Hiện không khí chuẩn bị cho ngày hội lớn của toàn dân đang lan tỏa đến từng bản làng, vùng sâu, vùng xa trên khắp mọi miền đất nước.
Dù điều kiện địa lý còn nhiều khó khăn, giao thông cách trở, song các địa phương đã triển khai linh hoạt, sáng tạo để đưa thông tin bầu cử đến với mọi người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số và các nhóm cử tri yếu thế.
Đa dạng phương thức thông tin
Tại bản Na Ấu, xã biên giới Tam Thanh, những ngày này tuyến đường vào bản trở nên rực rỡ hơn với cờ hoa, pano, áp phích và các khẩu hiệu chào mừng ngày bầu cử được treo trang trọng. Tại nhà văn hóa bản, nơi đặt Tổ bầu cử số 1, anh Lương Văn Trượng, Bí thư Chi bộ, Trưởng bản Na Ấu vẫn tỉ mỉ chỉnh lại từng dải cờ, sắp xếp lại pano để điểm bầu cử của bản thêm khang trang, trang trọng.
Tổ bầu cử số 1 bản Na Ấu có 371 cử tri, 100% là đồng bào dân tộc Thái. Do nhiều người còn hạn chế tiếng phổ thông nên những ngày qua, anh Trượng vừa trực tiếp tham gia công tác chuẩn bị, vừa kiêm “phiên dịch”, kiên trì tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến từng hộ dân. Nội dung tuyên truyền được anh biên soạn để phát trên loa truyền thanh của bản. Đồng thời, anh Trượng cùng cán bộ xã đi đến từng khu vực nương rẫy, nhắc bà con về thời gian, địa điểm bỏ phiếu. Những lời giải thích mộc mạc bằng cả tiếng phổ thông và tiếng Thái đã giúp người dân hiểu rõ hơn ý nghĩa của lá phiếu, quyền và trách nhiệm của mình trong ngày bầu cử.
Theo anh Lương Văn Trượng, địa hình bản Na Ấu chủ yếu là núi cao, các hộ dân sống rải rác, ban ngày bà con thường lên nương rẫy nên việc tuyên truyền gặp không ít khó khăn. Tuy vậy, xác định trách nhiệm trước ngày hội lớn của cử tri, anh cùng cán bộ xã tranh thủ cả buổi tối đến từng nhà vận động, giải thích để bà con hiểu rõ quyền và nghĩa vụ công dân, tham gia bầu cử đúng thời gian, địa điểm.
Tương tự, xã Tam Thanh là địa bàn vùng cao biên giới, địa hình các bản phức tạp. Vì vậy, Ban Chỉ đạo bầu cử xã đã huy động cả hệ thống chính trị cùng tham gia tuyên truyền bằng nhiều hình thức như xe lưu động, hệ thống loa truyền thanh của xã và các bản, lồng ghép nội dung bầu cử trong các cuộc họp cộng đồng. Nhờ đó, đến nay 100% cử tri trên địa bàn đều nắm được thời gian và địa điểm bầu cử.
Ông Lê Sỹ Thuật, Phó Chủ tịch UBND xã Tam Thanh cho biết, dù điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, địa phương vẫn nỗ lực triển khai đồng bộ các phần việc phục vụ bầu cử. Nội dung tuyên truyền được biên soạn ngắn gọn, dễ hiểu, bằng cả tiếng phổ thông và tiếng dân tộc. Cùng với đó, vai trò của già làng, trưởng bản và người có uy tín trong cộng đồng được phát huy mạnh mẽ. Nhiều người dù tuổi cao vẫn tích cực đi từng ngõ, gõ từng nhà vận động bà con tham gia bầu cử đầy đủ, đúng quy định.
Xã vùng cao biên giới Sơn Thủy đã hoàn tất công tác trang trí khánh tiết tại những vị trí trung tâm, chuẩn bị sẵn sàng cho ngày hội lớn. Ảnh: Khiếu Tư/TTXVN
Tương tự, ông Phạm Ngọc Thanh, Phó Chủ tịch UBND xã Sơn Thủy cho biết, do địa bàn đồi núi, giao thông khó khăn nên địa phương đẩy mạnh tuyên truyền bằng nhiều hình thức. Ở những khu vực có đông đồng bào dân tộc sinh sống, cán bộ còn trực tiếp tuyên truyền bằng tiếng Thái, tiếng Mông để bà con dễ hiểu, dễ nhớ.
Đến thời điểm này, công tác chuẩn bị bầu cử tại các xã vùng cao, biên giới của Thanh Hóa đã cơ bản hoàn tất, bảo đảm đúng quy định và tiến độ đề ra. Từ việc chuẩn bị cơ sở vật chất, tập huấn nghiệp vụ đến rà soát, niêm yết danh sách cử tri, ứng cử viên đều được thực hiện chặt chẽ, đồng bộ. Với sự chuẩn bị chu đáo đó, các địa phương đã sẵn sàng cho ngày bầu cử, bảo đảm để mỗi cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân, góp phần lựa chọn những đại biểu xứng đáng đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân.
Để không cử tri nào bị bỏ lại phía sau
Đăk Nhau là xã miền núi, vùng xa của tỉnh Đồng Nai, nơi có 24 dân tộc cùng sinh sống, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm hơn 50% dân số. Toàn xã có hơn 14.000 cử tri tham gia bầu cử, nhiều người thuộc các nhóm yếu thế như người cao tuổi, người khuyết tật và đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế trong việc nghe, nói và sử dụng tiếng Việt.
Với đặc thù địa bàn có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, công tác tuyên truyền bầu cử tại đây được triển khai bằng nhiều hình thức phù hợp với điều kiện thực tế. Ông Nguyễn Trọng Lâm, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Đăk Nhau cho biết, do dân cư phân tán, giao thông còn khó khăn, địa phương đã chủ động áp dụng nhiều cách làm đa dạng nhằm khắc phục rào cản về khoảng cách, giúp cử tri nắm rõ quyền và nghĩa vụ của mình. Trong đó, xã phát huy vai trò của các già làng, người có uy tín trong cộng đồng “đi từng ngõ, gõ từng nhà”, trực tiếp truyền tải thông tin bầu cử đến từng người dân bằng chính tiếng mẹ đẻ.
Không để ảnh hưởng đến mùa vụ của bà con, các buổi tiếp xúc cử tri tại địa phương còn được tổ chức vào ban đêm. Cách làm này giúp đông đảo cử tri có điều kiện tham dự, trực tiếp lắng nghe chương trình hành động của các ứng cử viên, đồng thời bày tỏ tâm tư, nguyện vọng. Qua đó, các ứng cử viên có thêm cơ sở thực tiễn để hoàn thiện chương trình hành động sát với nhu cầu của địa phương trong nhiệm kỳ tới.
Bên cạnh lực lượng già làng, người có uy tín, xã còn huy động hơn 150 đoàn viên, thanh niên tham gia hỗ trợ hậu cần tại các khu vực bỏ phiếu. Ông Bế Danh Hanh, Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã, Bí thư Đoàn xã Đăk Nhau cho biết, trong ngày 15/3, các đội hình này sẽ phối hợp mang hòm phiếu phụ đến tận nhà cử tri không thể trực tiếp đi bỏ phiếu hoặc hỗ trợ đưa đón người cao tuổi, người khuyết tật và các cử tri yếu thế đến điểm bỏ phiếu. Sự hỗ trợ kịp thời này không chỉ bảo đảm quyền bầu cử của mọi công dân mà còn giúp họ trực tiếp thực hiện quyền của mình, gửi gắm niềm tin vào những đại biểu được tín nhiệm.
Song song với việc số hóa công tác thông tin, xã còn tận dụng tối đa hệ thống loa phát thanh và mạng xã hội để tuyên truyền. Các đợt ra quân cao điểm cũng được tổ chức đồng loạt, đảm bảo thông tin về ngày hội bầu cử đến được với từng người dân một cách nhanh chóng và đầy đủ nhất.
Sân khấu hóa tuyên truyền, lan tỏa ngày hội cử tri
Tại xã Bù Đăng (tỉnh Đồng Nai) công tác tuyên truyền về bầu cử được triển khai bằng một cách làm khá đặc biệt khi đưa câu chuyện về ngày hội của cử tri lên sân khấu, thu hút đông đảo người dân tham gia theo dõi. Các tác phẩm được dàn dựng công phu, khéo léo lồng ghép các quy định, kiến thức về bầu cử. Nhờ đó, những nội dung vốn khô khan trở nên sinh động, gần gũi, giúp người dân dễ hiểu, dễ nhớ và tiếp nhận một cách tự nhiên.
Anh Điểu Lích (thôn Hưng Phú, xã Bù Đăng) bày tỏ rất phấn khởi trước những cách làm mới của địa phương. Đây được xem là kênh thông tin hữu hiệu, giúp bà con nắm bắt đầy đủ và thấu hiểu sâu sắc hơn về ý nghĩa của cuộc bầu cử - ngày hội lớn của toàn dân.
Chị Nguyễn Thị Thắm (thôn Hưng Đăng, xã Bù Đăng) cho biết, qua việc theo dõi các tác phẩm, người dân nắm rõ hơn thông tin và cách thức bầu cử. Đây là cơ sở quan trọng để mỗi người cân nhắc, lựa chọn những đại biểu thực sự xứng đáng, có tâm và có tầm để đóng góp vào sự phát triển chung của quê hương, đất nước.
Chủ tịch UBND xã Bù Đăng Nguyễn Thanh Tùng cho biết, địa phương đã sân khấu hóa nội dung tuyên truyền về bầu cử và tổ chức lưu diễn tại tất cả các thôn trên địa bàn, tập trung ở những khu vực có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, vào khung giờ từ 19 đến 21 giờ. Bên cạnh các tiết mục của đoàn tuyên truyền lưu động, người dân các thôn còn tham gia biểu diễn múa cồng chiêng, đơn ca mang đậm bản sắc văn hóa địa phương.
Thông qua hình thức tuyên truyền này, nhận thức của người dân về ý nghĩa của cuộc bầu cử được nâng lên, góp phần tạo sự đồng thuận trong xã hội, hướng tới tổ chức thành công cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật, an toàn và tiết kiệm. Đồng thời, việc sân khấu hóa nội dung tuyên truyền cũng giúp cử tri hiểu rõ hơn quyền và nghĩa vụ công dân, các nguyên tắc, quy trình bầu cử, qua đó khích lệ tinh thần tham gia bỏ phiếu và góp phần phản bác những thông tin sai lệch, xuyên tạc. Cùng với các hoạt động văn hóa, công tác tuyên truyền bầu cử tại xã Bù Đăng còn được lan tỏa thông qua vai trò của những người có uy tín trong cộng đồng. Với sự gần gũi và trách nhiệm, họ trở thành cầu nối quan trọng, giúp các chủ trương, chính sách về bầu cử đến với người dân một cách thuyết phục./.
Tên tự gọi: Tay hoặc Thay
Tên gọi khác: Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ.
Nhóm địa phương: Ngành Ðen (Tay Ðăm), Ngành trắng (Tay Ðón hoặc Khao).
Dân số: 1.550.423 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).
Lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm.
Hoạt động sản xuất: Người Thái sớm đi vào nghề trồng lúa nước trong hệ thống thuỷ lợi thích hợp được đúc kế như một thành ngữ - "mương, phai, lái, lịn" (khơi mương, đắp đập, dẫn nước qua vật chướng ngại, đặt máng) trên các cánh đồng thung lũng. Họ làm ruộng cấy một vụ lúa nếp, nay chuyển sang 2 vụ lúa tẻ. Họ còn làm nương để trồng thêm lúa, ngô, hoa màu, cây thực phẩm và đặc biệt bông, cây thuốc nhuộm, dâu tằm để dệt vải.
Cót xát rất phổ biến ở vùng người Thái, dùng để trải trên sàn trước khi xếp chiếu phục tay và các tấm đệm ngủ lên trên. Cót được đan bằng cây mạy loi, một loại cây thuộc loài tre, nứa mọc trên núi đá vôi cao.
Ăn: Ngày nay gạo tẻ đã trở thành lương thực chính, gạo nếp vẫn được coi là lương ăn truyền thống. Gạo nếp ngâm, bỏ vào chõ, đặt lên bếp, đồ thành xôi. Trên mâm ăn không thể thiếu được món ớt giã hoà muối, tỏi, có rau thơm, mùi, lá hành... có thể thêm gan gà luộc chín, ruột cá, cá nướng... gọi chung là chéo. Hễ có thịt các con vật ăn cỏ thuộc loài nhai lại thì buộc phải có nước nhúng lấy từ lòng non (nặm pịa). Thịt cá ăn tươi thì làm món nộm, nhúng (lạp, cỏi), ướp muối, thính làm mắm; ăn chín, thích hợp nhất phải kể đến các món chế biến từ cách nướng, lùi, đồ, sấy, sau đó mới đến canh, xào, rang, luộc...
Họ ưa thức ăn có các vị: cay, chua, đắng, chát, bùi, ít dùng các món ngọt, lợ, đậm, nồng... hay uống rượu cần, cất rượu. Người Thái hút thuốc lào bằng điếu ống tre, nứa và chạm bằng mảnh đóm tre ngâm, khô nỏ. Người Thái Trắng trước khi hút còn có lệ mời người xung quanh như trước khi ăn.
Mặc: Cô gái Thái đẹp nhờ mặc áo cánh ngắn, đủ màu sắc, đính khuy bạc hình bướm, nhện, ve sầu... chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân, ăn nhịp với chiếc váy vải màu thâm, hình ống; thắt eo bằng dải lụa màu xanh lá cây; đeo dây xà tích bạc ở bên hông. Ngày lễ có thể vận thêm áo dài đen, xẻ nách, hoặc kiểu chui đầu, hở ngực có hàng khuy bướm của áo cánh, chiết eo, vai phồng, đính vải trang trí ở nách, và đối vai ở phía trước như của Thái Trắng. Nữ Thái Ðen đội khăn piêu nổi tiếng trong các hình hoa văn thêu nhiều màu sắc rực rỡ. Nam người Thái mặc quần cắt để thắt lưng; áo cánh xẻ ngực có túi ở hai bên gấu vạt, áo người Thái Trắng có thêm một túi ở ngực trái; cài khuy tết bằng dây vải. Màu quần áo phổ biến là đen, có thể màu gạch non, hoa kẻ sọc hoặc trắng. Ngày lễ mặc áo đen dài, xẻ nách, bên trong có một lần áo trắng, tương tự để mặc lót. Bình thường cuốn khăn đen theo kiểu mỏ rìu. Khi vào lễ cuốn dải khăn dài một sải tay.
Ở: Ở nhà sàn, dáng vẻ khác nhau: nhà mái tròn khum hình mai rùa, hai đầu mai rùa, hai đầu mái hồi có khau cút; nhà 4 mái mặt bằng sàn hình chữ nhật gần vuông, hiên có lan can; nhà sàn dài, cao, mỗi gian hồi làm tiền sảnh; nhà mái thấp, hẹp lòng, gần giống nhà người Mường.
Phương tiện vận chuyển: Gánh là phổ biến, ngoài ra gùi theo kiểu chằng dây đeo vắt qua trán, dùng ngựa cưỡi, thồ nay. ở dọc các con sông lớn họ rất nổi tiếng trong việc xuôi ngược bằng thuyền đuôi én.
Quan hệ xã hội: Cơ cấu xã hội cổ truyền được gọi là bản mường hay theo chế độ phìa tạo Tông tộc Thái gọi là Ðằm. Mỗi người có 3 quan hệ dòng họ trọng yếu: Ải Noong (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể). (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể).
Cưới xin: Trước kia người Thái theo chế độ hôn nhân mua bán và ở rể nên việc lấy vợ và lấy chồng phải qua nhiều bước, trong đó có 2 bước cơ bản:
Cưới lên (đong khửn) - đưa rể đến cư trú nhà vợ - là bước thử thách phẩm giá, lao động của chàng rể. Người Thái Ðen có tục búi tóc ngược lên đỉnh đầu cho người vợ ngay sau lễ cưới này. Tục ở rể từ 8 đến 12 năm.
Cưới xuống (đong lông) đưa gia đình trở về với họ cha.
Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ theo tư thế ngồi, nhau bỏ vào ống tre đem treo trên cành cây ở rừng. Sản phụ được sưởi lửa, ăn cơm lam và kiêng khem một tháng; ống lam bó đem treo trên cành cây. Có nghi thức dạy trẻ lao động theo giới và mời Lung Ta đến đặt tên chi cháu.
Ma chay: Lễ tang có 2 bước cơ bản:
Pông: Phúng viếng tiễn đưa hồn người chết lên cõi hư vô, đưa thi thể ra rừng chôn (Thái Trắng), thiếu (Thái Ðen).
Xống: gọi ma trở về ngụ ở gian thờ cúng tổ tiên ở trong nhà.
Nhà mới: Dẫn chủ nhân lên nhận nhà Lung Ta châm lửa đốt củi ở bếp mới. Người ta thực hiện tại nghi lễ, cúng đọc bài mo xua đuổi điều ác thu điều lành, cúng tổ tiên, vui chơi.
Lễ tết: Cúng tổ tiên ở người Thái Ðen vào tháng 7, 8 âm lịch. Người Thái Trắng ăn tết theo âm lịch. Bản Mường có cúng thần đất, núi, nước và linh hồn người làm trụ cột.
Lịch: Theo hệ can chi như âm lịch. Lịch của người Thái Ðen chênh với âm lịch 6 tháng.
Học: Người Thái có mẫu tự theo hệ Sanscrit. Họ học theo lệ truyền khẩu. Người Thái có nhiều tác phẩm cổ viết về lịch sử, phong tục, luật tục và văn học.
Văn nghệ: Người Thái có các điệu xoè, các loại sáo lam và tiêu, có hát thơ, đối đáp giao duyên phong phú.
Chơi: Trò chơi của người Thái phổ biến là ném còn, kéo co, đua ngựa, dạo thuyền, bắn nỏ, múa xoè, chơi quay và quả mák lẹ. Nhiều trò chơi cho trẻ em.
Mỗi nhà người Thái thường có hai bếp, một bếp để tiếp khách, sưởi ấm, một bếp khác để nấu cơm. Chõ xôi (ninh đồng, chõ gỗ) được đặt trên 3 ông đầu rau bằng đá. Phía trên bếp có giàn để các thức cần sấy khô. Người Thái thường dùng ghế mây tròn để ngồi quanh bếp.
Theo cema.gov.vn