Chuẩn hoá dây chuyền sản xuất, tăng chất lượng cho sản phẩm chè Lâm Đồng

Quy trình sản xuất chè tại một công ty trên địa bàn thành phố Bảo Lộc chuyên xuất khẩu chè sang Pakistan và Afghanistan. Ảnh: Nguyễn Dũng – TTXVN
Quy trình sản xuất chè tại một công ty trên địa bàn thành phố Bảo Lộc chuyên xuất khẩu chè sang Pakistan và Afghanistan. Ảnh: Nguyễn Dũng – TTXVN

Phải đối mặt với khó khăn kép, người trồng chè và doanh nghiệp sản xuất ở thủ phủ chè B’lao (thành phố Bảo Lộc, Lâm Đồng) đang gồng mình vượt qua giai đoạn này. Đồng thời, từng bước hoàn thiện quy trình chế biến đạt chuẩn nhằm tiến tới mục tiêu cung cấp cho thị trường sản phẩm chất lượng cao và đảm bảo an toàn cho sức khoẻ.

Chuẩn hoá dây chuyền sản xuất, tăng chất lượng cho sản phẩm chè Lâm Đồng ảnh 1Sản phẩm chè Lâm Đồng xuất sang thị trường Pakistan và Afghanistan chủ yếu là chè xanh với màu nước và mùi vị tự nhiên. Ảnh: Nguyễn Dũng – TTXVN

Đối mặt khó khăn kép

Những tháng đầu năm 2023 là thời kỳ khó khăn đối với ngành sản xuất chè của Lâm Đồng nói chung và thủ phủ chè B’lao nói riêng. Trong khi người trồng chè nhổ bỏ vườn hoặc bán bất khiến vùng nguyên liệu bị thu hẹp thì thông tin về việc sản phẩm chè của Việt Nam xuất khẩu có chứa hoá chất nhuộm màu càng làm doanh nghiệp, người dân như ngồi trên đống lửa.

Thay vì cảnh nhộn nhịp sản xuất, phân loại đóng gói chè như trước đây, khu nhà xưởng của Doanh nghiệp tư nhân chế biến thương mại Thiện Phương (thành phố Bảo Lộc) khá đìu hiu. Hệ thống máy móc, dây chuyền sản xuất hầu như ngừng hoạt động do “đói” nguyên liệu. Tại khu vực tiếp nhận chè để sơ chế, thỉnh thoảng mới có người dân chở từ 1- 2 bao chè đến cân. Tương tự, chiếc xe tải thu gom chè nguyên liệu ở các địa bàn xa trước đây gần như chạy cả ngày không hết việc thì nay số lượt rời xưởng chỉ đếm trên đầu ngón tay.

Vừa chở hai bao chè nguyên liệu đến cân, ông Nguyễn Văn Hải (Phường B’Lao, thành phố Bảo Lộc) thừa nhận, người trồng chè giờ đây đang đối mặt nhiều khó khăn do giá trị kinh tế của cây chè rất thấp. Riêng gia đình ông trước đây có 8.000m2 chuyên trồng chè nguyên liệu nhưng gần đây do loại cây này kém hiệu quả nên đã chuyển đổi 6.000m2 trồng cây ăn trái có giá trị kinh tế cao hơn. “Cứ tình hình giá chè nguyên liệu thấp như hiện nay, chắc số diện tích còn lại tôi cũng phải phá bỏ để trồng loại cây khác”, ông Hải nói.

Theo ông Nguyễn Đình Phương, giám đốc Doanh nghiệp tư nhân chế biến thương mại Thiện Phương, thiếu nguyên liệu chế biến là tình trạng chung của các đơn vị, công ty chế biến chè trên địa bàn thành phố Bảo Lộc. Khoảng hai năm trở lại đây diện tích vùng chuyên trồng cây chè ngày càng bị thu hẹp nên nhiều đơn vị không đủ nguyên liệu để chế biến. Thay vì trước đây mỗi năm doanh nghiệp của ông xuất khẩu được 70 – 80 container (khoảng 2 ngàn tấn chè khô) thì hiện nay chỉ còn 10 - 15 container mỗi năm, tương đương vài trăm tấn chè khô thành phẩm.

Chuẩn hoá dây chuyền sản xuất, tăng chất lượng cho sản phẩm chè Lâm Đồng ảnh 2Quy trình sản xuất chè tại một công ty trên địa bàn thành phố Bảo Lộc chuyên xuất khẩu chè sang Pakistan và Afghanistan. Ảnh: Nguyễn Dũng – TTXVN

Chuẩn hoá quy trình chế biến

Cây chè được trồng tại thành phố Bảo Lộc từ trước năm 1930, đến nay, còn khoảng 2.500 ha đất trồng chè các loại. Trên địa bàn thành phố hiện có 160 doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh chè. Sản lượng hàng năm đạt khoảng 23.000 tấn được tiêu thụ trong nước và xuất khẩu đi nhiều quốc gia trên thế giới.

Hàng năm, kim ngạch xuất khẩu chè (chủ yếu là chè đen, chè ướp hương, chè ô long, chè xanh) của Bảo Lộc đạt khoảng 15 triệu USD. Đây là thành quả của một quá trình chuyển đổi trong công nghệ chế biến, tự động hoá của ngành chè ở B’Lao. Dù còn nhiều khó khăn nhưng hiện nay một số cơ sở tiếp tục đầu tư trang thiết bị, máy móc công nghệ mới, dây chuyền chế biến chè đen CTC, OTD nhập từ nước ngoài nhằm nâng cao chất lượng, đa dạng hoá sản phẩm cho thị trường.

Là một trong những đơn vị chuyên sản xuất chè lâu đời tại Bảo Lộc, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Trà Nai Vàng (Khu công nghiệp Lộc Sơn, Bảo Lộc) hiện đang đi đầu trong việc chuẩn hoá quy trình sản xuất, chế biến chè “không tiếp đất” với dòng sản phẩm chính là chè ô long, chè ướp hương, chè truyền thống để cung cấp cho thị trường trong nước và đối tác. Sau khi hoàn thiện hệ thống nhà xưởng mới vào năm 2020, Công ty này liên tục “rót tiền” đầu tư để chuẩn hoá hệ thống dây chuyền sản xuất.

Toàn bộ nhà xưởng của Công ty Nai Vàng hiện đã có đủ máy tách màu, máy đóng gói tự động, máy sang cuộn, băng tải, máy đóng gói túi lọc, máy dán tem với công suất hoạt động khoảng 50%. Ngoài ra, công ty cũng đang trong quá trình xây dựng tiêu chuẩn FSSC cho nhà máy (là bộ tiêu chuẩn quản lý an toàn thực phẩm do Hiệp hội An toàn thực phẩm chứng nhận, được 154 quốc gia trên thế giới chấp nhận và là điều kiện bắt buộc khi xuất khẩu nông sản vào thị trường Nhật Bản, châu Âu).

Ông Trần Đại Bình, Giám đốc công ty Trách nhiệm hữu hạn Trà Nai Vàng cho biết, ngành sản xuất chè không bắt buộc phải xây dựng FSSC nhưng mục tiêu của Công ty là để chuẩn hoá quy trình sản xuất chè nhằm hướng đến cải tiến sản xuất trà không tiếp đất, hạn chế tối đa việc tiếp xúc với công nhân nhằm đảm bảo theo tiêu chuẩn bắt buộc cao nhất của ISO liên quan đến an toàn thực phẩm. Từ đó, sẽ thúc đẩy cho công ty đi theo một quy trình được chuẩn hoá ngay từ đầu và nâng cao chất lượng sản phẩm cho thị trường.

Chuẩn hoá dây chuyền sản xuất, tăng chất lượng cho sản phẩm chè Lâm Đồng ảnh 3Quy trình đóng gói sản phẩm chè tại một công ty trên địa bàn thành phố Bảo Lộc, Lâm Đồng. Ảnh: Nguyễn Dũng – TTXVN

Gỡ khó cho ngành chè

Trong buổi gặp mặt các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực chè tổ chức mới đây, lãnh đạo thành phố Bảo Lộc đã ghi nhận những ý kiến về khó khăn của ngành sản xuất chè ở địa phương. Qua đó, thành phố sẽ báo cáo kiến nghị với UBND tỉnh và các cơ quan liên quan để có giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các doanh nghiệp thông qua một số giải pháp bước đầu như đề nghị các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng tạo điều kiện cho các đơn vị tiếp cận nguồn vốn được thuận lợi hơn; thành phố sẽ kết nối với lãnh đạo các địa phương có phát triển ngành chè để gặp mặt, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm tháo gỡ nút thắt trong sản xuất, chế biến; nghiên cứu xây dựng Trung tâm trung bày sản phẩm đặc trưng của địa phương trong thời gian tới.

Bí thư Thành uỷ Bảo Lộc Tôn Thiện Đồng cho biết, thành phố đã có câu lạc bộ của ngành chè để các doanh nghiệp, đơn vị sinh hoạt, gặp gỡ. Trong thời gian tới ít nhất một tháng một lần, lãnh đạo thành phố sẽ sinh hoạt với câu lạc bộ chè để kịp thời nắm bắt những tâm tư, nguyện vọng của các doanh nghiệp nhằm tháo gỡ khó khăn cho họ.

Theo Sở Công Thương tỉnh Lâm Đồng, sản lượng chè xuất khẩu của tỉnh trong 5 tháng đầu năm 2023 ước đạt 2,2 ngàn tấn và ước đạt giá trị 5,3 triệu USD, tăng 38,4% về sản lượng và giá trị so với cùng kỳ. Thị trường xuất khẩu chính của chè bao gồm Đài Loan (Trung Quốc), Pakistan và Afghanistan.

Bà Cao Thị Thanh, Phó Giám đốc Sở Công Thương Lâm Đồng nhận định, hiện nay việc xuất khẩu chè đối với các thị trường truyền thống như Trung Đông cũng có nhiều khó khăn hơn trước do sự chênh lệch về giá nguyên liệu đầu vào với giá xuất khẩu. Do đó, Sở đã phối hợp với ngành nông nghiệp và các địa phương Bảo Lộc, Bảo Lâm để triển khai các giải pháp khắc phục.

Cùng với đó, Sở tiếp tục đàm phán để tìm kiếm, tham gia vào các thị trường cao cấp hơn từ đó nâng cao giá chè nguyên liệu và giá chè thành phẩm để giảm bớt khó khăn cho doanh nghiệp và người dân. “Sở Công Thương cũng tiếp tục hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc tham gia kỹ thuật chế biến chè phù hợp để có thể cung ứng cho thị trường tốt hơn. Từ đó, giá trị cây chè được nâng cao, giúp người dân yên tâm giữ lại cây chè thay vì chuyển đổi cây trồng khác”, bà Thanh cho biết.

Nguyễn Dũng

(TTXVN)

Có thể bạn quan tâm

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Ở vùng biên giới Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên, nơi điều kiện tiếp cận công nghệ của người dân còn hạn chế, những người lính Đồn Biên phòng Nậm Nhừ đang tìm cách đưa thông tin chính thống và kỹ năng số đến gần hơn với từng bản làng. Từ những chiếc điện thoại, mã QR đến loa truyền thanh di động, họ đang trở thành những “người lính truyền thông số”, giúp bà con chủ động hơn trong tiếp cận thông tin và bảo vệ mình trên không gian mạng.

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Thực hiện chủ trương sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục công lập, năm học 2026-2027, hệ thống trường học trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk bước vào giai đoạn vận hành theo mô hình mới. Toàn tỉnh giảm 642/1.267 cơ sở giáo dục, tương đương 50,7%. Quy mô mạng lưới thay đổi kéo theo những thay đổi lớn về tổ chức, đội ngũ và phương thức quản lý. Những ngày đầu vận hành cho thấy, các trường cơ bản bảo đảm việc dạy và học; đồng thời bắt đầu nhận diện những thuận lợi, khó khăn và từng bước điều chỉnh cách quản trị để phù hợp với mô hình mới.

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Những ngày đầu năm học mới, ở ngôi trường lần đầu vang lên tiếng trống khai trường, 95 học sinh có hoàn cảnh đặc biệt đã bắt đầu một hành trình mới. Các em là con thương binh, liệt sĩ Công an nhân dân, trẻ em dân tộc thiểu số và học sinh thuộc diện bảo trợ xã hội, có hoàn cảnh khó khăn. Từ năm học 2026 – 2027, Trường Văn hóa Công an nhân dân IV tại Tây Ninh trở thành mái nhà chung, nơi các em được chở che, học tập, rèn luyện và tự tin nuôi dưỡng ước mơ.

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Công nghệ số đang ngày càng khẳng định vai trò kỳ diệu trong việc rút ngắn khoảng cách địa lý ở các thôn, bản vùng cao, biên giới Lào Cai. Các mô hình thí điểm thôn số tiêu biểu đã được triển khai bước đầu cho thấy hiệu quả vượt trội trong xóa nghèo công nghệ từ cấp cơ sở; góp phần hình thành thói quen ứng dụng công nghệ số tại cộng đồng dân cư; nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Những năm qua, giáo dục tại các xã biên giới của tỉnh Tây Ninh đã có nhiều chuyển biến tích cực khi mạng lưới trường lớp ngày càng hoàn thiện, tỷ lệ huy động học sinh đến trường được duy trì ở mức cao, chất lượng giáo dục từng bước nâng lên. Tuy nhiên, vẫn còn đó không ít “điểm nghẽn” về điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất và nguồn lực đầu tư đòi hỏi sớm được tháo gỡ nhằm phát triển nguồn nhân lực, giữ dân và giữ vững vùng biên giới.

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Phong trào “Bình dân học vụ số” cùng các chiến dịch như “Mùa hè số cùng VNeID” trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đang được triển khai đồng bộ, tạo chuyển biến tích cực trong chuyển đổi số. Đặc biệt tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, những tiện ích số đang dần được "phủ xanh", phục vụ thiết thực cho cuộc sống hằng ngày của người dân.

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Sáng 27/8, tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Cao Bằng, UBND tỉnh phối hợp với Bộ Công an tổ chức Lễ khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật. Buổi lễ có sự tham dự của Thượng tướng Nguyễn Văn Long, Thứ trưởng Bộ Công an cùng nhiều lãnh đạo Bộ Công an.

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Giảm chi phí, chủ động phòng bệnh, nâng cao chất lượng đàn vật nuôi và bảo vệ môi trường đang là những yêu cầu thiết yếu được người chăn nuôi quan tâm. Từ những thay đổi trong cách chăm sóc, vệ sinh chuồng trại đến xử lý chất thải bằng các giải pháp sinh học, nhiều hộ dân tại Bắc Ninh đang từng bước hình thành phương thức chăn nuôi an toàn, hiệu quả và bền vững.

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Thực hiện sắp xếp cơ sở giáo dục công lập theo hướng tinh gọn, quy mô hợp lý, tỉnh Lạng Sơn đặt mục tiêu giảm mạnh đầu mối, tập trung nguồn lực cho dạy và học; đồng thời bảo đảm quyền học tập của học sinh và phù hợp với đặc thù địa bàn miền núi, biên giới.

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Với những học sinh ở vùng sâu, vùng xa, mô hình trường nội trú không chỉ tạo điều kiện học tập thuận lợi mà còn mở thêm cơ hội tiếp cận giáo dục, từng bước thu hẹp khoảng cách vùng miền. Những ngày này, Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Ia R’vê, xã biên giới Ia R’vê, tỉnh Đắk Lắk, đang khẩn trương hoàn thiện cơ sở vật chất, tổ chức tuyển sinh và vận động học sinh đến trường.

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Những ngày đầu tháng 8, tại nhiều trường tiểu học ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Lắk, các lớp tăng cường tiếng Việt cho trẻ chuẩn bị vào lớp Một diễn ra trong không khí gần gũi, nhẹ nhàng. Từ những con chữ đầu tiên, các em được làm quen với tiếng Việt, trường lớp và nền nếp học tập, tạo tâm thế vững vàng trước khi bước vào năm học mới.

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Tảo hôn là vấn đề ảnh hưởng đến chất lượng dân số và cơ hội phát triển của trẻ em, thanh thiếu niên ở một số địa bàn vùng cao. Để thay đổi nhận thức, tuổi trẻ Điện Biên đã tích cực đổi mới cách tuyên truyền, đồng thời tạo điều kiện để thanh niên học tập, học nghề, lập nghiệp trước khi xây dựng gia đình.

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Đắk Lắk là địa phương có tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số cao, địa bàn rộng, nhiều vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, bãi ngang. Chỉ còn ít tuần nữa năm học 2026-2027 sẽ bắt đầu. Tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, công tác chuẩn bị trường lớp, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và vận động học sinh ra lớp đang được triển khai khẩn trương, với mục tiêu bảo đảm các điều kiện tốt nhất trước ngày khai giảng.

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên đang đẩy mạnh phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca theo hướng tập trung, liên kết sản xuất. Cùng với hoàn thành diện tích trồng mới, các địa phương chú trọng hướng dẫn người dân chăm sóc, trồng dặm, phòng trừ sâu bệnh, tạo nền tảng nâng cao năng suất và hiệu quả cây trồng.