Hòa chung không khí đó, niềm vui của bà con khắp các phum sóc như được nhân lên gấp bội trước những đổi thay rõ rệt trên quê hương Cà Mau. Nhờ các chính sách hỗ trợ thiết thực về nhà ở, đất ở, nước sinh hoạt, chuyển đổi nghề và đầu tư hạ tầng giao thông, đời sống của bà con đã thực sự sang trang mới. Những con đường đất lầy lội đã được thay thế bằng đường bê tông rộng rãi, sạch đẹp.
Nhiều cây cầu dân sinh kiên cố ra đời giúp việc giao thương, học tập và đi lại trở nên thuận tiện. Hàng trăm hộ nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số khó khăn đã được hỗ trợ xây dựng nhà mới khang trang, vững chắc.
Gia đình bà Lâm Thị Diệu ở ấp Mặc Đây (xã Vĩnh Lợi) vừa hoàn thành nhà mới kiên cố trị giá trên 80 triệu đồng. Bà Diệu xúc động chia sẻ, trước đây, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, căn nhà tạm bợ, dột nát nên cả nhà đều lo sợ mỗi khi mùa mưa bão đến. Giờ được ở trong nhà mới, ai nấy đều vui mừng, gia đình biết ơn Đảng, Nhà nước và chính quyền và đồng bào đã giúp đỡ để nhà bà bớt mối lo nơi an cư.
Ông Hà Phú Quí, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã Vĩnh Lợi thông tin, thời gian qua, việc chăm lo cho các hộ nghèo, cận nghèo, gia đình chính sách và hộ đồng bào dân tộc luôn được các cấp chính quyền địa phương đặc biệt quan tâm, chú trọng. Những ngôi nhà khang trang, kiên cố được trao tặng không chỉ giúp người dân “an cư lạc nghiệp”, mà còn là bước đệm vững chắc để họ yên tâm lao động sản xuất và vươn lên phát triển”.
Ông Thạch Quết, người có uy tín trong đồng bào dân tộc Khmer tại phường Hiệp Thành vui mừng chứng kiến sự đổi thay của quê hương với điện lưới quốc gia đã kéo về tận nhà, nước sạch đầy đủ, đường giao thông rộng rãi. Được chính quyền quan tâm đầu tư hạ tầng, hỗ trợ sinh kế, đời sống bà con Khmer khấm khá hơn trước rất nhiều, con em được học hành chu đáo, có việc làm tốt. Bà con đón lễ Sene Dolta trong không khí đầm ấm, an vui, càng thêm trân trọng các chính sách ưu tiên của Đảng và Nhà nước.
Bí thư Đảng ủy xã Hưng Hội Từ Minh Phúc cho biết, là địa phương có đông đồng bào Khmer sinh sống, những năm qua, xã luôn chú trọng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và hỗ trợ kinh tế gia đình. Thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, địa phương đã kịp thời chuyển tải nguồn vốn vay ưu đãi giúp bà con đầu tư sản xuất, hỗ trợ các hộ nghèo, cận nghèo xây dựng nhà ở kiên cố. Đến nay, đời sống của đồng bào Khmer ở xã không ngừng được nâng lên...
Với hơn 26.990 hộ (khoảng 116.604 nhân khẩu, chiếm trên 5% dân số toàn tỉnh), trong những năm qua, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Cà Mau luôn xác định công tác chăm lo, phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, xuyên suốt. Trước đó, với hơn 3.200 tỷ đồng được huy động đầu tư vào vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong giai đoạn 2010 - 2025, hệ thống hạ tầng giao thông, trường học, y tế tại các địa bàn này đã được cải thiện rõ rệt; chính sách an sinh xã hội được triển khai hiệu quả.
Đến nay, 100% xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số có đường ô tô đến trung tâm xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa. Trên 99% hộ dân được sử dụng điện lưới quốc gia và trên 90% hộ dân được sử dụng nước hợp vệ sinh, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất, nâng cao chất lượng đời sống và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Đây là minh chứng sinh động cho sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước, sự chỉ đạo quyết liệt của lãnh đạo tỉnh Cà Mau và tinh thần đoàn kết, vươn lên của đồng bào các dân tộc trên địa bàn…
Bà Nguyễn Thu Tư, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Cà Mau thông tin, giai đoạn 2021 - 2025, tổng nguồn vốn ngân sách nhà nước phân bổ cho Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh đạt trên 444,6 tỷ đồng (ngân sách Trung ương hỗ trợ hơn 392,7 tỷ đồng và vốn đối ứng địa phương gần 52 tỷ đồng).
Đây là một chủ trương lớn, phù hợp với thực tiễn đời sống, đáp ứng đúng tâm tư, nguyện vọng chính đáng của đồng bào, góp phần quan trọng làm thay đổi diện mạo vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, dân sinh được quan tâm đầu tư đồng bộ, kịp thời tháo gỡ khó khăn cấp thiết về điều kiện sống, sinh hoạt của các hộ nghèo, giúp đồng bào từng bước ổn định cuộc sống và vươn lên thoát nghèo bền vững và củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc...
Mùa lễ Sene Dolta năm 2026 trên quê hương Cà Mau vì thế càng thêm trọn vẹn. Những đổi thay tích cực trong từng phum sóc chính là sự khẳng định sức sống mới, tương lai tươi sáng hơn ở vùng đất địa đầu cực Nam của Tổ quốc.
Tên tự gọi: Người Khmer.
Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.
Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.
Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.
Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).
Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.
Ở: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.
Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.
Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.
Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.
Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.
Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.
Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.
Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.
Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.
Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.
Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).
Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.
Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.
Theo cema.gov.vn