Tuy nhiên, với những nghệ nhân ở làng gốm Bàu Trúc (xã Ninh Phước, tỉnh Khánh Hòa), sức sống của di sản vẫn còn nhiều trăn trở; đó là người làm gốm ngày một ít đi, nguyên liệu càng khan hiếm, sản phẩm chưa được thị trường ưa chuộng nhiều. Đây là khó khăn mà người làm gốm đang cần được quan tâm tháo gỡ để nghề gốm có đường hướng phát triển bền vững, phát huy được giá trị di sản.
Để người giữ nghề còn muốn "giữ lửa"
Ở tuổi ngoài 70, nghệ nhân Trượng Thị Gạch (làng gốm Bầu Trúc) vẫn nhớ những ngày đầu học làm gốm từ mẹ và bà. Nghề được truyền lại chủ yếu qua quan sát và thực hành. Người trẻ đứng bên cạnh người đi trước, nhìn cách chọn đất, nhào đất, tạo hình, trang trí rồi tự tay làm từng công đoạn.
Bà Trượng Thị Gạch bắt đầu làm gốm từ năm 20 tuổi. Qua nhiều năm gắn bó với đất và lửa, những kinh nghiệm về độ dẻo của đất, cách tạo dáng hay thời điểm nung trở thành kỹ năng được tích lũy trong chính đôi tay của bà. Khi tuổi cao, bà vẫn mong con cháu tiếp tục nghề và giữ những kỹ thuật được các thế hệ trong gia đình trao truyền. Với bà, nung gốm ngoài trời bằng củi, rơm, trấu là một đặc trưng của Bàu Trúc. Đây là phương thức làm nghề đã tồn tại qua nhiều thế hệ. Ngọn lửa, hướng gió, nhiệt độ và kinh nghiệm của người thợ tạo nên những màu sắc khác nhau trên từng sản phẩm.
Nghệ nhân Châu Thị Tính, làng gốm Bàu Trúc cho rằng, nghề vẫn có thể tạo sinh kế nếu người thợ có tay nghề và sản phẩm tìm được đầu ra. Những người chưa đủ điều kiện mở cơ sở riêng có thể làm việc cho các hộ sản xuất trong làng. Người trẻ sau thời gian làm việc ở nơi khác vẫn có thể trở về nếu nghề gốm mang lại thu nhập ổn định.
Theo báo cáo của UBND xã Ninh Phước, hiện làng Bàu Trúc có 151 thợ làm gốm, 2 hợp tác xã và hơn 100 cơ sở sản xuất, hộ kinh doanh. Khu vực đất sét truyền thống khoảng hơn 6 ha đã được khảo sát, hoàn thiện hồ sơ đề nghị bổ sung vào quy hoạch sử dụng đất. Giai đoạn 2023-2024, khoảng 12 tỷ đồng được đầu tư chỉnh trang, nâng cấp hạ tầng làng nghề. Các hoạt động truyền dạy, xây dựng câu lạc bộ thực hành di sản, phát triển du lịch cộng đồng và quảng bá sản phẩm được triển khai. Lượng khách đến làng gốm tăng từ hơn 11.000 lượt năm 2023 lên hơn 17.000 lượt năm 2025. Địa phương từng bước ứng dụng thương mại điện tử, thực tế ảo, chip NFC, số hóa thông tin di sản và xây dựng thương hiệu gốm Bàu Trúc.
Từ duy trì nghề đến khả năng tự tái tạo
Theo Tiến sĩ Nguyễn Thị Thu Trang, qua nghiên cứu của bà và cộng sự, số người thực hành gốm ở Bàu Trúc giảm từ 455 người năm 2019 xuống 360 người năm 2024. Trong số này, chỉ còn 6 người có khả năng truyền dạy. Sau gần 4 năm được UNESCO ghi danh, công tác bảo vệ di sản đã đạt một số kết quả như tổ chức lớp truyền nghề, tôn vinh nghệ nhân, xây dựng thương hiệu, tổ chức lễ hội và đầu tư hạ tầng. Tuy nhiên, sức sống thực tế của di sản còn phụ thuộc vào khả năng duy trì nghề và trao truyền giữa các thế hệ.
Trường hợp nghệ nhân Đàng Thị Tám cho thấy những khó khăn đó. Tháng 11/2022, bà là đại diện duy nhất của cộng đồng gốm Chăm trong đoàn Việt Nam tham dự Kỳ họp lần thứ 17 của Ủy ban liên Chính phủ Công ước 2003 của UNESCO tại Rabat, Maroc. Tại kỳ họp này, nghệ thuật làm gốm của người Chăm được ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Tuy nhiên, theo Tiến sĩ Nguyễn Thị Thu Trang, khoảng 3 năm sau khi di sản được ghi danh, bà Đàng Thị Tám đã ngừng làm gốm do sản phẩm khó tiêu thụ; không gian làm và nung gốm được chuyển sang phục vụ sinh kế khác.
Sản phẩm gốm thủ công đặc trưng của địa phương được sản xuất tại Hợp tác xã gốm Chăm Bàu Trúc (xã Ninh Phước, tỉnh Khánh Hòa). Ảnh: Nguyễn Thành/TTXVN
Từ thực tế này, việc đánh giá hiệu quả bảo tồn cần vượt ra ngoài số lượng chương trình hay hoạt động được triển khai. Những câu hỏi quan trọng là người học nghề có tiếp tục làm gốm hay không; nghệ nhân có thu nhập đủ để gắn bó với nghề hay không; nguồn đất sét có được bảo vệ ổn định hay không; người dân có được tham gia quyết định hướng phát triển du lịch, thiết kế sản phẩm và phân chia lợi ích hay không.
Đây cũng là vấn đề được Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phan Quốc Anh, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Ninh Thuận, Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn Dân tộc - Tôn giáo, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Khánh Hòa phân tích khi đề xuất mô hình “bảo tàng sống” cho Bàu Trúc.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phan Quốc Anh, làng gốm đang chịu nhiều sức ép. Nghệ nhân cao tuổi ngày càng ít. Việc tiếp cận đất sét gặp khó khăn. Thị trường thay đổi nhanh. Du lịch tại làng vẫn phổ biến là hình thức khách đến tham quan trong thời gian ngắn, mua một số sản phẩm rồi rời đi. Trong bối cảnh đó, “bảo tàng sống” được hiểu là một hệ sinh thái bảo tồn dựa vào cộng đồng. Người Chăm tiếp tục sinh sống, làm nghề và truyền nghề ngay trong không gian làng. Muốn giữ nghề, trước hết phải bảo vệ vùng nguyên liệu và không gian thực hành. Kỹ thuật nung lộ thiên, phương pháp tạo hình thủ công và kinh nghiệm xử lý đất là những yếu tố tạo nên bản sắc riêng của Bàu Trúc.
Bên cạnh việc giữ kỹ thuật cốt lõi, sản phẩm cũng cần thích ứng với thị trường. Nghệ nhân có thể kết nối với họa sĩ, nhà thiết kế và doanh nghiệp để phát triển sản phẩm mỹ thuật, quà tặng, đồ trang trí, sản phẩm phục vụ du lịch. Sự đổi mới phải dựa trên nền tảng kỹ thuật và giá trị văn hóa của gốm Chăm. Thực tế cho thấy lượng khách tăng chưa đồng nghĩa mọi hộ làm gốm đều được hưởng lợi. Nếu khách chủ yếu tập trung tại một số điểm trưng bày lớn, nghệ nhân trong các ngõ nhỏ vẫn phải bán sản phẩm qua trung gian hoặc nhận làm thuê.
Theo các chuyên gia, du lịch cộng đồng tại Bàu Trúc cần chuyển từ mục tiêu tăng lượt khách sang tăng giá trị trải nghiệm. Du khách có thể trực tiếp tham gia làm gốm, tìm hiểu cách chọn đất, tạo hình, trang trí và nung sản phẩm. Thời gian lưu trú dài hơn sẽ tạo cơ hội tăng chi tiêu và mở rộng nguồn thu cho người dân.
Tiến sĩ Phạm Cao Quý, Cục Di sản văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) lưu ý cần hiểu đúng ý nghĩa của Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Đây không phải bảng xếp hạng thấp hơn Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. UNESCO sử dụng cơ chế này đối với những thực hành có sức sống đang bị đe dọa và cần những biện pháp bảo vệ phù hợp. Vì vậy, vấn đề sau ghi danh là cộng đồng có đủ điều kiện và động lực để tiếp tục thực hành hay không; nghề có được trao truyền hay không; người dân có quyền tham gia quyết định tương lai của di sản hay không.
Sản phẩm gốm của Hợp tác xã gốm Chăm Bàu Trúc (xã Ninh Phước, tỉnh Khánh Hòa). Ảnh: Nguyễn Thành/TTXVN
Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Khánh Hòa Thái Thị Lệ Hằng cho rằng, bảo vệ di sản trước hết phải giữ được cộng đồng, nghệ nhân và tri thức; đồng thời tạo điều kiện để nghề tiếp tục được thực hành trong đời sống.
Theo bà Thái Thị Lệ Hằng, bảo tồn phải gắn với sinh kế. Khi người làm nghề không có thu nhập ổn định, sản phẩm thiếu thị trường và thế hệ trẻ không nhìn thấy tương lai từ nghề truyền thống, quá trình trao truyền sẽ gặp nhiều khó khăn.
Thời gian qua, tỉnh Khánh Hòa định hướng nâng cao giá trị sản phẩm, mở rộng thị trường, kết nối gốm Chăm với du lịch và công nghiệp văn hóa. Quá trình phát triển phải bảo đảm những giá trị cốt lõi của di sản. Mục tiêu lâu dài là tạo sức sống mới để Nghệ thuật làm gốm của người Chăm tiếp tục được thực hành và trao truyền trong cộng đồng; từng bước đáp ứng các yêu cầu của UNESCO, hướng tới đưa di sản ra khỏi tình trạng cần bảo vệ khẩn cấp và tạo điều kiện để được xem xét ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Nắng chiều nhạt dần trên những mái nhà Bàu Trúc. Trong sân, những sản phẩm gốm vừa tạo hình vẫn nằm chờ khô, bên cạnh là đôi bàn tay nghệ nhân còn vương màu đất. Rời làng gốm, điều đọng lại không phải câu chuyện về một danh hiệu, mà là mong muốn rất đời thường của người dân, đó là còn người làm nghề, còn người học nghề và những mẻ gốm tiếp tục đỏ lửa qua nhiều thế hệ.
Tên gọi khác: Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Chăm Pa, Hời...
Nhóm địa phương: Chăm Hroi, Chăm Poổng, Chà Và Ku, Chăm Châu Ðốc.
Dân số: 161.729 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Polynéxia (ngữ hệ Nam Ðảo).
Lịch sử: Dân tộc Chăm vốn sinh tụ ở duyên hải miền Trung Việt Nam từ rất lâu đời, đã từng kiến tạo nên một nền văn hoá rực rỡ với ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá Ấn Ðộ. Ngay từ những thế kỉ thứ XVII, người Chăm đã từng xây dựng nên vương quốc Chăm pa. Hiện tại cư dân gồm có hai bộ phận chính: Bộ phận cư trú ở Ninh Thuận và Bình Thuận chủ yếu theo đạo Bà la môn (một bộ phận nhỏ người Chăm ở đây theo đạo Islam truyền thống gọi là người Chăm Bà ni). Bộ phận cư trú ở một số địa phương thuộc các tỉnh Châu Ðốc, Tây Ninh, An Giang, Ðồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh theo đạo Islam (Hồi giáo) mới.
Hoạt động sản xuất: Người Chăm có truyền thống nông nghiệp ruộng nước, giỏi làm thuỷ lợi và làm vườn trồng cây ăn trái. Bên cạnh việc làm ruộng nước vẫn tồn tại loại hình ruộng khô một vụ trên sườn núi. Bộ phận người Chăm ở Nam Bộ lại sinh sống chủ yếu bằng nghề chài lưới, dệt thủ công và buôn bán nhỏ, nghề nông chỉ là thứ yếu.
Nghề thủ công phát triển ở vùng Chăm nổi tiếng là dệt lụa tơ tằm và nghề gốm nặn tay, nung trên các lò lộ thiên. Việc buôn bán với các dân tộc láng giềng đã xuất hiện từ xưa. Vùng duyên hải miền Trung đã từng là nơi hoạt động của những đội hải thuyền nổi tiếng trong lịch sử.
Ăn: Người Chăm ăn cơm, gạo được nấu trong những nồi đất nung lớn, nhỏ. Thức ăn gồm cá, thịt, rau củ, do săn bắt, hái lượm và chăn nuôi, trồng trọt đem lại. Thức uống có rượu cần và rượu gạo. Tục ăn trầu cau rất phổ biến trong sinh hoạt và trong các lễ nghi phong tục cổ truyền.
Mặc: Nam nữ đều quấn váy tấm. Ðàn ông mặc áo cánh ngắn xẻ ngực cài khuy. Ðàn bà mặc áo dài chui đầu. Màu chủ đạo trên y phục là màu trắng của vải sợi bông. Ngày nay, trong sinh hoạt hằng ngày, người Chăm ăn mặc như người Việt ở miền Trung, chỉ có chiếc áo dài chui đầu là còn thấy xuất hiện trong giới nữ cao niên.
Ở: Người Chăm cư trú tại Ninh Thuận, Bình Thuận, ở nhà đất (nhà trệt). Mỗi gia đình có những ngôi nhà được xây cất gần nhau theo một trật tự gồm: nhà khách, nhà của cha mẹ và các con nhỏ tuổi, nhà của các cô gái đã lập gia đình, nhà bếp và nhà tục trong đó có kho thóc, buồng tân hôn và là chỗ ở của vợ chồng cô gái út.
Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu và thường xuyên vẫn là cái gùi cõng trên lưng. Cư dân Chăm cũng là những người thợ đóng thuyền có kỹ thuật cao để hoạt động trên sông và biển. Họ làm ra những chiếc xe bò kéo, trâu kéo có trọng tải khá lớn để vận chuyển trên bộ.
Quan hệ xã hội: Gia đình người Chăm mang truyền thống mẫu hệ, mặc dù xã hội Chăm trước đây là xã hội đẳng cấp, phong kiến. Ở những vùng theo Hồi giáo Islam, tuy gia đình đã chuyển sang phụ hệ, vai trò nam giới được đề cao, nhưng những tập quán mẫu hệ vẫn tồn tại khá đậm nét trong quan hệ gia đình, dòng họ với việc thờ cúng tổ tiên. Cư dân Chăm vốn được phân thành hai thị tộc: Cau và Dừa như hai hệ dòng Niê và Mlô ở dân tộc Ê đê. Về sau thị tộc Cau biến thành tầng lớp của những người bình dân, trong khi thị tộc Dừa trở thành tầng lớp của quý tộc và tăng lữ. Dưới thị tộc là các dòng họ theo huyết hệ mẹ, đứng đầu là một người đàn bà thuộc dòng con út. Mỗi dòng họ lại có nhiều chi họ. Xã hội cổ truyền Chăm được phân thành các đẳng cấp như xã hội Ấn Ðộ cổ đại. Họ có những vùng cư trú riêng và có những ngăn cách rõ rệt: không được thiết lập quan hệ hôn nhân, không sống cùng một xóm, không ăn cùng một mâm...
Cưới xin: Phụ nữ chủ động trong quan hệ luyến ái. Hôn nhân cư trú phía nhà vợ, con sinh ra đều theo họ mẹ. Sính lễ do nhà gái lo liệu. Gia đình một vợ một chồng là nguyên tắc trong hôn nhân.
Ma chay: Người Chăm có hai hình thức đưa người chết về thế giới bên kia là thổ táng và hoả táng. Nhóm cư dân theo đạo Bà la môn thường hoả táng theo giáo luật, còn các nhóm cư dân khác thì thổ táng. Những người trong cùng một dòng họ thì được chôn cất cùng một nơi theo huyết hệ mẹ.
Nhà mới: Người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận khi dựng nhà mới phải thực hiện một số nghi lễ cúng thần như: cúng Thổ thần để đốn gỗ tại rừng. Khi gỗ vận chuyển về làng phải làm lễ đón cây. Lễ phạt mộc được tổ chức để khởi công cho việc xây cất ngôi nhà.
Lễ tết: Người ta thực hiện nhiều nghi lễ nông nghiệp trong một chu kỳ năm như: lễ khai mương đắp đập, lễ hạ điền, lễ mừng lúa con, lễ mừng lúa ra đòng. Nhưng lễ lớn nhất vẫn là lễ Bon katê được tổ chức linh đình tại các đền tháp vào giữa tháng mười âm lịch.
Lịch: Người Chăm có nông lịch cổ truyền tính theo lịch âm.
Học: Dân tộc Chăm có chữ từ rất sớm. Hiện tồn tại nhiều bia kí, kinh bằng chữ Chăm. Chữ Chăm được sáng tạo dựa vào hệ thống văn tự Sascrit, nhưng việc sử dụng chữ này còn rất hạn hẹp trong tầng lớp tăng lữ và quý tộc xưa. Việc học hành, truyền nghề, vẫn chủ yếu là truyền khẩu và bắt chước, làm theo.
Văn nghệ: Nhạc cụ Chăm nổi bật có trống mặt da Paranưng, trống vỗ, kèn xaranai. Nền dân ca - nhạc cổ Chăm đã để lại nhiều ảnh hưởng đến dân ca - nhạc cổ của người Việt ở miền Trung như trống cơm, nhạc nam ai, ca hò Huế... Dân vũ Chăm được thấy trong các ngày hội Bon katê diễn ra tại các đền tháp.
Chơi: Trẻ em thích đánh cù và thả diều, đánh trận giả, thi cướp cờ, chơi trò bịt mắt bắt dê.
Theo cema.gov.vn