Giữa cao nguyên đá nơi địa đầu Tổ quốc, người dân thôn Ma Lé, xã Lũng Cú (tỉnh Tuyên Quang) đang cùng nhau trồng hoa, chỉnh trang đường làng, gìn giữ nhà cổ và bảo tồn văn hóa truyền thống để xây dựng bản du lịch cộng đồng xanh, sạch, đẹp từ chính sức dân nơi biên cương.
Trong làn sương sớm nơi cực Bắc Tổ quốc, tiếng cười nói rộn ràng vang lên khắp các con đường nhỏ ở thôn Ma Lé. Từ sáng sớm, người già, phụ nữ, thanh niên đã cùng nhau mang cuốc, xẻng, cây giống, hoa và từng bao đất nhỏ để tham gia lễ phát động xây dựng “Tuyến đường hoa” - một hoạt động mang theo khát vọng đổi thay của bản làng nơi biên cương đá núi.
Không sân khấu lớn, không khẩu hiệu phô trương, nhưng giữa núi đá tai mèo khắc nghiệt, hình ảnh người dân tự nguyện góp công, góp của để làm đẹp quê hương lại trở thành điều đặc biệt và lay động hơn bất cứ lời tuyên truyền nào.
Ma Lé là thôn của đồng bào dân tộc Giáy, nơi vẫn còn lưu giữ nhiều ngôi nhà cổ hàng trăm năm tuổi cùng những nét văn hóa đặc sắc như dân ca Giáy, lễ cúng thần rừng, lễ xuống đồng hay nghề canh tác lúa nương truyền thống. Những năm gần đây, cùng với sự phát triển của du lịch cộng đồng ở vùng cao nguyên đá, người dân Ma Lé bắt đầu nhận ra, muốn giữ chân du khách, trước hết phải làm cho bản làng đẹp hơn, sạch hơn và đáng nhớ hơn.
Lãnh đạo xã Lũng Cú tham gia trồng cây, xây dựng “Tuyến đường hoa” hướng tới kiến tạo thôn du lịch cộng đồng xanh, sạch, đẹp. Ảnh: Việt Anh/TTXVN phát
Bởi vậy, phong trào xây dựng tuyến đường hoa, chỉnh trang cảnh quan không chỉ đơn thuần là hoạt động môi trường mà còn là cách người dân đang tự mình vun đắp tương lai cho quê hương.
Ông Nguyễn Văn Toại, Bí thư Chi bộ thôn Ma Lé chia sẻ: “Điều đáng quý là bà con đều đồng lòng. Có người góp cây, có người góp ngày công, có hộ tự nguyện hỗ trợ tiền để mua giống hoa. Ai cũng mong bản làng ngày càng khang trang nhưng vẫn giữ được nét riêng của người Giáy”.
Không chỉ hôm nay, trước đó người dân Ma Lé cũng đã cùng nhau đóng góp hàng trăm triệu đồng để mở rộng, sửa chữa các tuyến đường nội thôn. Những con đường bê tông sạch đẹp giờ len qua từng hàng rào đá, từng mái nhà cổ, mở ra diện mạo mới cho bản làng vùng biên.
Theo ông Dương Ngọc Đức, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Lũng Cú, Ma Lé đang trở thành điểm sáng trong xây dựng thôn kiểu mẫu gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống và phát triển du lịch cộng đồng.
“Điều quan trọng nhất là người dân đã thực sự trở thành chủ thể của quá trình xây dựng nông thôn mới. Chính tinh thần đoàn kết và ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa đang tạo nên sức sống riêng cho Ma Lé”, ông Đức nhấn mạnh.
Giữa cái nắng đầu hè vùng cao, nhiều phụ nữ Giáy trong trang phục truyền thống vẫn tươi cười trồng từng khóm hoa ven đường. Thanh niên trong thôn chia nhau san đất, dọn cỏ, dựng lại những đoạn hàng rào đá đã cũ. Trẻ nhỏ cũng ríu rít theo chân người lớn tưới nước cho những cây hoa mới trồng.
Người dân thôn Ma Lé đồng loạt ra quân dọn vệ sinh, chỉnh trang đường làng, tạo cảnh quan phục vụ phát triển du lịch cộng đồng gắn với gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc Giáy. Ảnh: Việt Anh/TTXVN phát
Bà Lò Thị Mỷ, một người dân trong thôn xúc động nói: “Ngày trước đường còn khó đi, ít người vào thôn. Bây giờ bà con cùng nhau làm đẹp bản làng, khách du lịch đến đông hơn, đời sống cũng tốt hơn. Chúng tôi muốn giữ bản sắc của người Giáy để con cháu sau này còn tự hào”.
Không ồn ào, không chạy theo những công trình lớn, Ma Lé đang đổi thay từ những điều bình dị nhất: Một tuyến đường sạch hơn, một hàng hoa đẹp hơn, một mái nhà cổ được gìn giữ cẩn thận hơn.
Và giữa nơi địa đầu thiêng liêng của Tổ quốc, những tuyến đường hoa đang dần nở rộ không chỉ làm sáng bừng bản làng vùng cao mà còn thắp lên niềm tin về một hướng đi bền vững - nơi văn hóa trở thành tài sản, nơi người dân là chủ thể của đổi thay và nơi sức dân đang viết tiếp câu chuyện đẹp về một miền biên cương giàu bản sắc./.
Tên tự gọi: Giáy
Tên gọi khác: Nhắng, Giẳng
Dân số: 58.617 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng Giáy thuộc ngữ hệ Thái - Ka Ðai.
Lịch sử: Người Giáy từ Trung Quốc di cư sang Việt Nam cách đây khoảng 200 năm.
Hoạt động sản xuất: Người Giáy có nhiều kinh nghiệm canh tác lúa nước trên những triền ruộng bậc thang. Bên cạnh đó họ còn làm thêm nương rẫy trồng ngô, lúa, các loại cây có củ và rau xanh. Chăn nuôi theo lối thả rông. Có một số nghề thủ công nhưng chưa phát triển.
Ăn: Ăn cơm tẻ. Gạo được luộc cho chín dở rồi mới cho vào chõ đồ lên như đồ xôi. Nước luộc gạo dùng làm đồ uống. Cách chế biến món ăn, nhất là ăn trong ngày lễ, ngày tết chịu ảnh hưởng sâu sắc của người Hán.
Mặc: Trước kia phụ nữ mặc váy xoè giống như váy của người Mông. Ngày nay họ mặc quần màu chàm đen có dải vải đỏ đắp trên phần cạp, áo cánh 5 thân xẻ tà, dài quá mông, cài khuy bên nách phải, hò áo và cổ tay áo viền những dải vải khác màu. Tóc vấn quanh đầu với những sợi chỉ hồng thả theo đuôi tóc. Vai khoác túi thêu chỉ màu với hoa văn là những đường gấp khúc. Nam giới mặc quần lá toạ, áo cánh xẻ tà, mở khuy ngực.
Ở: Người Giáy cư trú ở các huyện Bát Xát, Bảo Thắng, Mường Khương (Lào Cai), Yên Minh, Ðồng Văn (Hà Giang), Phong Thổ, Mường Tè (Lai Châu). Nhà sàn là nhà ở truyền thống. Hiện nay, kiểu nhà sàn vẫn phổ biến trong bộ phận người Giáy ở Hà Giang, còn bộ phận ở Lào Cai và Lai Châu ở nhà đất nhưng phía trước nhà vẫn là sàn phơi. Nhà thường có 3 gian, bàn thờ đặt ở gian giữa.
Phương tiện vận chuyển: Họ gánh bằng dậu, dùng ngựa thồ, trâu kéo.
Quan hệ xã hội: Trước Cách mạng tháng Tám, xã hội người Giáy có sự phân hoá giai cấp rõ rệt. Tầng lớp trên là những chức dịch trong bộ máy chính quyền ở xã, thôn bản, nhiều người được hưởng ruộng công do dân cày cấy, có rừng thảo quả do dân trồng, có lính phục dịch, có người lo việc tang, việc cưới, đôi khi có cả đội xoè. Nông dân, ngoài đóng thuế còn phải làm lao dịch và cống nạp cho các chức dịch.
Cưới xin: Gồm nhiều nghi lễ: dạm hỏi, thả mối, ăn hỏi, cưới và lại mặt. Trong lễ ăn hỏi nhà trai đưa cho nhà gái một vòng cổ và một vòng tay để "đánh dấu". Trong lễ cưới ngoài chi phí cho ăn uống, nhà trai còn phải mang cho nhà gái một số thực phẩm và tiền để làm quà tặng họ hàng gần; mỗi người một con gà, một con vịt và một đồng bạc trắng. ở người Giáy cũng có tục kéo vợ như người Mông.
Sinh đẻ: Khi có thai phụ nữ phải kiêng nhiều thứ: không đun củi từ ngọn lên gốc (sợ đẻ ngược), không đến đám tang hay nơi thờ cúng (sợ mất vía). Gần đến ngày đẻ, họ phải cúng mụ. Trẻ đầy tháng cúng báo tổ tiên, đặt tên và lập lá số cho trẻ để sau này đem so tuổi khi lấy vợ, lấy chồng và chọn giờ nhập quan, hạ huyệt khi chết đi.
Ma chay: Người Giáy cho rằng khi người ta chết, nếu ma chay chu đáo thì sẽ được lên trời sống sung sướng cùng với tổ tiên, nếu không sẽ bị đưa xuống âm ti hoặc biến thành con vật. Vì thế, ở những gia đình khá giả đám tang có thể kéo dài tới 5-7 ngày và có thêm một số nghi lễ như thả đèn trôi sông, rước hồn đi dạo... Con cái để tang bố mẹ một năm. Lễ đoạn tang thường được tổ chức vào dịp cuối năm.
Thờ cúng: Bàn thờ đặt ở gian giữa, thường có ba bát hương theo thứ tự từ trái sang phải thờ táo quân, trời đất và tổ tiên. Trong trường hợp chủ nhà là con nuôi hay con rể thừa tự muốn thờ họ bố mẹ đẻ thì đặt thêm một bát hương ở bên trái. Những gia đình không thờ bà mụ trong buồng thì đặt thêm một bát hương ở bên phải. Ở một số gia đình ngoài bàn thờ lớn còn đặt một bàn thờ nhỏ để thờ bố mẹ vợ. Phía dưới bàn thờ lớn ngay trên mặt đất đặt một bát hương cúng thổ địa, ở hai bên cửa chính có hai bát hương thờ thần giữ cửa.
Lễ tết: Người Giáy ăn Tết như các dân tộc ở vùng Ðông Bắc: Tết Nguyên đán, Thanh minh, Ðoan ngọ....
Lịch: Người Giáy theo âm lịch.
Học: Người Giáy chưa có văn tự, chỉ có một số rất ít người biết chữ Hán.
Văn nghệ: Trong kho tàng văn nghệ của người Giáy có truyện cổ, thơ ca, tục ngữ, đồng dao, phong dao... Ở người Giáy có ba kiểu hát mà họ gọi là "vươn" hay "phướn" hát bên mâm rượu, hát đêm và hát tiễn dặn...
Theo cema.gov.vn