tay, chân, tai, phụ nữ các gia đình khá giả có cả hoa tai bằng nhà voi. Y phục theo kiểu người Việt hiện tại đã thâm nhập tận các làng xa xôi hẻo lánh.

Phương tiện vận chuyển: Người Gié-Triêng dùng gùi. Có những loại và cỡ gùi khác nhau: gùi đan thưa, đan dày, gùi đeo theo người hàng ngày, gùi để đồ tại nhà, gùi có hoa văn nan nhuộm đen, gùi không dùng nan nhuộm, gùi cho riêng nam giới...

Quan hệ xã hội: Dân làng thuộc các họ khác nhau, từng họ có truyền thuyết về cội nguồn của mình, có tên gọi và có kiêng cữ riêng. Xưa kia, có những họ của nữ, có những họ của nam. Quan hệ cộng đồng trong làng thường xuyên và khá chặt chẽ. "Già làng" có uy tín cao nhờ hiểu biết, nhiều kinh nghiệm, cũng thường là người có cộng lập làng. Xã hội cổ truyền có nhiều biểu hiện về tàn dư thời mẫu hệ và bước chuyển tiếp từ chế độ mẫu hệ sang chế độ phụ hệ.

Cưới xin: Trai gái tự tìm bạn đời, cha mẹ thường chấp thuận nếu không vi phạm tập tục. Việc cưới xin trải qua nhiều bước, bao giờ cũng có lễ kết gắn cô dâu chú rể với nhau (thông qua việc họ đưa cơm với gan gà cho nhau cùng ăn và uống chung bát rượu, hoặc có nơi họ trùm chung tấm chăn), và cô gái phải tự chuẩn bị 100 bó củi đẹp từ trước để đem đến nhà trai. Nhà trai thường tặng nhà gái đồ đan và nhận được của nhà gái những sản phẩm dệt. Trước kia, đôi vợ chồng cư trú luân phiên mỗi bên vài năm.

Sinh đẻ: Chồng phải làm lều ngoài rừng cho vợ đẻ. Sản phụ tự lo một mình trong sinh nở, sau 10 ngày mới được mang con về nhà. Ðứa bé được coi là thành viên của gia đình sau khi đã tiến hành một nghi lễ cúng cho nó gia nhập vào cộng đồng những người thân thuộc trong nhà.

Ma chay: Phong tục ở các nhóm không hoàn toàn giống nhau. Song nét chung là quan tài đẽo độc mộc, có nơi tạc hình đầu trâu trên đầu. Người chết được mai táng (có tài liệu viết xưa kia hoả táng); nhà mồ dựng không cầu kỳ, có rào xung quanh. Những đồ vật đem ra mộ cho người chết nếu là chiêng, ché thì đều đập thủng hoặc vỡ. Trong quá khứ, người ta từng biết đến tục chôn chung những người chết cách nhau không lâu trong gia đình vào một quan tài. Suốt 10 ngày khi làng có người mới chết, trước khi tang gia cúng "nhắc nhở" cho hồn người chết ở yên bãi mộ, dân làng không vào rừng, không đi làm xa nhà. Nghi thức đoạn tuyệt với mộ người chết thường được tổ chức vào dịp đầu năm tại cạnh ngôi mộ.

Thờ cúng: Người ta quan niệm có nhiều "thần linh" và mọi vật, cũng như con vật, con người đều có siêu linh ẩn trú. Các vị thần nước, thần trời (đồng nhất với sấm sét), thần mặt trời, thần đất, thần làng, thần làng, thần lúa, thần đá, thần cây đa... được người Gié-Triêng cầu cúng. Mỗi làng thường có vật "thiêng" như thứ bùa hộ mệnh, được cất dấu ở rừng và giữ bí mật với người ngoài. Dòng họ, gia đình cũng có vật "thiêng" để cầu mùa gắn với canh tác lúa. Ma người chết cũng được coi là một thế lực chi phối đối với cuộc sống. Liên quan đến thế giới siêu nhiên đó, có rất nhiều lễ thức tín ngưỡng theo tập tục.

Lễ tết: Mỗi khi cúng bái đều có hiến tế, mà máu con vật hiến tế là quan trọng nhất. Lễ trọng phải đâm trâu, và xa xưa có nơi phải cúng bằng máu người trong lễ thức đặc biệt liên quan đến thần lúa. Trong chu kỳ sản xuất hàng năm thường có lễ thức khi chọn đất rẫy, phát rẫy, gieo trỉa, khi hạn hay úng, khi mở đầu tuốt lúa, khi đưa lúa lên kho, khi được 100 gùi lúa trở lên và khi lấy thóc lần đầu về ăn. Gắn với chu kỳ đời người, có các lễ thức trong thời kỳ mang thai, trong và sau khi đẻ, khi đặt tên, khi bị đau ốm, khi cưa răng, trong việc cưới xin, khi chết đi. Tết dân tộc thường sớm hơn tết Nguyên đán, tổ chức theo làng.

Lịch: Người Gié-Triêng căn cứ vào chu kỳ mặt trăng để tính ngày. Theo đó, tên gọi mỗi ngày cụ thể trong tháng phần lớn đều được lặp lại, tuy một ngày ở nửa đầu và một ngày ở nửa cuối tháng. Mỗi năm 12 tháng. Từng tháng có những công việc trọng tâm nhất định.

Văn nghệ: Bộ nhạc cụ phong phú, quý giá và quan trọng nhất là cồng chiêng. Tuỳ nơi, người ta dùng 3 cồng với 7 hay 9 chiêng, hoặc 6 chiêng, hoặc 4 chiêng... Có khi cồng chiêng tấu cùng với trống, với ống nứa. Nguyên ống nứa cũng là loại nhạc cụ để thổi, vỗ, gõ. Các loại đàn sáo, khèn đều đơn giản, thông dụng trong đời sống âm nhạc. Người Gié-Triêng, cũng như các tộc khác, có những làn điệu dân ca cổ truyền và nhiều truyện cổ.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Gié-Triêng

Có thể bạn quan tâm

Chuyển từ tư duy triển khai nhiệm vụ sang kiến tạo giá trị

Chuyển từ tư duy triển khai nhiệm vụ sang kiến tạo giá trị

Sau hơn một năm triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về "đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia", Phú Thọ đang từng bước đưa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển mới. Từ chính quyền số, cải cách hành chính, kinh tế số đến triển khai Đề án 06 của Chính phủ, nhiều kết quả bước đầu đã tạo chuyển biến rõ nét. Tuy nhiên, để chuyển đổi số trở thành nền tảng tăng trưởng nhanh, bền vững, Phú Thọ cần tháo gỡ các điểm nghẽn về hạ tầng, nhân lực và cơ chế.

Đồng Tháp: Nhộn nhịp thu hoạch lúa Hè Thu ở khu vực biên giới

Đồng Tháp: Nhộn nhịp thu hoạch lúa Hè Thu ở khu vực biên giới

Hiện nay, trên các cánh đồng ở những địa phương khu vực biên giới của tỉnh Đồng Tháp như: xã Thường Phước, Tân Hồng và phường Hồng Ngự, Thường Lạc đang nhộn nhịp bước vào vụ thu hoạch lúa Hè Thu. Vụ lúa năm nay, năng suất lúa đạt khá, tình hình tiêu thụ thuận lợi với giá cao hơn vụ lúa trước đó nên bà con nông dân phấn khởi.

Tiếp thêm điểm tựa cho các nạn nhân da cam

Tiếp thêm điểm tựa cho các nạn nhân da cam

Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ, nhưng nhiều nạn nhân chất độc da cam/dioxin tại tỉnh Lào Cai vẫn đang phải gánh chịu nhiều đau đớn về bệnh tật, thiếu thốn vật chất, trong đó nhiều người đang sinh sống trong những ngôi nhà cũ nát, xuống cấp. Thấu hiểu mất mát ấy, tỉnh Lào Cai triển khai nhiều giải pháp, huy động các nguồn lực giúp đỡ nạn nhân da cam có mái ấm an toàn, giúp họ từng bước vượt qua nghịch cảnh, ổn định cuộc sống.

Dân bản Na Ngân khắc phục tuyến đường độc đạo bị sạt lở do mưa lớn

Dân bản Na Ngân khắc phục tuyến đường độc đạo bị sạt lở do mưa lớn

Bản Na Ngân, xã Nga My, tỉnh Nghệ An có hơn 150 hộ dân với gần 740 nhân khẩu, 100% là đồng bào dân tộc Thái. Bản nằm trong một thung lũng, bốn bề là núi đá và rừng già Pù Huống, cách trung tâm xã khoảng 20 km theo tuyến đường đất độc đạo vắt lưng chừng núi, một bên là vách đá, một bên là vực sâu và dòng suối Nậm Ngân. Mưa lớn kéo dài từ chiều 6/8 đã làm nhiều vị trí trên tuyến đường bị sạt lở, đất đá và cây rừng gãy đổ chắn ngang, khiến giao thông bị ách tắc, việc đi lại của người dân gặp nhiều khó khăn và tiềm ẩn nguy hiểm.

Hỗ trợ nước sạch cho học sinh mầm non vùng thiên tai

Hỗ trợ nước sạch cho học sinh mầm non vùng thiên tai

Ngày 9/8, Cơ quan Điều phối và Hợp tác Thổ Nhĩ Kỳ (TIKA) phối hợp với Trung tâm Phát triển Bền vững SUSDEC tổ chức bàn giao 12 công trình nước sạch cho các trường mầm non chịu ảnh hưởng bởi thiên tai tại các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị.

Mở rộng dạy tiếng Khmer cho đồng bào vùng biên giới

Mở rộng dạy tiếng Khmer cho đồng bào vùng biên giới

Tây Ninh sẽ từng bước mở rộng dạy học tiếng Khmer tại các cơ sở giáo dục thuộc các xã biên giới và khu vực có đông đồng bào dân tộc Khmer trong giai đoạn 2026-2030, trên cơ sở nhu cầu tự nguyện của học sinh, sự đồng thuận của cha mẹ học sinh và điều kiện bảo đảm của từng địa bàn.

Mưa lớn gây ngập cục bộ, chia cắt một số khu vực miền núi Quảng Trị

Mưa lớn gây ngập cục bộ, chia cắt một số khu vực miền núi Quảng Trị

Do ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới và gió mạnh trên biển, từ đêm 8 đến sáng 9/8, khu vực miền núi tỉnh Quảng Trị xuất hiện mưa to đến rất to. Mưa lớn làm nước tại các sông, suối dâng cao, nhiều cầu tràn, ngầm tràn bị ngập, một số khu vực dân cư thấp trũng ngập cục bộ, giao thông tại một số điểm tạm thời bị chia cắt.

Người dân vùng lũ Mường Than vững tin xây dựng cuộc sống mới

Người dân vùng lũ Mường Than vững tin xây dựng cuộc sống mới

24 căn nhà mới đã đón người dân vào ở, 20 căn nhà đang khẩn trương xây, tiếp tục bố trí tái định cư cho hơn 250 hộ dân bị ảnh hưởng bởi lũ quét ở xã Mường Than (Lai Châu). Những cố gắng không ngừng nghỉ trong thời gian ngắn của cả hệ thống chính trị vì mục tiêu “còn nhân dân là còn tất cả”.

Quảng Ngãi: Tìm hướng 'hồi sinh' công trình nước sạch 1,8 tỷ đồng

Quảng Ngãi: Tìm hướng 'hồi sinh' công trình nước sạch 1,8 tỷ đồng

Được kỳ vọng cung cấp nước sạch cho khoảng 300 hộ dân, công trình cấp nước tập trung tại xã Bình Minh, tỉnh Quảng Ngãi lại rơi vào cảnh ngừng hoạt động do nhiều bất cập trong vận hành. Địa phương đang nghiên cứu phương án quản lý, sửa chữa để khai thác hiệu quả công trình, tránh lãng phí nguồn lực đầu tư.

Tiếp sức cho đồng bào khó khăn vùng biên cương Tổ quốc

Tiếp sức cho đồng bào khó khăn vùng biên cương Tổ quốc

Trong các ngày 7 và 8/8, Ban Quản lý Khu Công nghệ cao và các khu công nghiệp Đà Nẵng (DSEZA) đã phối hợp với Cơ quan Thường trú khu vực miền Trung - Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV Miền Trung) và các đơn vị đồng hành tổ chức chương trình từ thiện, tiếp sức cho đồng bào nghèo tại xã biên giới Hùng Sơn (thành phố Đà Nẵng).

Đắk Lắk mở không gian phát triển mới từ rừng

Đắk Lắk mở không gian phát triển mới từ rừng

Tỉnh Đắk Lắk hiện có khoảng 743.171 ha đất có rừng, hệ sinh thái trải rộng từ rừng khộp, rừng thường xanh trên cao nguyên đến rừng núi thấp và vùng duyên hải, trong đó rừng tự nhiên hơn 530.868 ha, rừng trồng hơn 212.303 ha. Tỷ lệ che phủ rừng đạt 41,06%. 

Nghệ An: Sạt lở nghiêm trọng, tỉnh lộ 543D tạm thời tê liệt

Nghệ An: Sạt lở nghiêm trọng, tỉnh lộ 543D tạm thời tê liệt

Mưa lớn liên tục trong nhiều ngày qua tại Nghệ An đã khiến đất đá từ mái taluy sạt lở, sụt trượt tràn xuống nhiều tuyến đường. Đặc biệt, tỉnh lộ 543D, đoạn qua địa bàn xã Mường Típ đã tạm thời bị tê liệt do nhiều điểm sạt lở với khối lượng đất đá lớn từ mái taluy dương đổ xuống, chắn ngang mặt đường, khiến giao thông bị chia cắt.

Nghệ An: Lũ cuốn trôi cầu tạm trên sông Nậm Nơn khiến 3 bản ở xã Mỹ Lý bị chia cắt

Nghệ An: Lũ cuốn trôi cầu tạm trên sông Nậm Nơn khiến 3 bản ở xã Mỹ Lý bị chia cắt

Thông tin từ UBND xã Mỹ Lý (Nghệ An) cho biết, từ ngày 3 đến ngày 7/8, trên địa bàn xã biên giới Mỹ Lý liên tục có mưa. Bên cạnh đó, lưu lượng nước từ thượng nguồn sông Nậm Nơn đổ về lớn đã cuốn trôi chiếc cầu tạm, khiến 3 bản Yên Hòa, Piêng Pèn và Nhọt Lợt (xã Mỹ Lý), nằm giáp biên giới Việt Nam - Lào, tạm thời bị chia cắt.

Tuyên Quang: Doanh nghiệp tăng, khu vực cá thể vẫn chiếm chủ đạo

Tuyên Quang: Doanh nghiệp tăng, khu vực cá thể vẫn chiếm chủ đạo

Kết quả sơ bộ Tổng điều tra kinh tế năm 2026 phác họa bức tranh tương đối toàn diện về các đơn vị kinh tế, hành chính, sự nghiệp tại tỉnh Tuyên Quang. Nổi bật là số doanh nghiệp và doanh thu tiếp tục tăng, khu vực dịch vụ giữ vai trò chủ đạo, trong khi các cơ sở sản xuất, kinh doanh cá thể vẫn chiếm hơn 90% tổng số đơn vị điều tra.

Mùa trái chín 'mở lối' cho du lịch nông nghiệp La Dạ

Mùa trái chín 'mở lối' cho du lịch nông nghiệp La Dạ

Những ngày này, xã La Dạ, tỉnh Lâm Đồng khoác lên mình sắc màu rực rỡ của mùa trái chín. Hàng trăm ha sầu riêng ở các thôn Đa Tro, La Dày, Đa Kim… đồng loạt vào vụ thu hoạch cùng những vườn bơ, măng cụt, mắc ca trĩu quả, thu hút đông đảo du khách đến tham quan, trải nghiệm. Không khí càng thêm sôi động khi địa phương lần đầu tổ chức Lễ hội Trái cây xã La Dạ năm 2026 với chủ đề “Hương sắc La Dạ - Trái ngọt vươn xa”.

Sơ tán nhiều hộ dân tại Thanh Hóa do nứt núi

Sơ tán nhiều hộ dân tại Thanh Hóa do nứt núi

Tối 7/8, bà Vi Thị Trọng, Chủ tịch UBND xã Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa cho biết, do mưa lớn trong những ngày qua đã gây ra sạt lở đất tại một số tuyến đường. Mưa lớn cũng đã làm quả núi thuộc khu vực bản Thanh Sơn bị nứt ở taluy dương, vết nứt này kéo dài khoảng 100 mét, có vị trí rộng khoảng 0,8 cm. Đây là khu vực có 17 hộ dân và Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội Quan Sơn.

Gỡ nút thắt cho y tế cơ sở tại Điện Biên

Gỡ nút thắt cho y tế cơ sở tại Điện Biên

Tại tỉnh Điện Biên, chương trình khám bệnh, chữa bệnh và tư vấn sức khỏe miễn phí đang giúp hàng trăm nghìn người dân được kiểm tra sức khỏe ngay tại địa phương. Tuy nhiên, phía sau những kết quả tích cực, hệ thống y tế cơ sở vẫn đối mặt với không ít khó khăn do thiếu trang thiết bị phục vụ khám, chữa bệnh.

Kịp thời hỗ trợ các hộ dân bị cháy nhà tại xóm Chăm

Kịp thời hỗ trợ các hộ dân bị cháy nhà tại xóm Chăm

Chiều 7/8, Phó Chủ tịch UBND xã Vĩnh Hậu (tỉnh An Giang) Huỳnh Hồ Thanh Huy cho biết, chính quyền địa phương đã đến thăm hỏi, động viên và hỗ trợ ban đầu 16 triệu đồng cho các hộ dân có nhà bị cháy tại xóm Chăm, ấp La Ma, giúp bà con vượt qua khó khăn, sớm ổn định cuộc sống.

Lún, nứt cục bộ tại Quảng trường Trung tâm Gia Nghĩa 'đã được tính toán trước'

Lún, nứt cục bộ tại Quảng trường Trung tâm Gia Nghĩa 'đã được tính toán trước'

Ngày 7/8, ông Hà Sỹ Sơn, Giám đốc Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng số 3, tỉnh Lâm Đồng, chủ đầu tư dự án Quảng trường Trung tâm Gia Nghĩa cho biết, sau khi dự án được đưa vào sử dụng, ngày 25/7 vừa qua, một số vị trí đã xuất hiện tình trạng lún, nứt cục bộ trên bề mặt, làm gãy vỡ đá lát nền tại một số vị trí trong khu vực.

Sơn La: Tập trung khắc phục hậu quả mưa lũ tại Muổi Nọi

Sơn La: Tập trung khắc phục hậu quả mưa lũ tại Muổi Nọi

Ngày 7/8, Đoàn công tác của Thiếu tướng Nguyễn Minh Tuấn, Giám đốc Công an tỉnh Sơn La đã đi kiểm tra tình hình thiệt hại do mưa lũ và công tác khắc phục hậu quả tại xã Muổi Nọi, một trong những địa phương chịu ảnh hưởng nặng nề bởi đợt mưa lớn kéo dài những ngày qua.

Điểm tựa giảm nghèo cho người dân vùng cao

Điểm tựa giảm nghèo cho người dân vùng cao

Giảm nghèo bền vững không chỉ là hỗ trợ trước mắt mà còn tạo sinh kế để người dân chủ động vươn lên. Tại Điện Biên, cùng với các chương trình mục tiêu quốc gia, nguồn vốn tín dụng chính sách và nhiều mô hình hỗ trợ sản xuất đang trở thành điểm tựa giúp hàng nghìn hộ nghèo, cận nghèo từng bước ổn định cuộc sống.

Xuất hiện các cung trượt sạt và nhiều vết nứt, gãy tại Sơn La

Xuất hiện các cung trượt sạt và nhiều vết nứt, gãy tại Sơn La

Từ tháng 6 đến nay, xã Mường Chiên, tỉnh Sơn La đã xảy ra nhiều đợt mưa lớn, kéo dài, ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất nông nghiệp của nhân dân. Trong đó, điểm dân cư Nặm Ngùa, bản Phiêng Bay đã xuất hiện cung trượt sạt kèm theo nhiều vết nứt gãy gây sụt lún, có nguy cơ sạt lở đất diện rộng, ảnh hưởng đến tính mạng và tài sản của người dân đang sinh sống tại đây.

Lạng Sơn đẩy nhanh tiến độ xây dựng trường phổ thông nội trú liên cấp các xã biên giới

Lạng Sơn đẩy nhanh tiến độ xây dựng trường phổ thông nội trú liên cấp các xã biên giới

Để đưa 4 trường phổ thông nội trú liên cấp các xã biên giới là Mẫu Sơn, Quốc Khánh, Khuất Xá và Kiên Mộc (tỉnh Lạng Sơn) vào hoạt động từ năm học 2026 - 2027, các đơn vị thi công và lực lượng liên quan đang tích cực đẩy nhanh tiến độ xây dựng, hoàn thiện các hạng mục thiết yếu như lớp học, nhà công vụ, nhà hiệu bộ, sân trường... và lắp đặt cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy; dự kiến hoàn thành trong tháng 8/2026.