Bảo tồn điệu múa kỳ lân dân tộc Nùng, góp phần phát huy giá trị văn hoá truyền thống

Bảo tồn điệu múa kỳ lân dân tộc Nùng, góp phần phát huy giá trị văn hoá truyền thống

Múa kỳ lân không chỉ tạo không khí rộn ràng trong những ngày lễ, Tết, mà còn thể hiện tinh thần thượng võ, khát vọng về cuộc sống bình an, no đủ của đồng bào Nùng. Loại hình nghệ thuật dân gian này đang được gìn giữ, quảng bá như một nét văn hóa đặc sắc của vùng cao Cao Bằng.

Bảo tồn điệu múa kỳ lân dân tộc Nùng, góp phần phát huy giá trị văn hoá truyền thống

Múa kỳ lân thường xuất hiện trong những dịp lễ, Tết và hội xuân của đồng bào Tày, Nùng. Loại hình nghệ thuật này có nhiều tên gọi như kỳ lân, phụ, loòng phụ…, trong đó “múa kỳ lân” là tên gọi phổ biến tại Cao Bằng.

Theo quan niệm dân gian, kỳ lân là biểu tượng của sự thịnh vượng và phát đạt; đi đến đâu sẽ mang theo niềm vui, hạnh phúc và sự no đủ đến đó. Đồng bào cũng tin rằng những điệu múa mạnh mẽ cùng gương mặt kỳ lân dữ tợn có thể xua đuổi tà ma, dịch bệnh và những điều không may. Bởi vậy, nếu thiếu điệu múa kỳ lân, ngày hội dường như thiếu một phần linh hồn và sắc màu của mùa xuân.

ttdt8328.jpg
Lễ vật, đầu kỳ lân, mặt nạ và các đạo cụ được chuẩn bị trước khi đội múa thực hiện nghi lễ truyền thống của đồng bào Nùng.
ttdt8586-2901.jpg
Nhân vật đeo mặt nạ dẫn dắt kỳ lân, tạo nên những màn tương tác vui nhộn trong buổi trình diễn.
ttdt8592.jpg
Đầu kỳ lân được chế tác thủ công với đôi mắt lớn, miệng rộng, răng nanh dài cùng những họa tiết, màu sắc nổi bật.
ttdt8832.jpg
Kỳ lân đi đầu đoàn nghệ nhân và đồng bào các dân tộc trong không khí rộn ràng của ngày hội tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam.

Một bài múa thường gồm các động tác xuống tấn, đi đường, múa chào, kính bái tại miếu hoặc gian thờ. Xen giữa là những màn biểu diễn quyền, kiếm và binh khí, thể hiện sức mạnh, sự dẻo dai cùng tinh thần thượng võ của người dân miền núi. Tùy không gian và mục đích, đội múa có thể trình diễn các nghi thức chào thần thánh, chúc Tết từng gia đình, múa tại hội Lồng Tồng hoặc kết hợp trò diễn báo đông, mặt khỉ và các bài võ.

1-2.jpg
Nghệ nhân thực hiện động tác xuống tấn, một trong những động tác cơ bản của nghệ thuật múa kỳ lân dân tộc Nùng.
2-2.jpg
Các nhân vật đeo mặt nạ tham gia trò diễn, góp phần tăng tính sinh động và hấp dẫn cho bài múa kỳ lân.
3-2.jpg
Kỳ lân nghiêng mình theo nhịp trống, chiêng trong sự phối hợp nhịp nhàng với các nhân vật phụ họa.
4-2.jpg
Màn trình diễn kỳ lân kết hợp trò diễn mặt nạ tái hiện sinh động nét văn hóa truyền thống của đồng bào Nùng tỉnh Cao Bằng.

Điểm đặc biệt của nghệ thuật này còn nằm ở chiếc đầu kỳ lân được chế tác hoàn toàn thủ công. Để hoàn thành một sản phẩm bền, đẹp, nghệ nhân phải làm việc trong hơn một tuần, trải qua nhiều công đoạn như chọn đất sét, tạo khuôn, phơi khô, dán giấy bồi, sơn vẽ và gắn vải, bông, lông trang trí. Đầu kỳ lân có dáng tròn như chiếc nón rộng vành, nổi bật với đôi mắt lớn, miệng rộng, nanh dài, tai to và bộ râu dữ tợn. Mỗi chiếc có màu sắc, đường nét và thần thái riêng.

Vào những ngày đầu năm mới, người Nùng ở khu vực Trùng Khánh thường mời đội kỳ lân vào nhà biểu diễn. Đội múa đi từ cửa đến ban thờ, gửi lời chúc gia chủ bước sang năm mới bình an, làm ăn thuận lợi. Trước khi đưa đầu kỳ lân đi biểu diễn, người quản lý đội phải thực hiện nghi lễ xin phép thần linh, thể hiện nét tâm linh được gìn giữ qua nhiều thế hệ.

Nghị định số 269/2026/NĐ-CP của Chính phủ "Quy định một số cơ chế, chính sách bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số" quy định rõ:

Ngân sách nhà nước bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ sau đây:

a) Khảo sát, thống kê hoạt động phục hồi, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số;

b) Phục hồi, bảo tồn văn hoá truyền thống có nguy cơ mai một phát huy không gian văn hóa, làng, bản, buôn truyền thống gắn với phát triền du lịch cộng đồng và tạo sinh kế bền vững cho đống bào các dân tộc thiểu số;

c) Hoạt động thực hành, trao truyền của chủ thể văn hóa nòng cốt, chủ thể văn hóa kế cận;

d) Số hóa, ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số, xây dựng các nền tằng số đa ngôn ngữ phục vụ giới thiệu, quảng bá, giáo dục trải nghiệm văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số tới cộng dồng trong nước và nước ngoài.

Lê Phú/ Báo Tin tức và Dân tộc
Dân tộc Nùng

Tên tự gọi: Nồng.

Nhóm địa phương: Nùng Giang, Nùng Xuồng, Nùng An, Nùng Inh, Nùng Lòi, Nùng Cháo, Nùng Phàn Slình, Nùng Quy Rịn, Nùng Dín...

Dân số: 968.800 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng Nùng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai), cùng nhóm với tiếng Tày, tiếng Thái, và nhất là tiếng Choang ở Trung Quốc...

Lịch sử: Người Nùng phần lớn từ Quảng Tây (Trung Quốc) di cư sang cách đây khoảng 200-300 năm.

Hoạt động sản xuất: Người Nùng làm việc rất thành thạo nhưng do cư trú ở những vùng không có điều kiện khai phá ruộng nước cho nên nhiều nơi họ phải sống bằng nương rẫy là chính. Ngoài ngô, lúa họ còn trồng các loại củ, bầu bí, rau xanh...

Họ biết làm nhiều nghề thủ công: dệt, rèn, đúc, đan lát, làm đồ gỗ, làm giấy dó, làm ngói âm dương... Nhiều nghề có truyền thống lâu đời nhưng vẫn là nghề phụ gia đình, thường chỉ làm vào lúc nông nhàn và sản phẩm làm ra phục vụ nhu cầu của gia đình là chính. Hiện nay, một số nghề có xu hướng mai một dần (dệt), một số nghề khác được duy trì và phát triển (rèn). Ở xã Phúc Sen (huyện Quảng Hoà, Cao Bằng) rất nhiều gia đình có lò rèn và hầu như gia đình nào cũng có người biết làm nghề rèn.

Chợ ở vùng người Nùng phát triển. Người ta thường đi chợ phiên để trao đổi mua bán các sản phẩm. Thanh niên, nhất là nhóm Nùng Phàn Slình, thích đi chợ hát giao duyên.

Ăn: Ở nhiều vùng người Nùng ăn ngô là chính. Ngô được xay thành bột để nấu cháo đặc như bánh đúc. Thức ăn thường được chế biến bằng cách rán, xào, nấu, ít khi luộc. Nhiều người kiêng ăn thịt trâu, bò, chó.

Mặc: Y phục truyền thống của người Nùng khá đơn giản, thường làm bằng vải thô tự dệt, nhuộm chàm và hầu như không có thêu thùa trang trí. Nam giới mặc áo cổ đứng, xẻ ngực, có hàng cúc vải. Phụ nữ mặc áo năm thân, cài cúc bên nách phải, thường chỉ dài quá hông.

: Người Nùng cư trú ở các tỉnh Ðông Bắc nước ta, họ thường sống xen kẽ với người Tày. Phần lớn ở nhà sàn. Một số ở nhà đất làm theo kiểu trình tường hoặc xây bằng gạch mộc. Ở ven biên giới trước kia còn có loại nhà làm theo kiểu pháo đài, có lô cốt và lỗ châu mai để chống giặc cướp.

Phương tiện vận chuyển: Các phương thức vận chuyển truyền thống là khiêng, vác, gánh, mang, xách. Hiện nay ở một số địa phương người Nùng sử dụng xe có bánh lốp do các vật kéo để làm phương tiện vận chuyển.

Quan hệ xã hội: Trước Cách mạng tháng Tám, xã hội người Nùng đã đạt đến trình độ phát triển như ở người Tày. Ruộng và nương thâm canh đã biến thành tài sản tư hữu, có thể đem bán hay chuyển nhượng. Hình thành các giai cấp: địa chủ và nông dân.

Cưới xin: Nam nữ được tự do yêu đương, tìm hiểu và khi yêu nhau họ thường trao tặng nhau một số kỷ vật. Các chàng trai tặng các cô gái đòn gánh, giỏ đựng con bông (hắc lì) và giỏ đựng con sợi (cởm lót).Còn các cô gái tặng các chàng trai áo và túi thêu.

Tuy nhiên hôn nhân lại hoàn toàn do bố mẹ quyết định, trên cơ sở hai gia đình có môn đăng hộ đối không và lá số đôi trai gái có hợp nhau hay không. Nhà gái thường thách cưới bằng thịt, gạo, rượu và tiền. Số lượng đồ dẫn cưới càng nhiều thì giá trị của người con gái càng cao. Việc cưới xin gồm nhiều nghi lễ, quan trọng nhất là lễ đưa dâu về nhà chồng. Sau ngày cưới cô dâu vẫn ở nhà bố mẹ đẻ cho đến sắp có con mới về ở hẳn nhà chồng.

Sinh đẻ: Ngoài lễ đặt bàn thờ bà mụ và lễ mừng trẻ đầy tháng ở một số nhóm Nùng còn tổ chức lễ đặt tên cho trẻ khi chúng đến tuổi trưởng thành.

Ma chay: Có nhiều nghi lễ với mục đích chính là đưa hồn người chết về bên kia thế giới.

Nhà mới: Làm nhà mới là một trong nhiều công việc hệ trọng. Vì thế khi làm nhà người ta rất chú ý tới việc chọn đất, xem hướng, chọn ngày dựng nhà và lên nhà mới với ước mong có cuộc sống yên vui, làm ăn phát đạt.

Thờ cúng: Thờ tổ tiên là chính. Bàn thờ đặt ở nơi trang trọng, được trang hoàng đẹp, ở vị trí trung tâm là bức phùng slằn viết bằng chữ Hán cho biết tổ tiên thuộc dòng họ nào. Ngoài ra còn thờ thổ công, Phật bà Quan âm, bà mụ, ma cửa, ma sàn, ma ngoài sàn (phi hang chàn)... và tổ chức cầu cúng khi thiên tai, dịch bệnh... Khác với người Tày, người Nùng tổ chức mừng sinh nhật và không cúng giỗ.

Lễ tết: Người Nùng ăn tết giống như ở người Việt và người Tày.

Lịch: Người Nùng theo âm lịch.

Học: Có chữ nôm Nùng dựa theo chữ Hán, đọc theo tiếng Nùng và chữ Tày - Nùng trên cơ sở chữ cái La-tinh.

Văn nghệ: Sli là hát giao duyên của thanh niên nam nữ dưới hình thức diễn xướng tập thể, thường là đôi nam, đôi nữ hát đối đáp với nhau và được hát theo hai bè.

Người ta thường Sli với nhau trong những ngày hội, ngày lễ, ngày chợ phiên, thậm chí ngay trên tàu, trên xe.

Chơi: Trong các ngày tết, ngày lễ, ngày hội thường có một số trò chơi như tung còn, đánh cầu lông, đánh quay, kéo co...

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Nùng

Có thể bạn quan tâm

Tết mùa đậm bản sắc của đồng bào Giẻ Triêng

Tết mùa đậm bản sắc của đồng bào Giẻ Triêng

Lễ hội “Ăn mừng lúa mới” của đồng bào Giẻ Triêng tại xã Phước Chánh được tái hiện trang trọng, thể hiện lòng biết ơn Giàng và các vị thần linh. Đây còn là dịp cộng đồng sum họp, cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu và gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống.

Lặng lẽ 'giữ hồn' văn hóa truyền thống đồng bào Hre

Lặng lẽ 'giữ hồn' văn hóa truyền thống đồng bào Hre

Mang trong mình âm vang của cồng chiêng và tiếng đàn môi trầm bổng, những người có uy tín ở các xã miền núi Quảng Ngãi đang từng ngày lặng lẽ “giữ hồn” văn hóa Hre. Họ chính là nhịp cầu nối liền quá khứ với hiện tại, đưa âm nhạc truyền thống sống mãi giữa đại ngàn.

Bác sĩ người Mông Lư Thị Súng: Muốn thay đổi cuộc sống, trước hết phải học tập

Bác sĩ người Mông Lư Thị Súng: Muốn thay đổi cuộc sống, trước hết phải học tập

Lư Thị Súng, bác sĩ người Mông (Tuyên Quang), lớn lên trong gia đình cận nghèo, từng vượt nhiều chặng đường đèo, những trở ngại về quan niệm, hủ tục... để đến trường, nỗ lực học tập trở thành bác sĩ. Sau nhiều năm học tập xa quê, chị trở về Mèo Vạc chăm sóc sức khỏe cho đồng bào, góp phần vào những đổi thay trong diện mạo của quê hương.

Hàng nghìn người đội mưa xem Hội đua bò Chùa Rô

Hàng nghìn người đội mưa xem Hội đua bò Chùa Rô

Ngày 13/9, tại sân đua bò Chùa Rô (xã An Cư, tỉnh An Giang), UBND xã An Cư, Ban Quản trị Chùa Rô phối hợp với Trung tâm Truyền hình Việt Nam khu vực Nam Bộ (VTV Nam Bộ) tổ chức Hội đua bò truyền thống Chùa Rô lần thứ XII năm 2026.

Tôn trọng tính xác thực, toàn vẹn và đặc trưng văn hóa truyền thống trong lễ cơm mới của người Thái

Tôn trọng tính xác thực, toàn vẹn và đặc trưng văn hóa truyền thống trong lễ cơm mới của người Thái

Lễ cơm mới (Kin khảu máư) là nghi lễ truyền thống có ý nghĩa quan trọng trong đời sống văn hóa, tín ngưỡng của đồng bào Thái. Hằng năm, vào khoảng tháng 5 - 6 theo lịch Thái, tương ứng với tháng 9 - 10 dương lịch, khi lúa ngoài đồng đã chín, thóc mới được đưa về đầy bồ, các gia đình tổ chức nghi lễ để mừng thành quả sau một mùa lao động.

Mường Lát: Gìn giữ bản sắc văn hóa gắn với phát triển sinh kế

Mường Lát: Gìn giữ bản sắc văn hóa gắn với phát triển sinh kế

Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc đang được xã Mường Lát xác định gắn với phát triển kinh tế xã hội, trong đó chú trọng phục dựng các giá trị truyền thống, phát huy vai trò của nghệ nhân, người có uy tín và xây dựng các mô hình du lịch cộng đồng.

Lễ cầu mùa – nét văn hóa đặc sắc của người Nùng

Lễ cầu mùa – nét văn hóa đặc sắc của người Nùng

Lễ cầu mùa của người Nùng tại Cao Bằng được tổ chức vào “đắp nọi”, ngày cuối cùng của tháng Giêng âm lịch hằng năm. Nghi lễ truyền thống thể hiện lòng biết ơn thần linh, gửi gắm ước vọng về một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, bản làng bình an, no ấm.

Học tập sẽ giúp có thêm cơ hội lựa chọn tương lai, góp phần xây dựng quê hương vùng cao

Học tập sẽ giúp có thêm cơ hội lựa chọn tương lai, góp phần xây dựng quê hương vùng cao

Giàng Thị Sinh, cô gái dân tộc Mông vùng cao ở xã Sà Phìn (Tuyên Quang), đạt 27,31 điểm khối C00 trong kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026 và trúng tuyển ngành Sư phạm Lịch sử - Địa lí, Trường Đại học Sư phạm 2 Hà Nội. Với Sinh, kết quả ấy là niềm vui sau những năm tháng cố gắng và cũng là bước đầu để em theo đuổi ước mơ trở thành cô giáo.

Độc đáo Lễ hội Thắk Côn Khmer giữa lòng Thủ đô

Độc đáo Lễ hội Thắk Côn Khmer giữa lòng Thủ đô

Lễ hội Thắk Côn là một lễ hội truyền thống có ý nghĩa quan trọng trong đời sống văn hóa, tinh thần của cộng đồng Khmer tại thành phố Cần Thơ, được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chính thức ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, ngày 3/6/2025.

Đẩy mạnh dạy tiếng dân tộc, nâng cao năng lực ngoại ngữ cho học sinh

Đẩy mạnh dạy tiếng dân tộc, nâng cao năng lực ngoại ngữ cho học sinh

Thực hiện đề án “Tăng cường dạy và học ngoại ngữ giai đoạn 2025 - 2035, định hướng đến năm 2045”, năm 2027, An Giang tập trung nâng cao chất lượng dạy và học ngôn ngữ, chữ viết của đồng bào Khmer; tăng tốc nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Anh, tiếng Pháp; phát triển đội ngũ giáo viên, học liệu, cơ sở vật chất và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong dạy học ngoại ngữ. Tỉnh đồng thời chuẩn bị các điều kiện để triển khai một số ngoại ngữ khác như tiếng Nhật, tiếng Trung Quốc, tiếng Hàn theo nhu cầu thực tế.

Độc đáo bánh rây của đồng bào Khmer ở An Giang

Độc đáo bánh rây của đồng bào Khmer ở An Giang

Chiều 2/8/2026, trong khuôn khổ Ngày hội Bánh dân gian Nam Bộ - An Giang 2026 (phường Long Xuyên), các nghệ nhân người Khmer đã trình diễn chế biến bánh rây và phục vụ miễn phí 200 chiếc bánh cho người dân, du khách.