Diễn ra trong hai ngày 23 và 24/10, Ngày hội văn hóa dân tộc Lô Lô gắn với giao lưu văn hóa Việt - Trung năm 2026 mang chủ đề “Sắc màu Lô Lô - Hội tụ và lan tỏa” là dịp tôn vinh những giá trị văn hóa truyền thống, tăng cường giao lưu hữu nghị giữa nhân dân hai nước, đồng thời mở ra cơ hội quảng bá du lịch cộng đồng trên vùng Cao nguyên đá Đồng Văn.
Tiếng trống đồng ngân vang giữa miền đá
Từ chiều 23/10, không khí ngày hội đã lan tỏa trên những tuyến đường dẫn từ Nhà văn hóa dân tộc Lô Lô thôn Sảng Pả đến Quảng trường trung tâm xã Mèo Vạc. Trong những bộ trang phục truyền thống rực rỡ sắc màu, đồng bào Lô Lô cùng các nghệ nhân, diễn viên tham gia hoạt động diễu hành đường phố, mang đến cho vùng cao nguyên đá một không gian văn hóa vui tươi, đậm đà bản sắc.
Nổi bật giữa dòng người là những bộ trang phục của phụ nữ Lô Lô hoa, được tạo nên từ hàng nghìn mảnh vải nhỏ với các họa tiết hình học tinh xảo, phối màu hài hòa. Mỗi đường kim, mũi chỉ thể hiện sự khéo léo, óc thẩm mỹ và tình yêu văn hóa truyền thống của người phụ nữ vùng cao. Qua nhiều thế hệ, những bộ trang phục ấy vẫn được gìn giữ, trở thành dấu hiệu nhận diện văn hóa độc đáo của cộng đồng Lô Lô sinh sống trên miền đá.
Điểm nhấn của Ngày hội là chương trình nghệ thuật “Sắc chàm kể chuyện”, diễn ra tối 23/10 tại Quảng trường trung tâm xã Mèo Vạc. Với sự tham gia của các nghệ nhân, diễn viên địa phương cùng Đoàn nghệ thuật huyện Phú Ninh, tỉnh Vân Nam và huyện Nà Po, Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây (Trung Quốc), chương trình tạo nên cuộc gặp gỡ giữa những sắc màu văn hóa vùng biên. Những tiết mục nghệ thuật dân gian, âm thanh trống đồng và các điệu múa truyền thống đã góp phần giới thiệu đời sống tinh thần phong phú của đồng bào các dân tộc, gửi gắm thông điệp về tình đoàn kết, hữu nghị và sự gắn bó giữa nhân dân hai bên biên giới.
Trong đời sống văn hóa của người Lô Lô, trống đồng giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Tiếng trống gắn với những nghi lễ truyền thống, thể hiện quan niệm về cội nguồn, cộng đồng và mối liên hệ giữa con người với thế giới tâm linh. Bởi vậy, việc đưa tiếng trống đồng trở thành mạch dẫn xuyên suốt các hoạt động của Ngày hội mang ý nghĩa sâu sắc, giúp công chúng hiểu thêm về một di sản văn hóa được đồng bào trân trọng gìn giữ qua nhiều thế hệ.
Ngày 24/10, tại Nhà văn hóa dân tộc Lô Lô thôn Sảng Pả, chương trình tiếp tục với hoạt động giới thiệu, tái hiện lễ Rửa làng, một nghi lễ mang đậm dấu ấn tín ngưỡng dân gian của cộng đồng. Theo quan niệm truyền thống, nghi lễ gửi gắm ước vọng về sự bình an, sức khỏe, cuộc sống thuận hòa và những điều tốt đẹp đến với bản làng. Thông qua việc giới thiệu nghi lễ trong không gian văn hóa cộng đồng, những giá trị tinh thần vốn được lưu truyền trong đời sống đồng bào có thêm điều kiện để thế hệ trẻ và du khách tìm hiểu, cảm nhận.
Cùng với các hoạt động nghi lễ, Ngày hội dành không gian để người dân và du khách trực tiếp trải nghiệm văn hóa Lô Lô thông qua bốn chủ đề: “Sợi chàm”, “Sắc chàm trên da”, “Tiếng trống trong lòng tay” và “Mùi ngô mới”. Tại đây, du khách có thể tìm hiểu kỹ thuật thêu, ghép vải, mặc thử trang phục truyền thống, trải nghiệm đánh trống đồng và thưởng thức những món ăn được chế biến từ ngô cùng các sản vật địa phương. Cách tổ chức này góp phần đưa những giá trị văn hóa từ không gian trình diễn đến gần hơn với đời sống, tạo điều kiện để du khách tham gia, khám phá và hiểu thêm về phong tục, tập quán của đồng bào.
Ông Hoàng Văn Hùng, Chủ tịch UBND xã Mèo Vạc cho biết, việc tổ chức Ngày hội văn hóa dân tộc Lô Lô gắn với giao lưu văn hóa Việt - Trung là hoạt động có ý nghĩa trong công tác bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc trên địa bàn. Thông qua Ngày hội, địa phương mong muốn khơi dậy niềm tự hào của đồng bào đối với những giá trị truyền thống, nhất là trong thế hệ trẻ; đồng thời tạo điều kiện để các nghệ nhân trao truyền tri thức dân gian, giới thiệu những nét văn hóa đặc sắc của cộng đồng tới nhân dân và du khách. Xã xác định việc gìn giữ di sản phải gắn với vai trò chủ thể của người dân để văn hóa truyền thống tiếp tục được nuôi dưỡng trong đời sống hằng ngày.
Từ di sản văn hóa đến sức hút du lịch cộng đồng
Nằm trên vùng Cao nguyên đá Đồng Văn, Mèo Vạc được biết đến với cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, những cung đường uốn lượn qua núi đá, đèo Mã Pì Lèng và dòng Nho Quế xanh biếc. Bên cạnh những danh thắng nổi tiếng, vùng đất này còn lưu giữ kho tàng văn hóa phong phú của các dân tộc Mông, Lô Lô, Dao, Giáy và nhiều cộng đồng cư dân khác. Chính sự giao thoa giữa cảnh quan thiên nhiên và đời sống văn hóa truyền thống đã tạo nên sức hấp dẫn riêng của du lịch Mèo Vạc.
Khác với những điểm đến chủ yếu khai thác cảnh quan thiên nhiên, du lịch cộng đồng tại Sảng Pả có thể tạo dấu ấn từ chính những sinh hoạt văn hóa thường ngày. Du khách đến đây được tìm hiểu cách người phụ nữ Lô Lô tạo nên những họa tiết trên trang phục, khám phá ý nghĩa của tiếng trống đồng, thưởng thức ẩm thực truyền thống và lắng nghe những câu chuyện về phong tục, tập quán của bản làng. Mỗi trải nghiệm góp phần làm phong phú hành trình du lịch, đồng thời tạo cơ hội để người dân tham gia cung cấp dịch vụ, giới thiệu sản phẩm thủ công và nâng cao thu nhập.
Theo bà Nguyễn Thị Sơn, Trưởng phòng Văn hóa - Xã hội xã Mèo Vạc, việc xây dựng các hoạt động trải nghiệm trong Ngày hội hướng tới mục tiêu để người dân và du khách được tiếp cận văn hóa truyền thống một cách gần gũi, sinh động. Địa phương chú trọng phát huy vai trò của các nghệ nhân, người am hiểu phong tục, tập quán trong việc giới thiệu và trao truyền những giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc Lô Lô. Cùng với đó, xã định hướng gắn hoạt động bảo tồn văn hóa với phát triển du lịch cộng đồng, khuyến khích người dân gìn giữ nghề thủ công, trang phục truyền thống, ẩm thực và các hình thức sinh hoạt văn hóa đặc trưng, từng bước tạo thêm sinh kế từ chính những giá trị văn hóa của quê hương.
Một điểm đáng chú ý của Ngày hội năm nay là hoạt động giao lưu văn hóa Việt - Trung được tổ chức trong không gian văn hóa của đồng bào Lô Lô. Sự hiện diện của các đoàn nghệ thuật đến từ tỉnh Vân Nam và Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây góp phần làm phong phú nội dung chương trình, tạo cơ hội để nghệ nhân, diễn viên và nhân dân hai nước giao lưu, tìm hiểu những nét tương đồng và khác biệt trong đời sống văn hóa. Qua đó, những giá trị văn hóa truyền thống được giới thiệu rộng rãi hơn, đồng thời góp phần vun đắp tình hữu nghị, tăng cường sự hiểu biết và gắn kết giữa cộng đồng dân cư vùng biên giới.
Anh Nguyễn Đức Hà, du khách đến từ TP Hồ Chí Minh tham dự Ngày hội chia sẻ, điều để lại ấn tượng sâu sắc là những bộ trang phục nhiều màu sắc và âm thanh trống đồng của người Lô Lô. Qua các hoạt động trải nghiệm, chúng tôi có thể hiểu thêm về sự công phu trong nghề thủ công truyền thống cũng như ý nghĩa của những phong tục được đồng bào gìn giữ. Những trải nghiệm văn hóa gần gũi, chân thực như vậy tạo nên nét hấp dẫn riêng, khiến chuyến đi đến vùng cao nguyên đá trở nên đáng nhớ hơn.
Khép lại Ngày hội là nghi thức “Cất tiếng trống - Gửi lời hẹn”, mang theo thông điệp về sự tiếp nối và lan tỏa những giá trị văn hóa tốt đẹp. Tiếng trống đồng của người Lô Lô, những sắc màu thổ cẩm và tình cảm chân thành của đồng bào vùng cao để lại dấu ấn về một miền đất giàu bản sắc, thân thiện và mến khách.
Từ những giá trị được gìn giữ qua nhiều thế hệ, văn hóa Lô Lô đang tiếp tục hiện diện trong đời sống hôm nay, trở thành nguồn lực quý báu để Mèo Vạc phát triển du lịch cộng đồng. Ngày hội khép lại, nhưng những thanh âm và sắc màu văn hóa nơi biên cương vẫn tiếp tục được trao truyền, góp phần làm giàu thêm bản sắc văn hóa các dân tộc trên vùng Cao nguyên đá Đồng Văn
Tên tự gọi: Lô Lô.
Tên gọi khác: Mùn Di, Di, Màn Di, La La, Qua La, Ô Man, Lu Lộc Màn.
Nhóm địa phương: Lô Lô hoa và Lô Lô đen.
Dân số: 4.541 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng-Miến (ngữ hệ Hán-Tạng), gần với Miến hơn.
Lịch sử: Họ là cư dân có mặt rất sớm ở vùng cực bắc của Hà Giang.
Hoạt động sản xuất: Người Lô Lô chủ yếu làm ruộng nước và nương định canh với các cây trồng chính như lúa nếp, lúa tẻ và ngô. Chăn nuôi gia đình tương đối phát triển và là một nguồn lợi đáng kể.
Ăn: Người Lô Lô chủ yếu ăn ngô bằng cách xay thành bột đồ chín. Bữa ăn phải có canh. Họ thường dùng bát và thìa bằng gỗ.
Mặc: Phụ nữ có nhóm mặc áo cổ tròn, xẻ ngực, có nhóm mặc áo cổ vuông chui đầu, quần chân què, có nơi bên ngoài còn quấn xà cạp. Trang trí trên y phục bằng hoa văn chắp ghép những mảng vải màu to. Họ có sử dụng hoa văn in bằng sáp ong.
Ở: Tuỳ từng nơi họ sống trong ba loại nhà: nhà trệt, nhà sàn hoặc nhà nửa sàn nửa đất ở các huyện Ðồng Văn, Mèo Vạc (Hà Giang), Bảo Lạc (Cao Bằng), Mường Khương (Lào Cai).
Phương tiện vận chuyển: Người Lô Lô quen dùng gùi đan bằng mây, giang, có hai quai để chuyên chở; địu trẻ em trên lưng khi đi xa hoặc lúc làm việc.
Quan hệ xã hội: Người Lô Lô sống tập trung trong các bản tương đối ổn định. Tính cộng đồng tộc người thể hiện rõ nét.
Có hơn 30 dòng họ khác nhau. Mỗi dòng họ thường quần tụ trong phạm vi một làng bản, thờ cúng chung một ông tổ và có một khu nghĩa địa riêng nằm trong nghĩa địa chung của công xã. Người Lô Lô thích các quan hệ hôn nhân nội tộc người và thực hiện nguyên tắc ngoại hôn giữa các dòng họ.
Cưới xin: Phong tục cưới xin của người Lô Lô mang nặng tính gả bán với việc thách cưới cao (bạc trắng, rượu, thịt...). Sau hôn nhân, cô dâu cư trú bên chồng. Con trai cô có thể lấy con gái cậu song không được ngược lại.
Sinh đẻ: Phụ nữ khi mang thai phải kiêng kỵ nhiều trong chế độ ăn uống và sản xuất. Sản phụ đẻ ở nhà với sự giúp đỡ của bà mụ trong bản. Sau 12 ngày làm lễ đặt tên cho con và có thể đổi tên nếu đứa trẻ hay khóc hoặc chậm lớn.
Ma chay: Tang ma có nhiều lễ thức độc đáo như hoá trang, nhảy múa, đánh lộn... Dấu vết của tục săn đầu còn thể hiện khá rõ ở hiện tượng một người luôn đeo chiếc túi vải có đựng khúc gỗ hay quả bầu có vẽ mặt người trong tang lễ.
Thờ cúng: Người Lô Lô thờ cúng tổ tiên, bố mẹ và những người thân đã mất. Trên bàn thờ có những bài vị hình nhân bằng gỗ, vẽ mặt bằng than đen. Linh hồn giữ vị trí quan trọng trong đời sống tâm linh.
Lễ tết: Tết Nguyên đán như người Hán và người Việt. Ngoài ra còn có tục ăn Cơm mới, tết Ðoan ngọ, Rằm tháng Bảy...
Lịch: Họ sử dụng lịch truyền miệng chia năm thành 11 tháng, mỗi tháng tương ứng với một con vật.
Học: Khoảng thế kỷ thứ 14 người Lô Lô đã có chữ tượng hình với 140 bộ thủ. Người ta dùng phương pháp ghép bộ thủ để diễn đạt nghĩa. Chữ được ghi trên các tấm gỗ mỏng, trên da thú hoặc loại giấy dày, thô. Tới nay chỉ có một số gia đình còn giữ lại được một vài mảnh có ghi lại loại chữ đó mà ít ai đọc được.
Văn nghệ: Là một trong số ít các dân tộc ở nước ta hiện nay còn sử dụng trống đồng trong sinh hoạt. Trống đồng là một nhạc cụ truyền thống của người Lô Lô gắn liền với huyền thoại về nạn hồng thuỷ. Truyện kể rằng: xưa có nạn lụt lớn, nước dâng cao đến tận trời. Có hai chị em nhờ trời cứu để chị vào trống đồng to, em vào trống đồng nhỏ. Hai chị em thoát chết nhờ trống nổi lên mặt nước. Hết lụt họ ở trên núi, sống với nhau thành vợ, thành chồng. Họ là thuỷ tổ của loài người tái sinh.
Trống đồng với tư cách là nhạc khí chỉ được dùng trong đám tang, giữ nhịp cho các điệu múa dân gian của cộng đồng. Quan niệm về âm dương, sự sinh sôi nảy nở có lẽ còn được bảo tồn rõ ràng với lối hoà tấu hai trống đực và cái cùng một lúc. Trống treo trên giá đặt ở phía chân người chết; mặt của hai trống quay lại với nhau. Người đánh trống đứng ở giữa, cầm dùi đánh bằng hai đầu, cứ một đầu dùi đánh một trống. Chỉ những người đàn ông chưa vợ hoặc có vợ không ở trong thời kỳ thai nghén mới được đánh trống.
Trống đồng không những là một tài sản quý, một nhạc cụ độc đáo mà còn là một khí cụ mang tính chất tôn giáo. Có tiếng trống đồng thì hồn người chết mới tìm được đường về nơi sinh tụ đầu tiên của tổ tiên. Chỉ có trong đám ma mới đánh trống đồng. Ngày thường, người ra chôn trống dưới đất ở nơi sạch sẽ, kín đáo.
Theo cema.gov.vn