Khăn Piêu - biểu tượng văn hóa của người Thái đen Tây Bắc

Khăn Piêu (hay Piêu), trong tiếng Thái gọi là Ba Piều (Piều), là loại khăn đội đầu truyền thống của phụ nữ dân tộc Thái ở vùng Tây Bắc Việt Nam, đặc biệt là phụ nữ nhóm Thái đen. 

Gắn bó với đời sống thường ngày và các nghi lễ quan trọng, khăn Piêu mang nhiều ý nghĩa về văn hóa, đời sống xã hội, tình yêu, hôn nhân và tín ngưỡng. Qua nhiều thế hệ, chiếc khăn không chỉ góp phần tạo nên nét riêng trong trang phục phụ nữ Thái đen mà còn trở thành dấu ấn nhận diện bản sắc văn hóa của cộng đồng.

Không chỉ là một bộ phận của trang phục truyền thống, khăn Piêu còn chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa về lịch sử, đời sống xã hội, tình yêu, hôn nhân, tín ngưỡng và tâm linh. Qua thời gian, chiếc khăn trở thành một biểu tượng văn hóa đặc trưng, góp phần nhận diện bản sắc của người Thái đen ở Tây Bắc.

Khăn Piêu thường được làm từ vải bông nhuộm chàm, hai đầu khăn được thêu trang trí bằng những họa tiết, hoa văn nhiều màu sắc. Khăn có chiều dài phổ biến từ 150–160cm, một số chiếc dài tới 180cm tùy nhu cầu sử dụng. Chiều rộng khăn thường từ 30–40cm, tương ứng với khổ vải dệt thủ công.

baotintuc_tr_co-gai-thai-ben-bep-lua.jpg
Các cô gái Thái đội khăn Piêu ngồi bên bếp lửa.

Nghệ thuật thêu và dấu ấn văn hóa trên khăn Piêu

Điểm nổi bật của khăn Piêu nằm ở nghệ thuật thêu thủ công tinh xảo. Thay vì thêu kín toàn bộ bề mặt, người thêu tập trung trang trí ở hai đầu khăn, mỗi đầu tạo thành một đồ án hoa văn có kích thước khoảng 30–40cm. Các màu sắc thường được sử dụng gồm đỏ, vàng, xanh, hồng, tím và trắng, tạo nên sự tương phản nổi bật trên nền vải chàm.

Đề tài trang trí chủ yếu lấy cảm hứng từ thế giới tự nhiên như cỏ cây, hoa lá, chim muông, mặt trời, các vì sao và một số loài côn trùng. Tùy từng bản, từng mường, cách lựa chọn mô típ, phối màu và sắp xếp bố cục có thể khác nhau, tạo nên sự phong phú trong nghệ thuật trang trí khăn Piêu của người Thái đen.

Xét về kiểu thức thể hiện đồ án trang trí, có thể nhận diện hai dạng chính. Thứ nhất là “Piêu xéo tat”, tức Piêu thêu mảng, thường gọi tắt là Piêu tat. Thứ hai là “Piêu xéo xồn” hay “Piêu xàu”, tức Piêu thêu theo mô típ dạng cột, thường gọi là Piêu xồn hoặc Piêu xàu. Ở một số địa phương, người thêu còn kết hợp cả hai kiểu thức trên trong cùng một chiếc khăn.

pieu1.jpg
Piêu tat, Piêu xồn/xàu và Piêu kết hợp hai dạng thức.

Một nét độc đáo khác là kỹ thuật thêu khăn Piêu. Người thêu thực hiện các đường kim từ mặt trái của khăn để hoa văn hiện lên ở mặt phải. Kỹ thuật này đòi hỏi sự khéo léo, khả năng hình dung bố cục, hình khối và tính kiên trì của người thực hiện.

Bên cạnh hệ thống hoa văn, khăn Piêu còn được nhận diện qua các chi tiết trang trí ở hai đầu khăn, tiêu biểu là “kut Piêu” và “pui Piêu”.

“Kut Piêu” là những nút dẹt có hình dáng gần giống bánh xe, được làm thủ công từ vải đỏ (phải Tà Đèng), bên trong có lõi bằng những sợi chỉ trắng cuốn tròn, bên ngoài được thêu kín bằng các mảng chỉ màu xen kẽ đều đặn. Kut Piêu được đính ở mép hai đầu khăn; riêng “kut pụa”, còn gọi là kut chùm, được gắn ở bốn góc khăn.

Trong khi đó, “pui Piêu” được tạo thành từ những búi chỉ nhiều màu, dài khoảng 2–5cm, hoặc từ vỏ kén tằm nhuộm màu gắn vào mép khăn tại vị trí trang trí hoa văn.

Dựa trên sự kết hợp giữa kut và pui, khăn Piêu có thể được chia thành năm dạng phổ biến: Piêu có kut bộ, với các nút kut được sắp xếp thành bộ gồm 3, 4, 5 chiếc hoặc nhiều hơn, gọi tắt là Piêu kut; Piêu có kut pụa, gọi là Piêu kut pụa; Piêu có pui, gọi là Piêu pui; Piêu kết hợp cả kut và pui, gọi là Piêu kut pui; và Piêu không có kut, pui. Trong đó, Piêu kut và Piêu kut pụa là hai dạng phổ biến nhất.

Sau khi hoàn thành phần thêu, người làm khăn thường dùng vải đỏ viền mép, gọi là “cóp Piêu”, hoặc khâu, thêu cố định mép để các sợi vải không bị xô lệch. Công đoạn cuối cùng là đính kut, pui, hoàn thiện chiếc khăn với những chi tiết trang trí mang dấu ấn riêng.

pieu2.jpg
Một số dạng khăn Piêu gồm Piêu có kut, Piêu có pui và Piêu không có kut, pui.

Khăn Piêu trong đời sống và phong tục của người Thái đen

Khăn Piêu hiện diện trong nhiều hoạt động thường ngày cũng như những sự kiện quan trọng của người Thái đen. Phụ nữ đội khăn khi đi hội, tham gia tục “tung Còn” vào dịp xuân, lên nương rẫy, lao động hoặc dự các cuộc vui. Khăn còn được dùng để quàng cổ, giữ ấm, làm đạo cụ trong múa hát và phục vụ một số nhu cầu khác trong đời sống. Đặc biệt, khăn Piêu là vật dụng không thể thiếu trong lễ ăn hỏi, lễ cưới theo phong tục ở nhiều cộng đồng người Thái đen.

Đối với phụ nữ Thái đen, thêu khăn Piêu không đơn thuần là một kỹ năng nữ công mà còn thể hiện sự khéo léo, tính kiên trì và quá trình trưởng thành. Các bé gái thường bắt đầu học thêu khăn từ khoảng 8–10 tuổi và đến khoảng 14–15 tuổi có thể thêu thành thạo. Những khoảng thời gian đi chăn trâu, lên nương rẫy, nghỉ ngơi hoặc tham gia sinh hoạt cộng đồng đều có thể trở thành dịp để các cô gái tranh thủ thêu thùa.

Đặc biệt, không gian “Hạn Khuống” – nơi trai gái gặp gỡ, giao lưu và hát đối đáp – cũng là dịp để các cô gái thể hiện tài năng, sự khéo léo. Trong ánh lửa, ánh trăng, bên tiếng pí, tiếng tính của các chàng trai, những đường kim, mũi chỉ hòa cùng lời hát giao duyên, góp phần tạo nên những mối tình đẹp và nên duyên vợ chồng.

Trong ngày cưới, cô dâu thường dùng những chiếc khăn Piêu do chính tay mình thêu để làm quà tặng cha mẹ và họ hàng bên chồng. Người Thái có câu: “Piêu kut sam khá pi pả, Piêu kut hả khá da lua”, nghĩa là Piêu kut ba tặng chị chồng, Piêu kut năm tặng bà thím. Tập tục này thể hiện sự kính trọng và cách ứng xử theo thứ bậc trong gia đình. Số lượng kut trên khăn gắn với đối tượng được tặng, qua đó gửi gắm lòng biết ơn, sự trân trọng và mong muốn hòa nhập, vun đắp tình thân với gia đình chồng.

Không chỉ gắn với hôn nhân và gia đình, khăn Piêu còn mang ý nghĩa sâu sắc trong tình yêu đôi lứa. Các cô gái Thái thường thêu tặng người mình yêu một chiếc khăn đẹp như tín vật gửi gắm tình cảm và niềm tin. Chàng trai giữ chiếc khăn bên mình như một kỷ vật của tình yêu.

Theo quan niệm của người Thái đen ở một số địa phương, nếu đôi trai gái nên duyên vợ chồng, chiếc khăn sẽ được hai người gìn giữ cẩn thận. Khi một người qua đời, khăn được cắt làm đôi: Một nửa dùng che mặt người đã khuất để linh hồn yên tâm lên “mường Then” (mường trời); nửa còn lại được người sống giữ đến khi qua đời, rồi mang theo với niềm tin hai người có thể nhận ra nhau khi đoàn tụ ở thế giới bên kia. Tập tục này thể hiện quan niệm về tình yêu thủy chung, gắn bó suốt đời, ngay cả khi con người đã qua đời.

Trong trường hợp hai người yêu nhau nhưng không thể nên duyên vợ chồng, chàng trai vẫn có thể giữ chiếc khăn như một kỷ vật. Chỉ khi phụ tình, chàng trai mới trả lại khăn cho cô gái, như một cách báo hiệu tình cảm đã đổi thay.

Ngoài đời sống gia đình và tình yêu, khăn Piêu còn gắn với một số thực hành tín ngưỡng, tâm linh của người Thái đen như “Xên bản”, “Xên mường”, tang ma và các nghi lễ khác. Trong những bối cảnh này, khăn có thể được sử dụng làm vật phẩm cúng tế, đồ tùy táng hoặc mang những ý nghĩa cụ thể tùy theo phong tục của từng cộng đồng.

baotintuc_tr_khanpieu.jpg
Các cô gái Thái duyên dáng trong chiếc khăn Piêu truyền thống.

Gìn giữ giá trị văn hóa khăn Piêu

Mỗi chiếc khăn Piêu là sự kết tinh của tri thức dân gian và những giá trị văn hóa được trao truyền qua nhiều thế hệ. Từ cách lựa chọn hoa văn, phối màu đến kỹ thuật thêu và tập tục sử dụng, chiếc khăn phản ánh thế giới quan, nhân sinh quan cùng bản sắc văn hóa của cộng đồng người Thái đen vùng Tây Bắc.

Trong đời sống hiện đại, khăn Piêu vẫn được sử dụng trong sinh hoạt văn hóa, các dịp lễ hội và làm quà tặng bạn bè, khách quý. Tuy nhiên, dù xuất hiện trong hoàn cảnh nào, việc hiểu đúng nguồn gốc, ý nghĩa và bối cảnh văn hóa của chiếc khăn vẫn có ý nghĩa quan trọng, góp phần bảo đảm sự tôn trọng đối với di sản văn hóa của cộng đồng.

Với những giá trị văn hóa và tâm linh sâu sắc, khăn Piêu có những điều kiêng kỵ trong sử dụng theo quan niệm của một số cộng đồng người Thái đen. Chẳng hạn, không cắt khăn làm đôi khi người sử dụng còn sống; không tùy tiện dùng khăn để trang trí ở những vị trí không phù hợp trên trang phục; không sử dụng Piêu làm khăn trải bàn, đệm ngồi hoặc đặt ở nơi không sạch sẽ; không vứt bỏ, dẫm đạp hay sử dụng khăn thiếu trang trọng.

Những điều kiêng kỵ này không chỉ là quy tắc sử dụng một vật dụng mà còn thể hiện sự tôn trọng đối với biểu tượng văn hóa đã gắn bó với cộng đồng qua nhiều thế hệ. Vì vậy, khi tìm hiểu và sử dụng khăn Piêu, cần tôn trọng nguồn gốc, bản sắc và quan niệm văn hóa của người Thái đen, tránh áp đặt cách hiểu hoặc sử dụng chiếc khăn theo tập quán của những cộng đồng khác.

Trân trọng khăn Piêu cũng chính là trân trọng nghệ thuật thủ công truyền thống, ký ức cộng đồng, tình yêu, đời sống gia đình, tín ngưỡng và tri thức dân gian của người Thái đen. Việc gìn giữ, thực hành và trao truyền những giá trị ấy sẽ góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa đặc sắc của đồng bào Tây Bắc trong dòng chảy của đời sống hiện đại.

Cầm Trang Thơ
Dân tộc Thái

Tên tự gọi: Tay hoặc Thay

Tên gọi khác: Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ.

Nhóm địa phương: Ngành Ðen (Tay Ðăm), Ngành trắng (Tay Ðón hoặc Khao).

Dân số: 1.550.423 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm.

Hoạt động sản xuất: Người Thái sớm đi vào nghề trồng lúa nước trong hệ thống thuỷ lợi thích hợp được đúc kế như một thành ngữ - "mương, phai, lái, lịn" (khơi mương, đắp đập, dẫn nước qua vật chướng ngại, đặt máng) trên các cánh đồng thung lũng. Họ làm ruộng cấy một vụ lúa nếp, nay chuyển sang 2 vụ lúa tẻ. Họ còn làm nương để trồng thêm lúa, ngô, hoa màu, cây thực phẩm và đặc biệt bông, cây thuốc nhuộm, dâu tằm để dệt vải.

Cót xát rất phổ biến ở vùng người Thái, dùng để trải trên sàn trước khi xếp chiếu phục tay và các tấm đệm ngủ lên trên. Cót được đan bằng cây mạy loi, một loại cây thuộc loài tre, nứa mọc trên núi đá vôi cao.

Ăn: Ngày nay gạo tẻ đã trở thành lương thực chính, gạo nếp vẫn được coi là lương ăn truyền thống. Gạo nếp ngâm, bỏ vào chõ, đặt lên bếp, đồ thành xôi. Trên mâm ăn không thể thiếu được món ớt giã hoà muối, tỏi, có rau thơm, mùi, lá hành... có thể thêm gan gà luộc chín, ruột cá, cá nướng... gọi chung là chéo. Hễ có thịt các con vật ăn cỏ thuộc loài nhai lại thì buộc phải có nước nhúng lấy từ lòng non (nặm pịa). Thịt cá ăn tươi thì làm món nộm, nhúng (lạp, cỏi), ướp muối, thính làm mắm; ăn chín, thích hợp nhất phải kể đến các món chế biến từ cách nướng, lùi, đồ, sấy, sau đó mới đến canh, xào, rang, luộc...

Họ ưa thức ăn có các vị: cay, chua, đắng, chát, bùi, ít dùng các món ngọt, lợ, đậm, nồng... hay uống rượu cần, cất rượu. Người Thái hút thuốc lào bằng điếu ống tre, nứa và chạm bằng mảnh đóm tre ngâm, khô nỏ. Người Thái Trắng trước khi hút còn có lệ mời người xung quanh như trước khi ăn.

Mặc: Cô gái Thái đẹp nhờ mặc áo cánh ngắn, đủ màu sắc, đính khuy bạc hình bướm, nhện, ve sầu... chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân, ăn nhịp với chiếc váy vải màu thâm, hình ống; thắt eo bằng dải lụa màu xanh lá cây; đeo dây xà tích bạc ở bên hông. Ngày lễ có thể vận thêm áo dài đen, xẻ nách, hoặc kiểu chui đầu, hở ngực có hàng khuy bướm của áo cánh, chiết eo, vai phồng, đính vải trang trí ở nách, và đối vai ở phía trước như của Thái Trắng. Nữ Thái Ðen đội khăn piêu nổi tiếng trong các hình hoa văn thêu nhiều màu sắc rực rỡ. Nam người Thái mặc quần cắt để thắt lưng; áo cánh xẻ ngực có túi ở hai bên gấu vạt, áo người Thái Trắng có thêm một túi ở ngực trái; cài khuy tết bằng dây vải. Màu quần áo phổ biến là đen, có thể màu gạch non, hoa kẻ sọc hoặc trắng. Ngày lễ mặc áo đen dài, xẻ nách, bên trong có một lần áo trắng, tương tự để mặc lót. Bình thường cuốn khăn đen theo kiểu mỏ rìu. Khi vào lễ cuốn dải khăn dài một sải tay.

Ở: Ở nhà sàn, dáng vẻ khác nhau: nhà mái tròn khum hình mai rùa, hai đầu mai rùa, hai đầu mái hồi có khau cút; nhà 4 mái mặt bằng sàn hình chữ nhật gần vuông, hiên có lan can; nhà sàn dài, cao, mỗi gian hồi làm tiền sảnh; nhà mái thấp, hẹp lòng, gần giống nhà người Mường.

Phương tiện vận chuyển: Gánh là phổ biến, ngoài ra gùi theo kiểu chằng dây đeo vắt qua trán, dùng ngựa cưỡi, thồ nay. ở dọc các con sông lớn họ rất nổi tiếng trong việc xuôi ngược bằng thuyền đuôi én.

Quan hệ xã hội: Cơ cấu xã hội cổ truyền được gọi là bản mường hay theo chế độ phìa tạo Tông tộc Thái gọi là Ðằm. Mỗi người có 3 quan hệ dòng họ trọng yếu: Ải Noong (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể). (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể).

Cưới xin: Trước kia người Thái theo chế độ hôn nhân mua bán và ở rể nên việc lấy vợ và lấy chồng phải qua nhiều bước, trong đó có 2 bước cơ bản:

Cưới lên (đong khửn) - đưa rể đến cư trú nhà vợ - là bước thử thách phẩm giá, lao động của chàng rể. Người Thái Ðen có tục búi tóc ngược lên đỉnh đầu cho người vợ ngay sau lễ cưới này. Tục ở rể từ 8 đến 12 năm.

Cưới xuống (đong lông) đưa gia đình trở về với họ cha.

Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ theo tư thế ngồi, nhau bỏ vào ống tre đem treo trên cành cây ở rừng. Sản phụ được sưởi lửa, ăn cơm lam và kiêng khem một tháng; ống lam bó đem treo trên cành cây. Có nghi thức dạy trẻ lao động theo giới và mời Lung Ta đến đặt tên chi cháu.

Ma chay: Lễ tang có 2 bước cơ bản:

Pông: Phúng viếng tiễn đưa hồn người chết lên cõi hư vô, đưa thi thể ra rừng chôn (Thái Trắng), thiếu (Thái Ðen).

Xống: gọi ma trở về ngụ ở gian thờ cúng tổ tiên ở trong nhà.

Nhà mới: Dẫn chủ nhân lên nhận nhà Lung Ta châm lửa đốt củi ở bếp mới. Người ta thực hiện tại nghi lễ, cúng đọc bài mo xua đuổi điều ác thu điều lành, cúng tổ tiên, vui chơi.

Lễ tết: Cúng tổ tiên ở người Thái Ðen vào tháng 7, 8 âm lịch. Người Thái Trắng ăn tết theo âm lịch. Bản Mường có cúng thần đất, núi, nước và linh hồn người làm trụ cột.

Lịch: Theo hệ can chi như âm lịch. Lịch của người Thái Ðen chênh với âm lịch 6 tháng.

Học: Người Thái có mẫu tự theo hệ Sanscrit. Họ học theo lệ truyền khẩu. Người Thái có nhiều tác phẩm cổ viết về lịch sử, phong tục, luật tục và văn học.

Văn nghệ: Người Thái có các điệu xoè, các loại sáo lam và tiêu, có hát thơ, đối đáp giao duyên phong phú.

Chơi: Trò chơi của người Thái phổ biến là ném còn, kéo co, đua ngựa, dạo thuyền, bắn nỏ, múa xoè, chơi quay và quả mák lẹ. Nhiều trò chơi cho trẻ em.

Mỗi nhà người Thái thường có hai bếp, một bếp để tiếp khách, sưởi ấm, một bếp khác để nấu cơm. Chõ xôi (ninh đồng, chõ gỗ) được đặt trên 3 ông đầu rau bằng đá. Phía trên bếp có giàn để các thức cần sấy khô. Người Thái thường dùng ghế mây tròn để ngồi quanh bếp.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Thái

Có thể bạn quan tâm

Nét đẹp Lễ cúng máng nước của đồng bào M’Nông

Nét đẹp Lễ cúng máng nước của đồng bào M’Nông

Gắn liền với đời sống sinh hoạt, sản xuất và tín ngưỡng của đồng bào M’Nông, Lễ cúng máng nước là nét đẹp văn hóa truyền thống, thể hiện lòng biết ơn thiên nhiên và ước vọng về cuộc sống bình an, no ấm. Nghi lễ vừa được phục dựng tại thôn Tak Xoai, xã Trà Leng, thành phố Đà Nẵng, góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa, đồng thời nâng cao ý thức bảo vệ nguồn nước và môi trường sinh thái.

Mùa lúa chín – Mùa lễ hội giữa Đại ngàn

Mùa lúa chín – Mùa lễ hội giữa Đại ngàn

Cuối tháng 10, khi những cánh đồng lúa ở khu vực phía Tây tỉnh Quảng Ngãi bắt đầu ngả sang màu vàng, cũng là thời điểm bước vào mùa lễ hội của đồng bào dân tộc thiểu số Xơ Đăng, Bahnar. Với bà con Bahnar nhánh Giơ Lâng là Lễ Ét Đông (Lễ ăn con dúi), còn với bà con Xơ Đăng là Lễ Mừng lúa mới được tổ chức với cùng mong muốn và tạ ơn trời đất cho một vụ mùa bội thu, mang lại sự ấm cúng, bình yên cho dân làng. Những nét văn hóa đặc sắc trong mùa lễ hội của đồng bào Xơ Đăng, Bahnar nơi đây đã cùng vẽ nên “bức tranh” đầy màu sắc của cộng đồng các dân tộc giữa đại ngàn Tây Nguyên.

Độc đáo Tết Raya của người Chăm Islam An Giang

Độc đáo Tết Raya của người Chăm Islam An Giang

Nơi cuối nguồn Tây Nam của tổ quốc, bên dòng sông Hậu hiền hòa bao đời ôm lấy những xóm làng trù phú, có một cộng đồng hình thành từ bao đời nay, gìn giữ và bồi đắp nên một nét đẹp văn hóa đặc sắc với những dấu ấn rất riêng. Đó là đồng bào Chăm Islam An Giang.

Sắc màu văn hóa Lô Lô hội tụ nơi biên cương

Sắc màu văn hóa Lô Lô hội tụ nơi biên cương

Giữa không gian núi đá trùng điệp nơi cực Bắc Tổ quốc, những thanh âm trống đồng, sắc màu trang phục truyền thống và các điệu múa dân gian của đồng bào Lô Lô đã tạo nên một không gian văn hóa đặc sắc tại xã Mèo Vạc, tỉnh Tuyên Quang.

Tây Ninh phát huy sức mạnh đại đoàn kết các dân tộc

Tây Ninh phát huy sức mạnh đại đoàn kết các dân tộc

Tây Ninh có 17 dân tộc thiểu số với 35.589 người, nhiều cộng đồng sinh sống tại các xã biên giới giáp Campuchia. Tỉnh chú trọng hỗ trợ sinh kế, chăm lo giáo dục, y tế, bảo tồn bản sắc văn hóa và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào. 

Quân đội chung tay gìn giữ văn hóa nhà rông

Quân đội chung tay gìn giữ văn hóa nhà rông

Chiều 22/10, Binh đoàn 15 (Bộ Quốc phòng) tổ chức Lễ khánh thành, bàn giao Nhà rông văn hóa tặng nhân dân thôn Giang Lố 1, xã Sa Loong, tỉnh Quảng Ngãi. Công trình có tổng kinh phí hơn 2 tỷ đồng, do Binh đoàn 20 hỗ trợ, Binh đoàn 15 làm chủ đầu tư, Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 732 phối hợp triển khai thực hiện.

Gìn giữ nét đẹp lễ Dâng y Kathina

Gìn giữ nét đẹp lễ Dâng y Kathina

Sáng 22/10, Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh An Giang trang trọng tổ chức lễ Dâng y Kathina năm 2026, với sự tham dự của chư Tôn trưởng lão Hòa thượng, Thượng tọa, chư Tăng, sư trụ trì 66 chùa Phật giáo Nam tông Khmer cùng đông đảo đồng bào, Phật tử.

Giữ hồn thổ cẩm trong nhịp sống đương đại

Giữ hồn thổ cẩm trong nhịp sống đương đại

Tháng 6/2025, nghề dệt thổ cẩm của đồng bào Thái ở Nghệ An được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, tạo thêm cơ hội bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống gắn với phát triển du lịch cộng đồng.

Gìn giữ sắc chàm của người Nùng An

Gìn giữ sắc chàm của người Nùng An

Giữa nhịp sống hiện đại, khi nhiều giá trị truyền thống đứng trước nguy cơ mai một, Nùng Indigo (xóm Khào, xã Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng) trở thành điểm đến góp phần gìn giữ và lan tỏa sắc chàm đặc trưng của người Nùng An, mang đến trải nghiệm văn hóa gần gũi cho du khách.

Lan tỏa sắc màu văn hóa các dân tộc xứ Thanh

Lan tỏa sắc màu văn hóa các dân tộc xứ Thanh

Với chủ đề “Sắc màu văn hóa xứ Thanh”, từ ngày 22 - 24/11, tỉnh Thanh Hóa tổ chức Ngày hội Văn hóa các dân tộc tỉnh Thanh Hóa năm 2026 tại Quảng trường Lam Sơn, phường Hạc Thành.