Bảo tồn, nhân rộng nguồn gen nấm Linh chi Vườn Quốc gia Phước Bình

Bảo tồn, nhân rộng nguồn gen nấm Linh chi Vườn Quốc gia Phước Bình
Mô hình trồng nấm Linh chi bán tự nhiên dưới tán rừng tại Vườn quốc gia Phước Bình. Ảnh: Nguyễn Thành – TTXVN
Mô hình trồng nấm Linh chi bán tự nhiên dưới tán rừng tại Vườn quốc gia Phước Bình. Ảnh: Nguyễn Thành – TTXVN

Hoạt động nghiên cứu này trên nằm trong khuôn khổ dự án “Bảo tồn nguồn gen nấm Linh chi có nguồn gốc từ Vườn quốc gia Phước Bình” do Ban Quản lý Vườn Quốc gia Phước Bình chủ trì, phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Ninh Thuận, Viện Công nghệ sinh học và Thực phẩm (Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh), Viện Thực phẩm chức năng thực hiện từ tháng 10/2016 đến tháng 9/2019 với tổng kinh phí gần 2 tỷ đồng.

Kỹ sư Lưu Văn Luông, Vườn Quốc gia Phước Bình cho biết, nhóm nghiên cứu đã khảo sát, điều tra trên toàn bộ diện tích Vườn Quốc gia Phước Bình để thu thập các mẫu nấm thuộc nấm Linh chi; đồng thời tiến hành giám định gen DNA cho 8 loài để định danh và bổ sung danh lục thực vật. Theo đó, Vườn Quốc gia Phước Bình đã tuyển chọn hai loài Linh chi đỏ (Ganoderma Lucidum) và Linh chi đen (Humphreya endertii) phân lập bảo tồn an toàn nguồn gen.

Kiểm tra mô hình trồng nấm Linh chi bán tự nhiên dưới tán rừng tại Vườn quốc gia Phước Bình. Ảnh: Nguyễn Thành – TTXVN
Kiểm tra mô hình trồng nấm Linh chi bán tự nhiên dưới tán rừng tại Vườn quốc gia Phước Bình. Ảnh: Nguyễn Thành – TTXVN

Việc bảo tồn nguồn gen nấm Linh chi được thực hiện theo phương pháp bảo tồn chuyển chỗ tại các phòng thí nghiệm; đồng thời Vườn Quốc gia Phước Bình triển khai mô hình bảo tồn, sản xuất tại chỗ nấm Linh chi đỏ và nấm Linh chi đen trong môi trường nhà nấm và trồng trong điều kiện bán tự nhiên dưới tán rừng để bảo tồn nguồn gen. Từ đó, Vườn đánh giá, hoàn thiện quy trình kỹ thuật nuôi trồng để chuyển giao cho người dân trồng nhân rộng.

Theo các chỉ số nghiên cứu, thời gian từ khi cấy giống đến lúc thu hoạch đối với nấm Linh chi đỏ là 68 ngày, trong đó thời gian xuất hiện quả thể nấm 35 ngày sau khi cấy giống. Thời gian từ khi xuất hiện quả thể đến thu hoạch 33 ngày. Đối với nấm Linh chi đen, thời gian từ khi cấy giống đến lúc thu hoạch lứa đầu tiên là 88 ngày, trong đó, thời gian xuất hiện quả thể nấm 38 ngày sau khi cấy giống, thời gian từ quả thể đến thu hoạch 50 ngày.

Khoảng cách giữa lứa thứ nhất và lứa thứ hai cách nhau từ 10 – 12 ngày (sau khi thu hoạch lứa thứ nhất cách 10 - 12 ngày, quả thể nấm lứa thứ hai xuất hiện). Nếu chăm sóc tốt, cả hai loại nấm Linh chi đỏ và Linh chi đen có thể cho thu hoạch 3 đợt. Về năng suất tính trên diện tích 30 mét vuông trồng 1.000 phôi nấm, Linh chi đỏ cho năng suất 23,95 kg nấm khô/1.000 phôi nấm; Linh chi đen cho năng suất 11,55 kg nấm khô/1.000 phôi (tỷ lệ nấm tươi/khô là 3:1).

Cán bộ Vườn quốc gia Phước Bình hướng dẫn kỹ thuật trồng nấm Linh chi cho người dân xã Phước Bình (huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận). Ảnh: Nguyễn Thành – TTXVN
Cán bộ Vườn quốc gia Phước Bình hướng dẫn kỹ thuật trồng nấm Linh chi cho người dân xã Phước Bình (huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận). Ảnh: Nguyễn Thành – TTXVN

Ông Nguyễn Anh Tuấn, Phó trưởng Phòng Khoa học và Hợp tác quốc tế, Vườn Quốc gia Phước Bình cho hay, dự án “Bảo tồn nguồn gen nấm Linh chi có nguồn gốc từ Vườn Quốc gia Phước Bình” có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo tồn nguồn gen nấm Linh chi quý hiếm của Ninh Thuận. Đơn vị đã phối hợp với các cơ quan, tổ chức nghiên cứu khoa học phân tích, công bố các hoạt chất dược liệu của nấm Linh chi phân bố ở Vườn Quốc gia Phước Bình.

Để bảo tồn nguồn gen nấm Linh chi và phát triển kinh tế cho nhân dân, Vườn Quốc gia Phước Bình đang đẩy mạnh các hoạt động tập huấn cho các hộ dân sống xung quanh vườn quốc gia về kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hoạch nấm Linh chi. Đồng thời, Vườn hỗ trợ kinh phí xây nhà trồng, phôi giống cho 5 hộ (500 bịch phôi nấm/hộ) trồng thử nghiệm. Hiện nay, mô hình trồng nấm Linh chi của 5 hộ đều phát triển tốt, chuẩn bị cho thu hoạch đợt đầu tiên.

Mô hình trồng nấm Linh chi trong nhà của hộ ông Pi Năng Thông (xã Phước Bình, huyện Bác Ái). Ảnh: Nguyễn Thành - TTXVN
Mô hình trồng nấm Linh chi trong nhà của hộ ông Pi Năng Thông (xã Phước Bình, huyện Bác Ái). Ảnh: Nguyễn Thành - TTXVN

Việc nuôi trồng nấm Linh chi đỏ và nấm Linh chi đen khá đơn giản với chi phí đầu tư thấp, không cần diện tích lớn, ít tốn công chăm sóc. Các hộ nghèo có thể áp dụng mô hình trồng nấm Linh dưới tán rừng, vườn cây ăn trái, tận dụng vật liệu sẵn có như tre, nứa làm khung đỡ giá thể nấm. Điều kiện khí hậu dưới tán cây rừng mát mẻ, độ ẩm duy trì ở mức cao, tính cân bằng tự nhiên môi trường rừng ít xuất hiện những bệnh do côn trùng gây ra giúp nấm sinh trưởng, phát triển tốt.

Theo Trung tâm thông tin - ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ (Sở Khoa học và Công nghệ Ninh Thuận), trên thị trường, nấm Linh chi hiện có giá từ vài trăm ngàn đến hàng triệu đồng/kg tùy theo chủng loại. Nấm Linh chi có giá trị dinh dưỡng cao, hàm lượng protein chiếm 30 – 40%, giàu khoáng chất, đủ 8 acid amin thiết yếu, nhiều loại vitamin và các nguyên tố vi lượng, các hoạt chất sinh học có tác dụng làm trẻ hóa tế bào, chống béo phì, cao huyết áp, tiểu đường, viêm gan, đặc biệt có khả năng kìm hãm sự phát triển của tế bào ung thư.

Thời gian tới, bên cạnh công tác bảo tồn các loại nấm Linh chi, Ban Quản lý Vườn Quốc gia Phước Bình tiếp tục hỗ trợ, hướng dẫn kỹ thuật trồng các loại nấm Linh chi cho các hộ dân trong vùng. Đồng thời, Vườn phối hợp với các sở, ban ngành hỗ trợ nguồn vốn giúp người dân phát triển mô hình trồng nấm Linh chi, liên kết với doanh nghiệp xây dựng chuỗi sản xuất, hướng đến phát triển thương hiệu sản phẩm nấm Linh chi đặc sản của Phước Bình.
Nguyễn Thành

Có thể bạn quan tâm

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Ở vùng biên giới Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên, nơi điều kiện tiếp cận công nghệ của người dân còn hạn chế, những người lính Đồn Biên phòng Nậm Nhừ đang tìm cách đưa thông tin chính thống và kỹ năng số đến gần hơn với từng bản làng. Từ những chiếc điện thoại, mã QR đến loa truyền thanh di động, họ đang trở thành những “người lính truyền thông số”, giúp bà con chủ động hơn trong tiếp cận thông tin và bảo vệ mình trên không gian mạng.

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Thực hiện chủ trương sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục công lập, năm học 2026-2027, hệ thống trường học trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk bước vào giai đoạn vận hành theo mô hình mới. Toàn tỉnh giảm 642/1.267 cơ sở giáo dục, tương đương 50,7%. Quy mô mạng lưới thay đổi kéo theo những thay đổi lớn về tổ chức, đội ngũ và phương thức quản lý. Những ngày đầu vận hành cho thấy, các trường cơ bản bảo đảm việc dạy và học; đồng thời bắt đầu nhận diện những thuận lợi, khó khăn và từng bước điều chỉnh cách quản trị để phù hợp với mô hình mới.

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Những ngày đầu năm học mới, ở ngôi trường lần đầu vang lên tiếng trống khai trường, 95 học sinh có hoàn cảnh đặc biệt đã bắt đầu một hành trình mới. Các em là con thương binh, liệt sĩ Công an nhân dân, trẻ em dân tộc thiểu số và học sinh thuộc diện bảo trợ xã hội, có hoàn cảnh khó khăn. Từ năm học 2026 – 2027, Trường Văn hóa Công an nhân dân IV tại Tây Ninh trở thành mái nhà chung, nơi các em được chở che, học tập, rèn luyện và tự tin nuôi dưỡng ước mơ.

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Công nghệ số đang ngày càng khẳng định vai trò kỳ diệu trong việc rút ngắn khoảng cách địa lý ở các thôn, bản vùng cao, biên giới Lào Cai. Các mô hình thí điểm thôn số tiêu biểu đã được triển khai bước đầu cho thấy hiệu quả vượt trội trong xóa nghèo công nghệ từ cấp cơ sở; góp phần hình thành thói quen ứng dụng công nghệ số tại cộng đồng dân cư; nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Những năm qua, giáo dục tại các xã biên giới của tỉnh Tây Ninh đã có nhiều chuyển biến tích cực khi mạng lưới trường lớp ngày càng hoàn thiện, tỷ lệ huy động học sinh đến trường được duy trì ở mức cao, chất lượng giáo dục từng bước nâng lên. Tuy nhiên, vẫn còn đó không ít “điểm nghẽn” về điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất và nguồn lực đầu tư đòi hỏi sớm được tháo gỡ nhằm phát triển nguồn nhân lực, giữ dân và giữ vững vùng biên giới.

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Phong trào “Bình dân học vụ số” cùng các chiến dịch như “Mùa hè số cùng VNeID” trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đang được triển khai đồng bộ, tạo chuyển biến tích cực trong chuyển đổi số. Đặc biệt tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, những tiện ích số đang dần được "phủ xanh", phục vụ thiết thực cho cuộc sống hằng ngày của người dân.

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Sáng 27/8, tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Cao Bằng, UBND tỉnh phối hợp với Bộ Công an tổ chức Lễ khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật. Buổi lễ có sự tham dự của Thượng tướng Nguyễn Văn Long, Thứ trưởng Bộ Công an cùng nhiều lãnh đạo Bộ Công an.

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Giảm chi phí, chủ động phòng bệnh, nâng cao chất lượng đàn vật nuôi và bảo vệ môi trường đang là những yêu cầu thiết yếu được người chăn nuôi quan tâm. Từ những thay đổi trong cách chăm sóc, vệ sinh chuồng trại đến xử lý chất thải bằng các giải pháp sinh học, nhiều hộ dân tại Bắc Ninh đang từng bước hình thành phương thức chăn nuôi an toàn, hiệu quả và bền vững.

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Thực hiện sắp xếp cơ sở giáo dục công lập theo hướng tinh gọn, quy mô hợp lý, tỉnh Lạng Sơn đặt mục tiêu giảm mạnh đầu mối, tập trung nguồn lực cho dạy và học; đồng thời bảo đảm quyền học tập của học sinh và phù hợp với đặc thù địa bàn miền núi, biên giới.

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Với những học sinh ở vùng sâu, vùng xa, mô hình trường nội trú không chỉ tạo điều kiện học tập thuận lợi mà còn mở thêm cơ hội tiếp cận giáo dục, từng bước thu hẹp khoảng cách vùng miền. Những ngày này, Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Ia R’vê, xã biên giới Ia R’vê, tỉnh Đắk Lắk, đang khẩn trương hoàn thiện cơ sở vật chất, tổ chức tuyển sinh và vận động học sinh đến trường.

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Những ngày đầu tháng 8, tại nhiều trường tiểu học ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Lắk, các lớp tăng cường tiếng Việt cho trẻ chuẩn bị vào lớp Một diễn ra trong không khí gần gũi, nhẹ nhàng. Từ những con chữ đầu tiên, các em được làm quen với tiếng Việt, trường lớp và nền nếp học tập, tạo tâm thế vững vàng trước khi bước vào năm học mới.

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Tảo hôn là vấn đề ảnh hưởng đến chất lượng dân số và cơ hội phát triển của trẻ em, thanh thiếu niên ở một số địa bàn vùng cao. Để thay đổi nhận thức, tuổi trẻ Điện Biên đã tích cực đổi mới cách tuyên truyền, đồng thời tạo điều kiện để thanh niên học tập, học nghề, lập nghiệp trước khi xây dựng gia đình.

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Đắk Lắk là địa phương có tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số cao, địa bàn rộng, nhiều vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, bãi ngang. Chỉ còn ít tuần nữa năm học 2026-2027 sẽ bắt đầu. Tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, công tác chuẩn bị trường lớp, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và vận động học sinh ra lớp đang được triển khai khẩn trương, với mục tiêu bảo đảm các điều kiện tốt nhất trước ngày khai giảng.

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên đang đẩy mạnh phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca theo hướng tập trung, liên kết sản xuất. Cùng với hoàn thành diện tích trồng mới, các địa phương chú trọng hướng dẫn người dân chăm sóc, trồng dặm, phòng trừ sâu bệnh, tạo nền tảng nâng cao năng suất và hiệu quả cây trồng.