Từ việc khôi phục khung cửi, truyền dạy nghề cho phụ nữ đến sáng tạo sản phẩm lưu niệm và tổ chức các hoạt động trải nghiệm, phát huy giá trị di sản đang mở ra hướng kết nối văn hóa với du lịch, tạo sinh kế, nâng cao thu nhập cho người dân và góp phần gìn giữ bản sắc dân tộc trong đời sống đương đại.
Khôi phục nghề dệt, trao truyền giá trị văn hóa
Gắn với bảo tồn nghề dệt thổ cẩm, bản Bãi Gạo, xã Châu Khê hướng tới đưa sản phẩm thủ công truyền thống trở thành một phần trong hoạt động du lịch cộng đồng. Ảnh: Bích Huệ /TTXVN
Trong lớp học dệt thổ cẩm ở bản Bãi Gạo, xã Châu Khê, những đôi tay thoăn thoắt đưa thoi, phối màu, tạo hoa văn trên khung cửi đang góp phần đánh thức nghề truyền thống của đồng bào Thái. Dù bận rộn với công việc thường ngày, chị Vi Thị Dẳng vẫn sắp xếp thời gian tham gia lớp học, mong muốn nâng cao kỹ năng dệt để sau này kết hợp giới thiệu nghề truyền thống với hoạt động du lịch cộng đồng tại địa phương.
Theo chị Dẳng, nghề dệt thổ cẩm đòi hỏi sự khéo léo, kiên trì nhưng đang dần mai một do sản phẩm công nghiệp phổ biến, thu nhập từ nghề chưa ổn định. Vì vậy, lớp truyền dạy này giúp chị em trong bản thực hành, trao đổi kinh nghiệm, tiếp nối kỹ thuật dệt truyền thống.
Tại lớp học, người tham gia được hướng dẫn từ khâu chuẩn bị sợi, lên khung đến đưa thoi, tạo hoa văn. Không chỉ học cách làm ra sản phẩm, chị em còn hiểu thêm ý nghĩa của những họa tiết gắn với đời sống văn hóa người Thái. Với chị Dẳng, điều quan trọng là sau khóa học, mỗi người có thể tiếp tục duy trì khung cửi, làm ra những sản phẩm đẹp, phù hợp nhu cầu thị trường và có thêm cơ hội tăng thu nhập.
Gắn với bảo tồn nghề dệt thổ cẩm, bản Bãi Gạo, xã Châu Khê hướng tới đưa sản phẩm thủ công truyền thống trở thành một phần trong hoạt động du lịch cộng đồng. Qua đó, du khách không chỉ khám phá đời sống người Thái mà còn có cơ hội tìm hiểu kỹ thuật dệt, trải nghiệm làm sản phẩm và lựa chọn những món đồ mang đậm bản sắc địa phương.
Chị Phan Thị Huyền, Trưởng phòng Văn hóa - Xã hội xã Châu Khê cho biết, địa phương chú trọng phát huy vai trò của người dân trong gìn giữ di sản văn hóa. Việc truyền dạy nghề cho phụ nữ là bước đầu để duy trì kỹ năng dệt và hình thành các sản phẩm phục vụ du lịch. Thời gian tới, xã khuyến khích người dân duy trì nghề tại gia đình, đồng thời kết nối với các điểm lưu trú, dịch vụ du lịch nhằm mở rộng đầu ra, nâng cao giá trị sản phẩm và tạo thêm thu nhập.
Theo chị Huyền, muốn nghề dệt được duy trì lâu dài, việc truyền dạy phải đi đôi với tạo sinh kế. Khi sản phẩm có đầu ra và mang lại thu nhập, chị em sẽ có thêm động lực gắn bó với nghề. Đây cũng là hướng để những giá trị văn hóa được gìn giữ trong đời sống thường ngày, đồng thời trở thành nguồn lực phát triển du lịch cộng đồng ở bản Bãi Gạo.
Ở bản Xiềng, xã Môn Sơn, những khung cửi truyền thống đang góp phần lưu giữ nét văn hóa đặc sắc của đồng bào Thái, đồng thời trở thành điểm nhấn trong hành trình khám phá du lịch cộng đồng. Ảnh: Bích Huệ /TTXVN
Năm 2021, điểm du lịch cộng đồng, sinh thái Bản Xiềng - Phà Lài - sông Giăng được tỉnh Nghệ An công nhận, tạo điều kiện để bản Xiềng, xã Môn Sơn phát huy lợi thế cảnh quan và bản sắc văn hóa dân tộc Thái. Ở bản Xiềng, những khung cửi truyền thống đang góp phần lưu giữ nét văn hóa đặc sắc của đồng bào Thái, đồng thời trở thành điểm nhấn trong hành trình khám phá du lịch cộng đồng. Từ trang phục truyền thống, các sản phẩm như khăn quàng, túi vải, ví nhỏ, bìa sổ và đồ lưu niệm được đồng bào người Thái làm phong phú hơn, vừa giữ nét hoa văn đặc trưng, vừa đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Chị Hà Thị Hằng, Chủ nhiệm Làng nghề dệt thổ cẩm bản Xiềng cho biết, việc đa dạng hóa sản phẩm giúp thổ cẩm có thêm cơ hội tiếp cận du khách. Khách đến bản không chỉ quan tâm mua sản phẩm mà còn muốn tìm hiểu cách dệt, ý nghĩa hoa văn và câu chuyện đằng sau mỗi tấm vải. Vì vậy, người làm nghề chú trọng giới thiệu quy trình thủ công, đón khách trải nghiệm và quảng bá sản phẩm gắn với văn hóa địa phương.
Theo ông Phạm Mạnh Hùng, Chủ tịch UBND xã Môn Sơn, phát triển nghề dệt gắn với thị trường và du lịch không chỉ góp phần bảo tồn văn hóa mà còn tạo việc làm, tăng thu nhập cho phụ nữ địa phương. Để nghề phát triển bền vững, cần tiếp tục nâng cao chất lượng, giữ gìn hoa văn truyền thống, mở rộng kênh quảng bá và kết nối tiêu thụ sản phẩm, qua đó, đưa thổ cẩm trở thành một phần hấp dẫn trong trải nghiệm du lịch cộng đồng.
Kết nối làng nghề, tạo sản phẩm du lịch đặc trưng
Tại nhiều bản làng miền Tây Nghệ An, nghề dệt thổ cẩm được gìn giữ qua nhiều thế hệ, tạo nên những sản phẩm mang nét đặc trưng của người Thái. Ảnh: Bích Huệ /TTXVN
Để nghề dệt thổ cẩm trở thành sản phẩm du lịch có sức hút, nhiều xã ở miền Tây Nghệ An chú trọng gắn bảo tồn nghề truyền thống với hoạt động trải nghiệm và nhu cầu thị trường. Thay vì chỉ trưng bày sản phẩm, người dân có thể giới thiệu quy trình dệt, hướng dẫn du khách tìm hiểu hoa văn, thử thao tác trên khung cửi và lựa chọn những món quà mang dấu ấn văn hóa của đồng bào Thái.
Tại bản Hoa Tiến, xã Châu Tiến, nghề dệt thổ cẩm được gìn giữ qua nhiều thế hệ, tạo nên những sản phẩm mang nét đặc trưng của người Thái. Mỗi tấm vải không chỉ đòi hỏi sự khéo léo, kiên trì mà còn thể hiện kinh nghiệm phối màu, tạo hoa văn và những giá trị văn hóa được truyền lại trong cộng đồng.
Nghệ nhân Sầm Thị Bích, người gắn bó với nghề dệt thổ cẩm tại bản Hoa Tiến chia sẻ, để dệt được tấm vải đẹp, người làm nghề phải trải qua nhiều công đoạn, từ chuẩn bị sợi đến tạo hoa văn. Nếu khách du lịch được trực tiếp xem dệt, nghe kể về ý nghĩa của từng họa tiết và thử làm một vài công đoạn họ sẽ hiểu hơn giá trị của thổ cẩm, từ đó, có thêm nhu cầu mua sản phẩm.
Theo bà Bích, việc tổ chức trải nghiệm ngay tại nhà sàn hoặc không gian dệt của người dân sẽ giúp du khách tiếp cận nghề truyền thống một cách gần gũi. Đây cũng là cơ hội để người làm nghề giới thiệu sản phẩm, tạo thêm thu nhập và khuyến khích thế hệ trẻ tiếp tục học nghề.
Tại các bản người Thái còn lưu giữ nghề dệt thổ cẩm, việc khôi phục và phát triển nghề cần gắn với quảng bá văn hóa, khai thác tiềm năng du lịch cộng đồng. Bên cạnh duy trì khung cửi tại các gia đình, địa phương đang xây dựng không gian trưng bày, tổ chức trải nghiệm dệt, giới thiệu sản phẩm và những câu chuyện về trang phục, phong tục, tập quán, giúp du khách hiểu sâu hơn giá trị thổ cẩm, đồng thời mở rộng đầu ra, tạo thêm thu nhập cho người dân.
Ông Nguyễn Thế Mạnh, Chủ tịch UBND xã Châu Khê cho biết, địa phương định hướng gắn nghề dệt thổ cẩm với văn hóa địa phương để phát triển du lịch cộng đồng, xây dựng điểm giới thiệu sản phẩm, kết nối đơn vị lữ hành và tổ chức trải nghiệm. Năm 2026, xã hướng tới phát triển sản phẩm thổ cẩm đạt OCOP, đưa lên các nền tảng chợ số, tạo thêm thu nhập và khuyến khích người dân chủ động bảo tồn nghề truyền thống.
Cùng với trải nghiệm, đa dạng hóa sản phẩm là giải pháp quan trọng để mở rộng thị trường. Ngoài váy, áo, khăn truyền thống, người làm nghề có thể phát triển túi vải, ví, khăn trải bàn và đồ lưu niệm có kích thước nhỏ gọn, giá bán phù hợp với khách du lịch. Việc đổi mới mẫu mã cần dựa trên nhu cầu thực tế nhưng không làm mất đi những hoa văn, kỹ thuật dệt đặc trưng của người Thái.
Không chỉ học cách làm ra sản phẩm, chị em còn hiểu thêm ý nghĩa của những họa tiết gắn với đời sống văn hóa người Thái. Ảnh: Bích Huệ /TTXVN
Anh Nguyễn Huỳnh Sương, Giám đốc Công ty Đông Dương Travel cho rằng, du khách yêu thích trải nghiệm dệt thổ cẩm, giao lưu với người dân và mua sản phẩm lưu niệm mang câu chuyện văn hóa riêng. Vì vậy, các điểm dệt cần có người giới thiệu am hiểu nghề, không gian trải nghiệm phù hợp, giá bán niêm yết rõ ràng, đồng thời kết hợp tham quan nhà sàn, thưởng thức ẩm thực và tìm hiểu phong tục địa phương để làm phong phú hành trình.
Ông Trần Xuân Cường, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nghệ An cho rằng, nghề dệt thổ cẩm có tiềm năng đóng góp vào phát triển du lịch cộng đồng nếu được khai thác phù hợp. Các địa phương cần phối hợp với nghệ nhân, người làm nghề và doanh nghiệp để truyền dạy, quảng bá sản phẩm, đào tạo kỹ năng phục vụ du khách và mở rộng thị trường. Bên cạnh đó, cần đa dạng kênh tiêu thụ, từ điểm du lịch, hội chợ đến nền tảng số, đồng thời khuyến khích người trẻ học nghề, kết hợp kỹ thuật truyền thống với thiết kế và quảng bá hiện đại.
Từ Hoa Tiến đến Bãi Gạo, bản Xiềng, kết nối nghề dệt với du lịch không chỉ mở rộng đầu ra cho sản phẩm mà còn tạo động lực gìn giữ bản sắc văn hóa. Khi người dân có sinh kế từ nghề, chính quyền hỗ trợ tổ chức hoạt động và doanh nghiệp cùng tham gia quảng bá, thổ cẩm sẽ có thêm cơ hội trở thành sản phẩm du lịch đặc trưng của miền Tây Nghệ An.
Tên tự gọi: Tay hoặc Thay
Tên gọi khác: Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ.
Nhóm địa phương: Ngành Ðen (Tay Ðăm), Ngành trắng (Tay Ðón hoặc Khao).
Dân số: 1.550.423 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).
Lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm.
Hoạt động sản xuất: Người Thái sớm đi vào nghề trồng lúa nước trong hệ thống thuỷ lợi thích hợp được đúc kế như một thành ngữ - "mương, phai, lái, lịn" (khơi mương, đắp đập, dẫn nước qua vật chướng ngại, đặt máng) trên các cánh đồng thung lũng. Họ làm ruộng cấy một vụ lúa nếp, nay chuyển sang 2 vụ lúa tẻ. Họ còn làm nương để trồng thêm lúa, ngô, hoa màu, cây thực phẩm và đặc biệt bông, cây thuốc nhuộm, dâu tằm để dệt vải.
Cót xát rất phổ biến ở vùng người Thái, dùng để trải trên sàn trước khi xếp chiếu phục tay và các tấm đệm ngủ lên trên. Cót được đan bằng cây mạy loi, một loại cây thuộc loài tre, nứa mọc trên núi đá vôi cao.
Ăn: Ngày nay gạo tẻ đã trở thành lương thực chính, gạo nếp vẫn được coi là lương ăn truyền thống. Gạo nếp ngâm, bỏ vào chõ, đặt lên bếp, đồ thành xôi. Trên mâm ăn không thể thiếu được món ớt giã hoà muối, tỏi, có rau thơm, mùi, lá hành... có thể thêm gan gà luộc chín, ruột cá, cá nướng... gọi chung là chéo. Hễ có thịt các con vật ăn cỏ thuộc loài nhai lại thì buộc phải có nước nhúng lấy từ lòng non (nặm pịa). Thịt cá ăn tươi thì làm món nộm, nhúng (lạp, cỏi), ướp muối, thính làm mắm; ăn chín, thích hợp nhất phải kể đến các món chế biến từ cách nướng, lùi, đồ, sấy, sau đó mới đến canh, xào, rang, luộc...
Họ ưa thức ăn có các vị: cay, chua, đắng, chát, bùi, ít dùng các món ngọt, lợ, đậm, nồng... hay uống rượu cần, cất rượu. Người Thái hút thuốc lào bằng điếu ống tre, nứa và chạm bằng mảnh đóm tre ngâm, khô nỏ. Người Thái Trắng trước khi hút còn có lệ mời người xung quanh như trước khi ăn.
Mặc: Cô gái Thái đẹp nhờ mặc áo cánh ngắn, đủ màu sắc, đính khuy bạc hình bướm, nhện, ve sầu... chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân, ăn nhịp với chiếc váy vải màu thâm, hình ống; thắt eo bằng dải lụa màu xanh lá cây; đeo dây xà tích bạc ở bên hông. Ngày lễ có thể vận thêm áo dài đen, xẻ nách, hoặc kiểu chui đầu, hở ngực có hàng khuy bướm của áo cánh, chiết eo, vai phồng, đính vải trang trí ở nách, và đối vai ở phía trước như của Thái Trắng. Nữ Thái Ðen đội khăn piêu nổi tiếng trong các hình hoa văn thêu nhiều màu sắc rực rỡ. Nam người Thái mặc quần cắt để thắt lưng; áo cánh xẻ ngực có túi ở hai bên gấu vạt, áo người Thái Trắng có thêm một túi ở ngực trái; cài khuy tết bằng dây vải. Màu quần áo phổ biến là đen, có thể màu gạch non, hoa kẻ sọc hoặc trắng. Ngày lễ mặc áo đen dài, xẻ nách, bên trong có một lần áo trắng, tương tự để mặc lót. Bình thường cuốn khăn đen theo kiểu mỏ rìu. Khi vào lễ cuốn dải khăn dài một sải tay.
Ở: Ở nhà sàn, dáng vẻ khác nhau: nhà mái tròn khum hình mai rùa, hai đầu mai rùa, hai đầu mái hồi có khau cút; nhà 4 mái mặt bằng sàn hình chữ nhật gần vuông, hiên có lan can; nhà sàn dài, cao, mỗi gian hồi làm tiền sảnh; nhà mái thấp, hẹp lòng, gần giống nhà người Mường.
Phương tiện vận chuyển: Gánh là phổ biến, ngoài ra gùi theo kiểu chằng dây đeo vắt qua trán, dùng ngựa cưỡi, thồ nay. ở dọc các con sông lớn họ rất nổi tiếng trong việc xuôi ngược bằng thuyền đuôi én.
Quan hệ xã hội: Cơ cấu xã hội cổ truyền được gọi là bản mường hay theo chế độ phìa tạo Tông tộc Thái gọi là Ðằm. Mỗi người có 3 quan hệ dòng họ trọng yếu: Ải Noong (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể). (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể).
Cưới xin: Trước kia người Thái theo chế độ hôn nhân mua bán và ở rể nên việc lấy vợ và lấy chồng phải qua nhiều bước, trong đó có 2 bước cơ bản:
Cưới lên (đong khửn) - đưa rể đến cư trú nhà vợ - là bước thử thách phẩm giá, lao động của chàng rể. Người Thái Ðen có tục búi tóc ngược lên đỉnh đầu cho người vợ ngay sau lễ cưới này. Tục ở rể từ 8 đến 12 năm.
Cưới xuống (đong lông) đưa gia đình trở về với họ cha.
Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ theo tư thế ngồi, nhau bỏ vào ống tre đem treo trên cành cây ở rừng. Sản phụ được sưởi lửa, ăn cơm lam và kiêng khem một tháng; ống lam bó đem treo trên cành cây. Có nghi thức dạy trẻ lao động theo giới và mời Lung Ta đến đặt tên chi cháu.
Ma chay: Lễ tang có 2 bước cơ bản:
Pông: Phúng viếng tiễn đưa hồn người chết lên cõi hư vô, đưa thi thể ra rừng chôn (Thái Trắng), thiếu (Thái Ðen).
Xống: gọi ma trở về ngụ ở gian thờ cúng tổ tiên ở trong nhà.
Nhà mới: Dẫn chủ nhân lên nhận nhà Lung Ta châm lửa đốt củi ở bếp mới. Người ta thực hiện tại nghi lễ, cúng đọc bài mo xua đuổi điều ác thu điều lành, cúng tổ tiên, vui chơi.
Lễ tết: Cúng tổ tiên ở người Thái Ðen vào tháng 7, 8 âm lịch. Người Thái Trắng ăn tết theo âm lịch. Bản Mường có cúng thần đất, núi, nước và linh hồn người làm trụ cột.
Lịch: Theo hệ can chi như âm lịch. Lịch của người Thái Ðen chênh với âm lịch 6 tháng.
Học: Người Thái có mẫu tự theo hệ Sanscrit. Họ học theo lệ truyền khẩu. Người Thái có nhiều tác phẩm cổ viết về lịch sử, phong tục, luật tục và văn học.
Văn nghệ: Người Thái có các điệu xoè, các loại sáo lam và tiêu, có hát thơ, đối đáp giao duyên phong phú.
Chơi: Trò chơi của người Thái phổ biến là ném còn, kéo co, đua ngựa, dạo thuyền, bắn nỏ, múa xoè, chơi quay và quả mák lẹ. Nhiều trò chơi cho trẻ em.
Mỗi nhà người Thái thường có hai bếp, một bếp để tiếp khách, sưởi ấm, một bếp khác để nấu cơm. Chõ xôi (ninh đồng, chõ gỗ) được đặt trên 3 ông đầu rau bằng đá. Phía trên bếp có giàn để các thức cần sấy khô. Người Thái thường dùng ghế mây tròn để ngồi quanh bếp.
Theo cema.gov.vn