Đánh thức tiềm năng du lịch cộng đồng từ bản sắc văn hóa Nùng

Đánh thức tiềm năng du lịch cộng đồng từ bản sắc văn hóa Nùng

Nằm giữa vùng sơn cước, bản Bắc Hoa, xã Tân Sơn, tỉnh Bắc Ninh, đang từng bước chuyển mình từ một bản làng thuần nông trở thành điểm đến du lịch cộng đồng giàu bản sắc. Với hệ thống nhà cổ, đời sống văn hóa truyền thống của đồng bào Nùng còn được gìn giữ khá nguyên vẹn, cùng sự vào cuộc của chính quyền địa phương, các nhà nghiên cứu và doanh nghiệp, Bắc Hoa được kỳ vọng sẽ trở thành điểm nhấn mới trong phát triển du lịch văn hóa, sinh thái của tỉnh.

17 ngôi nhà cổ tại trung tâm bản Bắc Hoa, tỉnh Bắc Ninh.

17 ngôi nhà cổ tại trung tâm bản Bắc Hoa, tỉnh Bắc Ninh.

Bản sắc văn hóa Nùng - nền tảng hình thành điểm đến du lịch cộng đồng

Bản Bắc Hoa là một trong những địa bàn tiêu biểu của xã Tân Sơn, nơi cộng đồng người Nùng sinh sống lâu đời, lưu giữ hệ thống phong tục, tập quán và không gian cư trú mang đậm dấu ấn truyền thống. Toàn bản hiện có 160 hộ dân, trong đó khu nhà cổ với khoảng 17 hộ đã được quy hoạch làm trung tâm phát triển du lịch cộng đồng. Đây là những ngôi nhà trình tường đất, mái ngói âm dương đặc trưng của đồng bào Nùng, được bảo tồn tương đối nguyên vẹn, gắn liền với không gian sinh hoạt gia đình và sản xuất nông nghiệp.

Đáng chú ý, nhiều hộ dân trong khu nhà cổ vẫn duy trì nếp sống truyền thống, mặc trang phục dân tộc trong sinh hoạt hằng ngày, sẵn sàng đón tiếp, giao lưu với du khách. Các câu lạc bộ văn nghệ dân gian, đặc biệt là hát dân ca Nùng, được duy trì thường xuyên, trở thành điểm nhấn quan trọng trong việc giới thiệu văn hóa bản địa.

Những nếp nhà trình tường đất với mái ngói âm dương của người dân tộc Nùng ở bản Bắc Hoa được gìn giữ khá nguyên vẹn.

Những nếp nhà trình tường đất với mái ngói âm dương của người dân tộc Nùng ở bản Bắc Hoa được gìn giữ khá nguyên vẹn.

Theo ông Vi Văn An, Chủ tịch UBND xã Tân Sơn, phát triển du lịch tại Bắc Hoa được xác định là hướng đi phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. “Bắc Hoa có lợi thế lớn về không gian nhà cổ và bản sắc văn hóa dân tộc Nùng. Mục tiêu của xã là phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn, để người dân vừa giữ được nếp sinh hoạt truyền thống, vừa có thêm sinh kế từ du lịch”, ông Vi Văn An cho biết.

Tuy nhiên, quá trình hiện thực hóa mục tiêu này cũng đặt ra không ít khó khăn. Theo lãnh đạo xã Tân Sơn, thách thức lớn nhất hiện nay là việc di dời, sắp xếp lại một số hộ dân nhằm bảo tồn nguyên vẹn khu nhà cổ theo quy hoạch, đồng thời đầu tư hạ tầng giao thông, chỉnh trang cảnh quan, tạo không gian sinh hoạt cộng đồng phục vụ khách du lịch. Địa phương đang xây dựng đề án tổng thể, đề xuất nguồn lực đầu tư từ cấp trên để từng bước tháo gỡ những “nút thắt” này.

Những nếp nhà trình tường đất với mái ngói âm dương của người dân tộc Nùng ở bản Bắc Hoa được gìn giữ khá nguyên vẹn.

Những nếp nhà trình tường đất với mái ngói âm dương của người dân tộc Nùng ở bản Bắc Hoa được gìn giữ khá nguyên vẹn.

Bắc Hoa không phải là điểm đến được “đánh thức” một cách tự phát. Việc xây dựng mô hình làng văn hóa du lịch dân tộc Nùng tại đây được triển khai bài bản thông qua đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh, do Trung tâm Thông tin và Xúc tiến Du lịch Bắc Giang chủ trì thực hiện.

Thạc sĩ Lưu Xuân San, nguyên Giám đốc Trung tâm Thông tin và Xúc tiến Du lịch Bắc Giang, chủ nhiệm đề tài cho biết, quá trình nghiên cứu đã tập trung đánh giá toàn diện các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của người Nùng, điều kiện tự nhiên, cảnh quan, cũng như khả năng tham gia làm du lịch của cộng đồng dân cư. Bắc Hoa hội tụ khá đầy đủ các yếu tố để phát triển du lịch cộng đồng, từ không gian cư trú truyền thống, văn hóa dân gian, nghề thủ công đến cảnh quan nông nghiệp. Vấn đề quan trọng là phát triển theo hướng bền vững, lấy cộng đồng làm trung tâm.

Người dân sinh sống trong khu nhà cổ ở bản Bắc Hoa vẫn duy trì trang phục dân tộc trong sinh hoạt hằng ngày.

Người dân sinh sống trong khu nhà cổ ở bản Bắc Hoa vẫn duy trì trang phục dân tộc trong sinh hoạt hằng ngày.

Trong khuôn khổ đề tài, nhiều hoạt động cụ thể đã được triển khai như tổ chức tập huấn nghiệp vụ du lịch cộng đồng cho người dân, truyền dạy dân ca, nghề dệt thổ cẩm truyền thống, xây dựng các sản phẩm truyền thông quảng bá điểm đến, lắp đặt hệ thống biển chỉ dẫn vào bản Bắc Hoa... Những hoạt động này không chỉ góp phần bảo tồn giá trị văn hóa mà còn từng bước nâng cao nhận thức, kỹ năng làm du lịch cho người dân địa phương.Theo Thạc sĩ Lưu Xuân San, việc phát triển du lịch cộng đồng tại Bắc Hoa cần được đặt trong tổng thể phát triển kinh tế-xã hội của địa phương, gắn với xây dựng nông thôn mới và bảo tồn văn hóa dân tộc. Nếu làm tốt, du lịch sẽ trở thành động lực để người dân chủ động gìn giữ nhà cổ, trang phục, tiếng nói, làn điệu dân ca, thay vì để các giá trị này dần mai một.

Doanh nghiệp du lịch đồng hành mở rộng thị trường

Nghề dệt thổ cẩm thủ công là một trong những nét văn hóa của người dân địa phương ở bản Bắc Hoa, Bắc Ninh.

Nghề dệt thổ cẩm thủ công là một trong những nét văn hóa của người dân địa phương ở bản Bắc Hoa, Bắc Ninh.

Bên cạnh vai trò của chính quyền và các nhà nghiên cứu, sự tham gia của doanh nghiệp du lịch được xem là yếu tố quan trọng để Bắc Hoa từng bước tiếp cận thị trường. Thực tế cho thấy, xu hướng du lịch trải nghiệm, du lịch cộng đồng ngày càng được du khách trong và ngoài nước quan tâm, đặc biệt là những điểm đến còn giữ được bản sắc văn hóa nguyên gốc.

Chị Khúc Thị Nga, Phó Giám đốc Hợp tác xã Thương mại và Du lịch An Phú xã Tân Sơn, tỉnh Bắc Ninh cho rằng, Bắc Hoa có nhiều tiềm năng để xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù. Điểm mạnh của Bắc Hoa là không gian nhà cổ và đời sống văn hóa Nùng vẫn hiện hữu trong sinh hoạt hàng ngày. Du khách đến đây không chỉ tham quan mà còn có thể "sống cùng bản, nghe dân ca, thưởng thức ẩm thực truyền thống, trải nghiệm lao động nông nghiệp”.

Táo là một trong những sản vật của địa phương.

Táo là một trong những sản vật của địa phương.

Theo chị Nga, nếu địa phương tiếp tục đầu tư hạ tầng, chuẩn hóa dịch vụ homestay và xây dựng các tour trải nghiệm gắn với bản sắc văn hóa, doanh nghiệp sẵn sàng đưa Bắc Hoa vào tuyến du lịch kết nối với các điểm đến lân cận trong khu vực. Điều này không chỉ giúp tăng lượng khách mà còn tạo đầu ra ổn định cho các sản phẩm du lịch cộng đồng của người dân.

Với định hướng rõ ràng, sự vào cuộc đồng bộ của chính quyền, giới nghiên cứu và doanh nghiệp, du lịch cộng đồng bản Bắc Hoa đang đứng trước cơ hội phát triển. Quan trọng hơn, quá trình này được xây dựng trên nền tảng bảo tồn văn hóa, phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư.

Các câu lạc bộ văn nghệ dân gian, đặc biệt là hát dân ca Nùng, được duy trì thường xuyên, trở thành điểm nhấn quan trọng trong việc giới thiệu văn hóa địa phương.

Các câu lạc bộ văn nghệ dân gian, đặc biệt là hát dân ca Nùng, được duy trì thường xuyên, trở thành điểm nhấn quan trọng trong việc giới thiệu văn hóa địa phương.

Phát triển du lịch không chỉ mang lại nguồn thu mới mà còn góp phần nâng cao đời sống tinh thần, củng cố niềm tự hào văn hóa của người Nùng tại Bắc Hoa. Nếu được đầu tư đúng hướng và phát triển bền vững, Bắc Hoa hoàn toàn có thể trở thành mô hình tiêu biểu về du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa dân tộc, đóng góp tích cực vào bức tranh du lịch của tỉnh trong thời gian tới./.

Bài và ảnh: Danh Lam/TTXVN
Dân tộc Nùng

Tên tự gọi: Nồng.

Nhóm địa phương: Nùng Giang, Nùng Xuồng, Nùng An, Nùng Inh, Nùng Lòi, Nùng Cháo, Nùng Phàn Slình, Nùng Quy Rịn, Nùng Dín...

Dân số: 968.800 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng Nùng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai), cùng nhóm với tiếng Tày, tiếng Thái, và nhất là tiếng Choang ở Trung Quốc...

Lịch sử: Người Nùng phần lớn từ Quảng Tây (Trung Quốc) di cư sang cách đây khoảng 200-300 năm.

Hoạt động sản xuất: Người Nùng làm việc rất thành thạo nhưng do cư trú ở những vùng không có điều kiện khai phá ruộng nước cho nên nhiều nơi họ phải sống bằng nương rẫy là chính. Ngoài ngô, lúa họ còn trồng các loại củ, bầu bí, rau xanh...

Họ biết làm nhiều nghề thủ công: dệt, rèn, đúc, đan lát, làm đồ gỗ, làm giấy dó, làm ngói âm dương... Nhiều nghề có truyền thống lâu đời nhưng vẫn là nghề phụ gia đình, thường chỉ làm vào lúc nông nhàn và sản phẩm làm ra phục vụ nhu cầu của gia đình là chính. Hiện nay, một số nghề có xu hướng mai một dần (dệt), một số nghề khác được duy trì và phát triển (rèn). Ở xã Phúc Sen (huyện Quảng Hoà, Cao Bằng) rất nhiều gia đình có lò rèn và hầu như gia đình nào cũng có người biết làm nghề rèn.

Chợ ở vùng người Nùng phát triển. Người ta thường đi chợ phiên để trao đổi mua bán các sản phẩm. Thanh niên, nhất là nhóm Nùng Phàn Slình, thích đi chợ hát giao duyên.

Ăn: Ở nhiều vùng người Nùng ăn ngô là chính. Ngô được xay thành bột để nấu cháo đặc như bánh đúc. Thức ăn thường được chế biến bằng cách rán, xào, nấu, ít khi luộc. Nhiều người kiêng ăn thịt trâu, bò, chó.

Mặc: Y phục truyền thống của người Nùng khá đơn giản, thường làm bằng vải thô tự dệt, nhuộm chàm và hầu như không có thêu thùa trang trí. Nam giới mặc áo cổ đứng, xẻ ngực, có hàng cúc vải. Phụ nữ mặc áo năm thân, cài cúc bên nách phải, thường chỉ dài quá hông.

Ở: Người Nùng cư trú ở các tỉnh Ðông Bắc nước ta, họ thường sống xen kẽ với người Tày. Phần lớn ở nhà sàn. Một số ở nhà đất làm theo kiểu trình tường hoặc xây bằng gạch mộc. Ở ven biên giới trước kia còn có loại nhà làm theo kiểu pháo đài, có lô cốt và lỗ châu mai để chống giặc cướp.

Phương tiện vận chuyển: Các phương thức vận chuyển truyền thống là khiêng, vác, gánh, mang, xách. Hiện nay ở một số địa phương người Nùng sử dụng xe có bánh lốp do các vật kéo để làm phương tiện vận chuyển.

Quan hệ xã hội: Trước Cách mạng tháng Tám, xã hội người Nùng đã đạt đến trình độ phát triển như ở người Tày. Ruộng và nương thâm canh đã biến thành tài sản tư hữu, có thể đem bán hay chuyển nhượng. Hình thành các giai cấp: địa chủ và nông dân.

Cưới xin: Nam nữ được tự do yêu đương, tìm hiểu và khi yêu nhau họ thường trao tặng nhau một số kỷ vật. Các chàng trai tặng các cô gái đòn gánh, giỏ đựng con bông (hắc lì) và giỏ đựng con sợi (cởm lót).Còn các cô gái tặng các chàng trai áo và túi thêu.

Tuy nhiên hôn nhân lại hoàn toàn do bố mẹ quyết định, trên cơ sở hai gia đình có môn đăng hộ đối không và lá số đôi trai gái có hợp nhau hay không. Nhà gái thường thách cưới bằng thịt, gạo, rượu và tiền. Số lượng đồ dẫn cưới càng nhiều thì giá trị của người con gái càng cao. Việc cưới xin gồm nhiều nghi lễ, quan trọng nhất là lễ đưa dâu về nhà chồng. Sau ngày cưới cô dâu vẫn ở nhà bố mẹ đẻ cho đến sắp có con mới về ở hẳn nhà chồng.

Sinh đẻ: Ngoài lễ đặt bàn thờ bà mụ và lễ mừng trẻ đầy tháng ở một số nhóm Nùng còn tổ chức lễ đặt tên cho trẻ khi chúng đến tuổi trưởng thành.

Ma chay: Có nhiều nghi lễ với mục đích chính là đưa hồn người chết về bên kia thế giới.

Nhà mới: Làm nhà mới là một trong nhiều công việc hệ trọng. Vì thế khi làm nhà người ta rất chú ý tới việc chọn đất, xem hướng, chọn ngày dựng nhà và lên nhà mới với ước mong có cuộc sống yên vui, làm ăn phát đạt.

Thờ cúng: Thờ tổ tiên là chính. Bàn thờ đặt ở nơi trang trọng, được trang hoàng đẹp, ở vị trí trung tâm là bức phùng slằn viết bằng chữ Hán cho biết tổ tiên thuộc dòng họ nào. Ngoài ra còn thờ thổ công, Phật bà Quan âm, bà mụ, ma cửa, ma sàn, ma ngoài sàn (phi hang chàn)... và tổ chức cầu cúng khi thiên tai, dịch bệnh... Khác với người Tày, người Nùng tổ chức mừng sinh nhật và không cúng giỗ.

Lễ tết: Người Nùng ăn tết giống như ở người Việt và người Tày.

Lịch: Người Nùng theo âm lịch.

Học: Có chữ nôm Nùng dựa theo chữ Hán, đọc theo tiếng Nùng và chữ Tày - Nùng trên cơ sở chữ cái La-tinh.

Văn nghệ: Sli là hát giao duyên của thanh niên nam nữ dưới hình thức diễn xướng tập thể, thường là đôi nam, đôi nữ hát đối đáp với nhau và được hát theo hai bè.

Người ta thường Sli với nhau trong những ngày hội, ngày lễ, ngày chợ phiên, thậm chí ngay trên tàu, trên xe.

Chơi: Trong các ngày tết, ngày lễ, ngày hội thường có một số trò chơi như tung còn, đánh cầu lông, đánh quay, kéo co...

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Nùng

Có thể bạn quan tâm

Nét đẹp Lễ cúng máng nước của đồng bào M’Nông

Nét đẹp Lễ cúng máng nước của đồng bào M’Nông

Gắn liền với đời sống sinh hoạt, sản xuất và tín ngưỡng của đồng bào M’Nông, Lễ cúng máng nước là nét đẹp văn hóa truyền thống, thể hiện lòng biết ơn thiên nhiên và ước vọng về cuộc sống bình an, no ấm. Nghi lễ vừa được phục dựng tại thôn Tak Xoai, xã Trà Leng, thành phố Đà Nẵng, góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa, đồng thời nâng cao ý thức bảo vệ nguồn nước và môi trường sinh thái.

Mùa lúa chín – Mùa lễ hội giữa Đại ngàn

Mùa lúa chín – Mùa lễ hội giữa Đại ngàn

Cuối tháng 10, khi những cánh đồng lúa ở khu vực phía Tây tỉnh Quảng Ngãi bắt đầu ngả sang màu vàng, cũng là thời điểm bước vào mùa lễ hội của đồng bào dân tộc thiểu số Xơ Đăng, Bahnar. Với bà con Bahnar nhánh Giơ Lâng là Lễ Ét Đông (Lễ ăn con dúi), còn với bà con Xơ Đăng là Lễ Mừng lúa mới được tổ chức với cùng mong muốn và tạ ơn trời đất cho một vụ mùa bội thu, mang lại sự ấm cúng, bình yên cho dân làng. Những nét văn hóa đặc sắc trong mùa lễ hội của đồng bào Xơ Đăng, Bahnar nơi đây đã cùng vẽ nên “bức tranh” đầy màu sắc của cộng đồng các dân tộc giữa đại ngàn Tây Nguyên.

Độc đáo Tết Raya của người Chăm Islam An Giang

Độc đáo Tết Raya của người Chăm Islam An Giang

Nơi cuối nguồn Tây Nam của tổ quốc, bên dòng sông Hậu hiền hòa bao đời ôm lấy những xóm làng trù phú, có một cộng đồng hình thành từ bao đời nay, gìn giữ và bồi đắp nên một nét đẹp văn hóa đặc sắc với những dấu ấn rất riêng. Đó là đồng bào Chăm Islam An Giang.

Sắc màu văn hóa Lô Lô hội tụ nơi biên cương

Sắc màu văn hóa Lô Lô hội tụ nơi biên cương

Giữa không gian núi đá trùng điệp nơi cực Bắc Tổ quốc, những thanh âm trống đồng, sắc màu trang phục truyền thống và các điệu múa dân gian của đồng bào Lô Lô đã tạo nên một không gian văn hóa đặc sắc tại xã Mèo Vạc, tỉnh Tuyên Quang.

Tây Ninh phát huy sức mạnh đại đoàn kết các dân tộc

Tây Ninh phát huy sức mạnh đại đoàn kết các dân tộc

Tây Ninh có 17 dân tộc thiểu số với 35.589 người, nhiều cộng đồng sinh sống tại các xã biên giới giáp Campuchia. Tỉnh chú trọng hỗ trợ sinh kế, chăm lo giáo dục, y tế, bảo tồn bản sắc văn hóa và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào. 

Quân đội chung tay gìn giữ văn hóa nhà rông

Quân đội chung tay gìn giữ văn hóa nhà rông

Chiều 22/10, Binh đoàn 15 (Bộ Quốc phòng) tổ chức Lễ khánh thành, bàn giao Nhà rông văn hóa tặng nhân dân thôn Giang Lố 1, xã Sa Loong, tỉnh Quảng Ngãi. Công trình có tổng kinh phí hơn 2 tỷ đồng, do Binh đoàn 20 hỗ trợ, Binh đoàn 15 làm chủ đầu tư, Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 732 phối hợp triển khai thực hiện.

Gìn giữ nét đẹp lễ Dâng y Kathina

Gìn giữ nét đẹp lễ Dâng y Kathina

Sáng 22/10, Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh An Giang trang trọng tổ chức lễ Dâng y Kathina năm 2026, với sự tham dự của chư Tôn trưởng lão Hòa thượng, Thượng tọa, chư Tăng, sư trụ trì 66 chùa Phật giáo Nam tông Khmer cùng đông đảo đồng bào, Phật tử.

Giữ hồn thổ cẩm trong nhịp sống đương đại

Giữ hồn thổ cẩm trong nhịp sống đương đại

Tháng 6/2025, nghề dệt thổ cẩm của đồng bào Thái ở Nghệ An được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, tạo thêm cơ hội bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống gắn với phát triển du lịch cộng đồng.

Gìn giữ sắc chàm của người Nùng An

Gìn giữ sắc chàm của người Nùng An

Giữa nhịp sống hiện đại, khi nhiều giá trị truyền thống đứng trước nguy cơ mai một, Nùng Indigo (xóm Khào, xã Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng) trở thành điểm đến góp phần gìn giữ và lan tỏa sắc chàm đặc trưng của người Nùng An, mang đến trải nghiệm văn hóa gần gũi cho du khách.

Lan tỏa sắc màu văn hóa các dân tộc xứ Thanh

Lan tỏa sắc màu văn hóa các dân tộc xứ Thanh

Với chủ đề “Sắc màu văn hóa xứ Thanh”, từ ngày 22 - 24/11, tỉnh Thanh Hóa tổ chức Ngày hội Văn hóa các dân tộc tỉnh Thanh Hóa năm 2026 tại Quảng trường Lam Sơn, phường Hạc Thành.