Bạc Liêu bảo tồn làng nghề gắn với phát triển du lịch

Dù tạo ra công ăn việc làm, tăng thu nhập cho hàng ngàn lao động tại khu vực nông thôn nhưng các làng nghề của tỉnh Bạc Liêu đang bị mai một, nhiều làng nghề hoạt động cầm chừng. Trước thực trạng như vậy, tỉnh Bạc Liêu đang triển khai thực hiện nhiều giải pháp để duy trì và phát triển các làng nghề, trong đó xác định bảo tồn làng nghề phải gắn với phát triển du lịch.

potal-bac-lieu-bao-ton-lang-nghe-gan-voi-phat-trien-du-lich-7861330.jpg
Nhiều hộ dân chuyển sang làm những sản phẩm đan lát có giá trị cao phục vụ nhu cầu của khách du lịch. Ảnh: Tuấn Kiệt - TTXVN

Làng nghề đang mai một

Ấp Nhà Lầu I ở xã Ninh Thạnh Lợi A, huyện Hồng Dân từ lâu đã nổi tiếng trong và ngoài tỉnh Bạc Liêu với nghề đan thủ công tre, trúc. Ông Lê Văn Thể (người có hơn 50 năm làm nghề đan đát) cho biết, vào những thập niên 50 - 60 của thế kỷ trước, do nhu cầu thực tế của địa phương, cũng như nhiều khu vực lân cận, người dân nơi đây đã tận dụng ưu thế về địa hình thổ nhưỡng để trồng tre, trúc, phát triển nghề đan đát. Sản phẩm được làm ra là những nông cụ, hàng gia dụng phục vụ cho nhu cầu đời sống nhân dân.

Ở thời vàng son, làng nghề đan đát ấp Nhà Lầu I có đến hàng trăm hộ gắn bó với nghề. Thời điểm ấy, trong ấp rộn ràng, nhộn nhịp ngày đêm, già trẻ, gái trai ai ai cũng tất bật với nghề, không chỉ đan cần xé, bà con còn đang rổ, sàng, sề, sọt, thúng... Năm tháng trôi qua, khi nhiều sản phẩm công nghiệp bằng nhựa, inox… ra đời, làng nghề đan đát này lâm cảnh lao đao vì không thể cạnh tranh được về mẫu mã và giá cả. Từ hơn 200 hộ làm nghề đã giảm còn 90 hộ.

Không riêng gì nghề đan đát tre, trúc, nghề rèn cũng rơi vào tình cảnh tương tự. Có người ví nghề rèn truyền thống mang đậm dấu ấn lao động nông nghiệp vì ẩn chứa trong những giọt mồ hôi mặn chát, bàn tay chai sạm, thô ráp của các thợ rèn là cả một niềm vui được mùa của hàng lớp người đi khai hoang, mở cõi. Do nhiều nguyên nhân mà chủ yếu là trình độ công nghệ hóa ngày càng cao kéo theo cơ giới hóa nông nghiệp làm cho nghề rèn truyền thống dần bị mai một.

Anh Trần Quang Điệp ở ấp Thống Nhất, thị trấn Ngan Dừa, huyện Hồng Dân lớn lên trong một gia đình truyền thống 3 đời làm nghề rèn. Anh Điệp cho biết. sưa làng rèn nơi đây có đến vài chục hộ sống bằng chính nghề rèn, đặc biệt sản phẩm dao Ngan Dừa nức tiếng một thời khắp các vùng miền Tây sông nước. Tuy vậy, đến nay làng rèn này, chỉ còn 4 hộ ngày ngày vẫn miệt mài với việc sản xuất các loại dao lớn, nhỏ. Với anh Điệp, tiếng búa đập, tiếng mài sắt đã trở thành những bản nhạc quen thuộc trong tâm thức.

Chia sẻ về nghề rèn, anh Điệp cho biết: “Trước đây nghề rèn làm ăn rất khá, bởi tất cả vật dụng từ sinh hoạt tới làm ruộng đều cần thợ rèn. Mỗi ngày một lò rèn bỏ túi trên 1 triệu đồng là chuyện rất dễ dàng. Nay nông cụ sản xuất phần lớn đã làm bằng máy móc tinh xảo, giá cả lại cạnh tranh nên nghề rèn thủ công thu hẹp dần. Làm nghề này vừa cực, vừa nóng nực, nặng nhọc, vất vả. Suốt ngày ngồi một chỗ với cây búa, bếp lửa mà thu nhập chẳng được bao nhiêu nên không còn thu hút được người lao động, nhát là những người trẻ”.

Nhìn nhận về sự mai một của các làng nghề, ông Trần Anh Khiêm, Bí thư Đảng ủy xã Vĩnh Phú Đông, huyện Phước Long, nơi có làng ngề đan đát tre, trúc ở ấp Mỹ 1 chia sẻ: “Qua khảo sát, một trong những khó khăn trong lưu giữ và phát triển làng nghề truyền thống hiện nay chính là nhiều làng nghề chỉ tập trung ở khâu sản xuất, chưa chú trọng đến khâu tiếp thị, quảng bá, cũng như chưa nghiên cứu sáng tạo thêm các sản phẩm mới từ thế mạnh của mình. Sản phẩm làm ra lại trải qua nhiều khâu trung gian, làm cho lợi nhuận thu về thấp và không còn hấp dẫn người lao động tham gia. Cùng với đó là trình độ quản lý sản xuất của người lao động ở các làng nghề còn rất hạn chế và chưa có khả năng quản lý tốt các quy trình từ khâu đầu vào đến đầu ra. Lao động qua đào tạo còn thấp và chủ yếu là truyền nghề, chưa phù hợp với tác phong công nghiệp, sản xuất còn phân tán, theo thời vụ và sản phẩm làm ra thiếu những định hướng về thị trường”.

potal-bac-lieu-bao-ton-lang-nghe-gan-voi-phat-trien-du-lich-7861319-1.jpg
Làng nghề sản xuất muối truyền thống ở Bạc Liêu. Ảnh: TTXVN phát

Vực dậy làng nghề

Tỉnh Bạc Liêu có 10 làng nghề ở các lĩnh vực như: đan đát, mộc, dệt chiếu, rèn, sản xuất muối… được công nhận. Các làng nghề này đã tham gia giải quyết việc làm và tạo thu nhập cho trên 1.500 hộ gia đình ở nông thôn. Mặc dù vậy, sự phát triển của các làng nghề hiện nay đã không còn bắt kịp nhu cầu phát triển của thời đại. Khảo sát ở các làng nghề truyền thống cho thấy, quy mô các làng nghề ngày càng nhỏ dần và có nguy cơ mất đi khi phần lớn lao động bỏ nghề và xa xứ mưu sinh.

Ông Trần Thanh Mến, Giám đốc Sở Công Thương Bạc Liêu cho biết, đơn bị đang hỗ trợ và khuyến khích các các làng nghề đầu tư đổi mới thiết bị, áp dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh trên thị trường. Cùng với đó, để tìm được đầu ra cho sản phẩm, các làng nghề cần phải biết kết hợp một cách hợp lý giữa truyền thống và công nghệ hiện đại, áp dụng công nghệ mới vào một số công đoạn của quá trình sản xuất. Đồng thời, vẫn phải kế thừa kinh nghiệm trong quy trình chế tác ở những công đoạn thể hiện sự tinh xảo, nét đặc trưng của sản phẩm. Từ đó có thể sản xuất ra sản phẩm nhanh hơn, mẫu mã phong phú hơn, giá thành rẻ hơn nhưng vẫn giữ được nét tinh xảo, đặc trưng truyền thống.

Theo Giám đốc Sở Công Thương Bạc Liêu, để góp phần bảo tồn và phát triển làng nghề một cách bền vững cần gắn phát triển du lịch với làng nghề. Việc gắn két này không chỉ giúp mở rộng thị trường, mở ra nhiều cơ hội để thúc đẩy việc phát triển sản xuất các sản phẩm làng nghề, còn góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống trong mỗi làng nghề.

Dưới góc độ của cơ quan quản lý về du lịch, ông Lý Vỹ Triều Dương, Phó giám đốc Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch tỉnh Bạc Liêu chia sẻ. thời gian qua, bên cạnh những loại hình du lịch vốn là thế mạnh của Bạc Liêu như du lịch văn hóa - lịch sử, du lịch tâm linh, du lịch sinh thái... du lịch làng nghề đang trở thành một hướng đi triển vọng để thu hút du khách. Du lịch làng nghề có thể hiểu là loại hình du lịch văn hoá tổng hợp thông qua hình thức đưa du khách tới tham quan, cảm nhận các giá trị văn hóa và mua sắm những hàng hóa đặc trưng của địa phương.

Theo đánh giá, các làng nghề thủ công truyền thống của Bạc Liêu đang là xu hướng được khách du lịch tìm đến, phần là bởi những giá trị văn hóa lâu đời và sự sáng tạo của những người thợ làng nghề qua từng sản phẩm thủ công đặc trưng, phần khác vì đến với làng nghề của Bạc Liêu không chỉ được ngắm cảnh quan của một làng quê đặc trưng vùng đồng bằng Nam bộ với những vườn trúc thơ mộng, thưởng thức cảnh bình yên sống nước, mà còn được tham quan nơi sản xuất, trực tiếp tiếp xúc với thợ thủ công và tham gia làm thử một vài công đoạn sản xuất các sản phẩm. Điều này tạo nên sức hấp dẫn riêng của du lịch làng nghề.

Để khai thác tiềm năng phục vụ hiệu quả du lịch làng nghề, ngành du lịch tỉnh Bạc Liêu đang triển khai thực hiện nhiều giải pháp, trong đó chú trọng đến sự khác biệt, tạo nên những sản phẩm đặc thù của địa phương. Theo đó, Bạc Liêu sẽ quan tâm khai thác những đặc trưng về văn hóa, cảnh quan khu vực nông thôn, hình thành các sản phẩm du lịch làng nghề hấp dẫn để du khách có thể tham quan, trải nghiệm.

Ngành du lịch đang hỗ trợ các làng nghề truyền thống, các cơ sở sản xuất hàng các sản phẩm thủ công mỹ nghệ mang tính đặc trưng của quê hương Bạc Liêu như: Làng nghề đan đát ấp Mỹ I (xã Vĩnh Phú Đông, huyện Phước Long); làng nghề mộc, nghề dệt chiếu, nghề đan đát (huyện Hồng Dân), nghề làm muối (huyện Đông Hải và huyện Hòa Bình)... góp phần giải quyết công ăn việc làm, thúc đẩy phát triển tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn và phục vụ phát triển du lịch.

Tại làng nghề đan đát ấp Mỹ I ở xã Vĩnh Phú Đông, huyện Phước Long cùng với việc thực hiện Dự án “Ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật để xây dựng mô hình làng nghề tre, tầm vông, trúc đan đát theo hướng tập trung”, chính quyền và người dân ở đây tập trung đầu tư nâng cấp hạ tầng giao thông vào làng nghề thuận lợi, xây dựng các nhà trưng bày, giới thiệu sản phẩm.

Ngoài ra, chính quyền và người dân đang triển khai đề án củng cố, phát triển làng nghề đan đát truyền thống gắn với phát triển du lịch nông thôn, thông qua việc vận động thành lập Hợp tác làng nghề Trúc Xanh, với 19 thành viên để quản lý, tổ chức sản xuất hoạt động và phát triển làng nghề.

Theo ông Trần Anh Khiêm, Bí thư Đảng ủy xã Vĩnh Phú Đông, hướng đi này này tuy mới triển khai nhưng hứa hẹn sẽ tạo nên những đột phá mới cho làng nghề, tạo điều kiện cho người nơi đây phát triển kinh tế gia đình từ việc phát triển du lịch và bán các sản phẩm của làng nghề.

Ngoài sản phẩm chủ đạo của làng nghề hiện nay là cần xé, xã Vĩnh Phú Đông còn vận động các thợ thủ công phát triển thêm một số sản phẩm mới, nhất là một số mặt hàng thủ công mỹ nghệ gắn với định hướng phát triển du lịch. Đồng thời, đẩy mạnh công tác quảng bá, mời gọi doanh nghiệp đầu tư vào phát triển làng nghề gắn với phát triển du lịch cộng đồng, góp phần bảo tồn làng nghề gắn với phát triển du lịch.

Tuấn Kiệt

(TTXVN)

Có thể bạn quan tâm

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Ở vùng biên giới Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên, nơi điều kiện tiếp cận công nghệ của người dân còn hạn chế, những người lính Đồn Biên phòng Nậm Nhừ đang tìm cách đưa thông tin chính thống và kỹ năng số đến gần hơn với từng bản làng. Từ những chiếc điện thoại, mã QR đến loa truyền thanh di động, họ đang trở thành những “người lính truyền thông số”, giúp bà con chủ động hơn trong tiếp cận thông tin và bảo vệ mình trên không gian mạng.

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Thực hiện chủ trương sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục công lập, năm học 2026-2027, hệ thống trường học trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk bước vào giai đoạn vận hành theo mô hình mới. Toàn tỉnh giảm 642/1.267 cơ sở giáo dục, tương đương 50,7%. Quy mô mạng lưới thay đổi kéo theo những thay đổi lớn về tổ chức, đội ngũ và phương thức quản lý. Những ngày đầu vận hành cho thấy, các trường cơ bản bảo đảm việc dạy và học; đồng thời bắt đầu nhận diện những thuận lợi, khó khăn và từng bước điều chỉnh cách quản trị để phù hợp với mô hình mới.

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Những ngày đầu năm học mới, ở ngôi trường lần đầu vang lên tiếng trống khai trường, 95 học sinh có hoàn cảnh đặc biệt đã bắt đầu một hành trình mới. Các em là con thương binh, liệt sĩ Công an nhân dân, trẻ em dân tộc thiểu số và học sinh thuộc diện bảo trợ xã hội, có hoàn cảnh khó khăn. Từ năm học 2026 – 2027, Trường Văn hóa Công an nhân dân IV tại Tây Ninh trở thành mái nhà chung, nơi các em được chở che, học tập, rèn luyện và tự tin nuôi dưỡng ước mơ.

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Công nghệ số đang ngày càng khẳng định vai trò kỳ diệu trong việc rút ngắn khoảng cách địa lý ở các thôn, bản vùng cao, biên giới Lào Cai. Các mô hình thí điểm thôn số tiêu biểu đã được triển khai bước đầu cho thấy hiệu quả vượt trội trong xóa nghèo công nghệ từ cấp cơ sở; góp phần hình thành thói quen ứng dụng công nghệ số tại cộng đồng dân cư; nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Những năm qua, giáo dục tại các xã biên giới của tỉnh Tây Ninh đã có nhiều chuyển biến tích cực khi mạng lưới trường lớp ngày càng hoàn thiện, tỷ lệ huy động học sinh đến trường được duy trì ở mức cao, chất lượng giáo dục từng bước nâng lên. Tuy nhiên, vẫn còn đó không ít “điểm nghẽn” về điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất và nguồn lực đầu tư đòi hỏi sớm được tháo gỡ nhằm phát triển nguồn nhân lực, giữ dân và giữ vững vùng biên giới.

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Phong trào “Bình dân học vụ số” cùng các chiến dịch như “Mùa hè số cùng VNeID” trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đang được triển khai đồng bộ, tạo chuyển biến tích cực trong chuyển đổi số. Đặc biệt tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, những tiện ích số đang dần được "phủ xanh", phục vụ thiết thực cho cuộc sống hằng ngày của người dân.

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Sáng 27/8, tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Cao Bằng, UBND tỉnh phối hợp với Bộ Công an tổ chức Lễ khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật. Buổi lễ có sự tham dự của Thượng tướng Nguyễn Văn Long, Thứ trưởng Bộ Công an cùng nhiều lãnh đạo Bộ Công an.

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Giảm chi phí, chủ động phòng bệnh, nâng cao chất lượng đàn vật nuôi và bảo vệ môi trường đang là những yêu cầu thiết yếu được người chăn nuôi quan tâm. Từ những thay đổi trong cách chăm sóc, vệ sinh chuồng trại đến xử lý chất thải bằng các giải pháp sinh học, nhiều hộ dân tại Bắc Ninh đang từng bước hình thành phương thức chăn nuôi an toàn, hiệu quả và bền vững.

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Thực hiện sắp xếp cơ sở giáo dục công lập theo hướng tinh gọn, quy mô hợp lý, tỉnh Lạng Sơn đặt mục tiêu giảm mạnh đầu mối, tập trung nguồn lực cho dạy và học; đồng thời bảo đảm quyền học tập của học sinh và phù hợp với đặc thù địa bàn miền núi, biên giới.

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Với những học sinh ở vùng sâu, vùng xa, mô hình trường nội trú không chỉ tạo điều kiện học tập thuận lợi mà còn mở thêm cơ hội tiếp cận giáo dục, từng bước thu hẹp khoảng cách vùng miền. Những ngày này, Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Ia R’vê, xã biên giới Ia R’vê, tỉnh Đắk Lắk, đang khẩn trương hoàn thiện cơ sở vật chất, tổ chức tuyển sinh và vận động học sinh đến trường.

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Những ngày đầu tháng 8, tại nhiều trường tiểu học ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Lắk, các lớp tăng cường tiếng Việt cho trẻ chuẩn bị vào lớp Một diễn ra trong không khí gần gũi, nhẹ nhàng. Từ những con chữ đầu tiên, các em được làm quen với tiếng Việt, trường lớp và nền nếp học tập, tạo tâm thế vững vàng trước khi bước vào năm học mới.

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Tảo hôn là vấn đề ảnh hưởng đến chất lượng dân số và cơ hội phát triển của trẻ em, thanh thiếu niên ở một số địa bàn vùng cao. Để thay đổi nhận thức, tuổi trẻ Điện Biên đã tích cực đổi mới cách tuyên truyền, đồng thời tạo điều kiện để thanh niên học tập, học nghề, lập nghiệp trước khi xây dựng gia đình.

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Đắk Lắk là địa phương có tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số cao, địa bàn rộng, nhiều vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, bãi ngang. Chỉ còn ít tuần nữa năm học 2026-2027 sẽ bắt đầu. Tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, công tác chuẩn bị trường lớp, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và vận động học sinh ra lớp đang được triển khai khẩn trương, với mục tiêu bảo đảm các điều kiện tốt nhất trước ngày khai giảng.

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên đang đẩy mạnh phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca theo hướng tập trung, liên kết sản xuất. Cùng với hoàn thành diện tích trồng mới, các địa phương chú trọng hướng dẫn người dân chăm sóc, trồng dặm, phòng trừ sâu bệnh, tạo nền tảng nâng cao năng suất và hiệu quả cây trồng.