Đề án cải tiến cơ cấu biểu giá bán lẻ điện: Đề xuất luật hóa chu kỳ điều chỉnh giá

Đề án cải tiến cơ cấu biểu giá bán lẻ điện: Đề xuất luật hóa chu kỳ điều chỉnh giá
Quang cảnh hội thảo. Ảnh: Huy Hùng - TTXVN
Quang cảnh hội thảo. Ảnh: Huy Hùng - TTXVN

Biểu giá điện 5 bậc thang

Ba phương án đề xuất tính giá điện sinh hoạt của ông Bùi Xuân Hồi gồm: phương án 3 bậc thang (Bậc 1 từ 0-100 kWh/tháng; Bậc 2 từ 101-400 kWh/tháng; Bậc 3 từ 401 kWh/tháng trở lên); Phương án 4 bậc thang (Bậc 1 từ 0-100 kWh; Bậc 2 từ 101-300 kWh; Bậc 3 từ 301-600 kWh và bậc 4 từ 601 kWh trở lên); Phương án 5 bậc thang (Bậc 1 từ 0-100 kWh; Bậc 2 từ 101-200 kWh; Bậc 3 từ 201-400 kWh; Bậc 4 từ 401-700 kWh và Bậc 5 từ 701 kWh trở lên). Theo đó, ông Hồi đề xuất sử dụng phương án 5 bậc thang.

Ông Bùi Xuân Hồi cho hay, cả 3 phương án trên đều không gây tác động nhiều đến hộ tiêu dùng, xã hội và doanh thu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) giảm nhẹ. Mặc dù phương án 3 bậc triển khai thực tế sẽ đơn giản hơn 4 bậc và 5 bậc nhưng đây là phương án mà hộ sử dụng từ 101-200 kWh sẽ trả chi phí điện tăng nhiều nhất.
 
PGS. TS Bùi Xuân Hồi, Giảng viên Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, Chủ nhiệm đề án trình bày tại hội thảo. Ảnh: Huy Hùng - TTXVN
 PGS. TS Bùi Xuân Hồi, Giảng viên Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, Chủ nhiệm đề án trình bày tại hội thảo. Ảnh: Huy Hùng - TTXVN

Lý giải việc lựa chọn phương án 5 bậc, ông Bùi Xuân Hồi cho rằng, phương án này phù hợp hơn cả với các mục tiêu định giá: Hộ tiêu dùng sử dụng từ 101-200 kWh/tháng chịu tác động ít nhất trong 3 phương án; việc chia các bậc thang dùng nhiều điện chi tiết hơn cũng phù hợp hơn với đặc điểm tiêu dùng hiện nay; phương án 5 bậc thang sản lượng tiêu thụ cũng phù hợp với 5 bậc thang thu nhập của hộ gia đình.

Chia sẻ thêm về phương án cải tiến cơ cấu biểu giá bán lẻ điện theo 5 bậc, ông Bùi Xuân Hồi cho biết, người tiêu dùng tại bậc 1 (< 101 kWh) sẽ phải trả thêm gần 2.800 đồng/tháng; bậc 2 (101 - 200 kWh) sẽ trả thêm hơn 8.300 đồng/tháng. Trong khi đó ở các bậc tiêu dùng điện khác đều có mức trả thấp hơn từ 12.000 đến 189.000 đồng/tháng.

Phương án này không gây tác động đến chỉ số CPI vì tổng chi tiêu hộ sinh hoạt không tăng, có mức giảm nhẹ; tuy nhiên, chi tiêu hỗ trợ giá điện cho các hộ nghèo của Chính phủ sẽ tăng khoảng 5,7 tỷ đồng/tháng và doanh thu của EVN sẽ có mức giảm nhẹ.

Đề án chỉ ra rằng, ở phương án 6 bậc như hiện nay có phần quá chi tiết, cơ cấu tiêu dùng đã thay đổi, có thể xem xét gộp lại để đơn giản quá trình tính toán.

Đồng thời, giá điện 1 thành phần đơn giản nhưng không phản ánh đúng chi phí người tiêu dùng gây ra cho hệ thống, không góp phần cải thiện hệ số sử dụng thiết bị, rủi ro cho ngành điện khi thu hồi chi phí cố định qua giá điện năng. Cơ cấu giá bậc thang hiện tại cũng không còn phản ánh phù hợp chi phí và chưa thực sự công bằng giữa các hộ tiêu dùng điện; mức giá thấp của các hộ sản xuất không khuyến khích đổi mới công nghệ, sử dụng hiệu quả tiết kiệm năng lượng...

Theo Giáo sư - Viện sỹ - Tiến sỹ khoa học Trần Đình Long, Phó Chủ tịch Hội Điện lực Việt Nam, giá bán lẻ điện có ý nghĩa rất quan trọng, ảnh hưởng tới các hộ tiêu thụ điện và tới doanh thu của doanh nghiệp điện lực.

Việc gộp các bậc trong biểu giá điện như đề xuất là hợp lý vì chênh lệch 2 bậc trong biểu giá 6 bậc cũ không quá nhiều. Đồng thời, việc lựa chọn phương án nhiều bậc (5 bậc thay vì 3 hay 4 bậc) cũng đảm bảo được ý đồ của biểu giá bậc thang: dùng càng nhiều giá càng cao. Ngoài ra, cần phải cải tiến biểu giá bởi hiện nay, mức độ chênh lệch của bậc cao nhất và thấp nhất là chưa đủ mạnh để người sử dụng cảm nhận được “sức nóng” của dùng điện nhiều, từ đó có ý thức tiết kiệm, ông Long nói.

6 tháng/lần điều chỉnh giá

Theo Đề án nghiên cứu, hiện nay, cơ chế biểu giá có khoảng thời gian điều chỉnh là 1 năm. PGS. TS Bùi Xuân Hồi cho rằng, khoảng thời gian này hơi dài, chưa điều chỉnh theo thời gian (hoặc ít nhất chưa tuân thủ), tạo áp lực lớn cho các lần điều chỉnh.

Do vậy, Đề án cũng đề xuất “Cải tiến cơ chế biểu giá bán lẻ điện và luật hóa chu kỳ điều chỉnh giá”. Cụ thể, Đề án đưa ra Chu kỳ giá theo phương án 6 tháng/lần. Ngoài ra, luật hóa cơ chế điều chỉnh giá bằng các văn bản pháp lý của cấp có thẩm quyền công khai chu kỳ điều chỉnh giá.

Ông Bùi Xuân Hồi nêu rõ, thời điểm điều chỉnh có thể được lựa chọn theo mùa mưa, mùa khô, đồng thời tránh các thời điểm nhạy cảm, có sự thay đổi đột biết về sản lượng. Kỳ điều chỉnh giá đề xuất sẽ vào các ngày 1/3 và 1/9 hàng năm. Việc điều chỉnh giá cũng có thể diễn ra bất thường khi có sự biến động lớn về giá nhiên liệu trên thị trường quốc tế dẫn đến sự thay đổi đáng kể về chi phí sản xuất và mua điện.
 
GS.VS Trần Đình Long cho ý kiến về Đề án. Ảnh: Huy Hùng - TTXVN
GS.VS Trần Đình Long cho ý kiến về Đề án. Ảnh: Huy Hùng - TTXVN

Theo ông Trần Đình Long, ông hoàn toàn đồng ý với vấn đề luật hóa chu trình điều chỉnh giá điện. “Thị trường thay đổi hàng ngày thì cần có chu kỳ điều chỉnh cho phù hợp, nếu không hiểu quy luật mà cho tăng giá điện thì tính theo cơ sở nào? Đề xuất một năm 2 lần điều chỉnh là hợp lý; như Thái Lan 1 năm 3 lần điều chỉnh và đưa vào luật”.

Ông Long đề xuất: cứ đến các ngày trên EVN đề xuất, các cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm xem xét, thông qua hoặc không thông qua. Và phải làm rõ cơ chế điều chỉnh giá, đầu vào như thế nào, tỷ giá ra sao, thời điểm điều chỉnh giá cho phù hợp với tình hình kinh tế xã hội của đất nước... 

Cũng theo ông Trần Văn Bình, Viện Kinh tế và Quản lý, Đại học Bách Khoa Hà Nội: “Tôi đồng ý với đề xuất điều chỉnh 2 lần/năm, có thể tăng hay giảm. Giá điện tùy thuộc nhiều yếu tố, như: mưa; nếu mưa nhiều thì thủy điện sẽ nhiều, giá thành thấp".

Ngược lại, nếu hạn hán, ngành điện phải huy động nhiệt điện dầu nhiều thì chi phí sản xuất điện sẽ cao, có thể tăng tăng giá. Như vậy, mức giá điều chỉnh có tăng, có giảm, tùy theo các yếu tố đầu vào. Làm được như vậy, sẽ minh bạch hơn, mỗi kỳ điều chỉnh nhỏ ở mức 3-5%. Từ đó, các hộ tiêu dùng có thể điều chỉnh được hành vi sử dụng điện. Còn như hiện nay, mỗi năm điều chỉnh 1 lần nhưng tăng khá mạnh, như đợt điều chỉnh gần đây là hơn 8%, sẽ gây sốc cho các hộ tiêu dùng”.

Theo các chuyên gia tại hội thảo, giai đoạn sắp tới với lộ trình cải tổ ngành điện, cần tiếp tục thực hiện các nghiên cứu dài hạn hơn các biểu giá mà nền tảng phải là biểu giá 2 thành phần (phần cố định và phần tiêu thụ) cho các đối tượng khách hàng, nghiên cứu áp dụng thử nghiệm và tiến tới thay thế biểu giá 1 thành phần  (giá sản xuất) cho các hộ tiêu dùng theo lộ trình phù hợp.

Bởi lẽ, hiện nay, giá điện vẫn là 1 thành phần đơn giản nhưng không phản ánh đúng chi phí người tiêu dùng gây ra cho hệ thống không góp phần cải thiện hệ số sử dụng thiết bị, rủi ro cho ngành điện khi thu hồi chi phí cố định qua giá điện năng...

Đức Dũng
TTXVN

Có thể bạn quan tâm

Đảm bảo cây giống, sẵn sàng cho trồng rừng năm 2026

Đảm bảo cây giống, sẵn sàng cho trồng rừng năm 2026

Để đảm bảo cây giống cung cấp cho các địa phương trồng rừng năm 2026, Trung tâm Phát triển Nông, lâm, nghiệp và Thủy sản Khu vực Hòa Bình đã chủ động chuẩn bị 5 giống cây keo lai, bạch đàn nuôi cấy mô và một số loại cây như dổi ăn hạt, trám đen ghép là những loại cây bản địa phát triển, phân bố tự nhiên tại địa phương, phù hợp với đất đai, khí hậu và gần gũi với cuộc sống người dân.

Mưa đá khiến 4 người bị thương tại xã Bắc Hà, Lào Cai

Mưa đá khiến 4 người bị thương tại xã Bắc Hà, Lào Cai

Rạng sáng ngày 16/4, một trận mưa đá lớn trên diện rộng đã bất ngờ trút xuống xã Bắc Hà, tỉnh Lào Cai khiến 4 người bị thương và làm hư hại nhà cửa, hoa màu của người dân. Chính quyền địa phương đang khẩn trương rà soát, hỗ trợ người dân khắc phục hậu quả.

Đổi mới cách tiếp cận, tiếp sức cho học sinh Xơ Đăng đến trường

Đổi mới cách tiếp cận, tiếp sức cho học sinh Xơ Đăng đến trường

Với quyết tâm không để học sinh nào bị bỏ lại phía sau, xã Tu Mơ Rông (Quảng Ngãi) đang triển khai hiệu quả Diễn đàn “Lắng nghe con nói - Đồng hành cùng con đến trường”. Đây là một hướng đi mới, đầy nhân văn nhằm kéo giảm tình trạng học sinh dân tộc thiểu số nghỉ học, đồng thời thắt chặt sợi dây liên kết giữa gia đình, nhà trường và chính quyền địa phương.

Rộn ràng thu hoạch nông sản dịp Tết Chôl Chnăm Thmây

Rộn ràng thu hoạch nông sản dịp Tết Chôl Chnăm Thmây

Tết Chôl Chnăm Thmây của đồng bào Khmer năm nay diễn ra trong 3 ngày (từ 14 - 16/4/2026). Thời điểm này, nhiều loại nông sản vụ Đông Xuân bước vào thu hoạch rộ. Trên các cánh đồng ở xã Long Hiệp (tỉnh Vĩnh Long), bà con Khmer vẫn tất bật ra đồng, tranh thủ từng ngày công để kịp thu hoạch hoàn tất trước ngày lễ chính (16/4), vừa đảm bảo sản xuất, vừa đón Tết trọn vẹn.

Chủ động 'lá chắn học đường' trước nguy cơ dịch bệnh

Chủ động 'lá chắn học đường' trước nguy cơ dịch bệnh

Nắng nóng kéo dài tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều loại bệnh truyền nhiễm phát sinh, lây lan nhanh trong cộng đồng. Đáng chú ý, các ca mắc chủ yếu tập trung tại trường học, đặc biệt ở bậc mầm non, tiểu học nơi trẻ có sức đề kháng còn hạn chế, thường xuyên tiếp xúc gần. Trước thực tế này, ngành y tế và ngành giáo dục tỉnh Đắk Lắk đồng loạt triển khai nhiều giải pháp nhằm kiểm soát nguồn lây, bảo vệ sức khỏe học sinh.

Nghi thức đón chư thiên Chôl Chnăm Thmây của đồng bào Khmer

Nghi thức đón chư thiên Chôl Chnăm Thmây của đồng bào Khmer

Ngày đầu tiên của Tết Chôl Chnăm Thmây là thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới theo quy tắc chiêm tinh cổ. Diễu hành Maha Sangkrant đánh dấu sự thay đổi vị thần cai quản, thể hiện quan niệm dân gian về sự luân phiên vai trò giữa bảy nữ thần là con gái của Đại Phạm Thiên.

Nông sản Quảng Trị hoàn thiện 'tấm vé' xuất khẩu

Nông sản Quảng Trị hoàn thiện 'tấm vé' xuất khẩu

Tại Quảng Trị, việc cấp mã số vùng trồng không chỉ giúp nâng cao hiệu quả quản lý mà còn mở ra cánh cửa xuất khẩu bền vững cho nông sản địa phương. Đây được xem là “giấy thông hành” quan trọng, giúp nông sản Quảng Trị vươn ra thị trường quốc tế, khẳng định chất lượng và thương hiệu.

Xuyên vùng lõi đại ngàn Pù Huống vào thượng nguồn Khe Cố

Xuyên vùng lõi đại ngàn Pù Huống vào thượng nguồn Khe Cố

Giữa trùng điệp núi rừng miền Tây Nghệ An, nơi những cánh rừng nguyên sinh còn nguyên vẻ hoang sơ hiếm có, thác Cành Lình hiện lên như một biểu tượng hùng vĩ. Không chỉ là điểm đến của những người đam mê khám phá, nơi đây còn là “mạch sống” của cả một thung lũng rộng lớn dưới chân núi Pù Huột, đồng thời góp phần duy trì sự cân bằng sinh thái của Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống - một trong những vùng lõi của Khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An.

Phát huy hiệu quả chính sách dân tộc, nâng cao đời sống đồng bào Khmer

Phát huy hiệu quả chính sách dân tộc, nâng cao đời sống đồng bào Khmer

Trong những năm qua, tỉnh An Giang đã triển khai hiệu quả các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với đồng bào dân tộc thiểu số, tạo điều kiện thuận lợi để người dân phát triển sản xuất, kinh doanh, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội địa phương.

'Hồi sinh' những mảnh lưới vụn thành sản phẩm hữu ích

'Hồi sinh' những mảnh lưới vụn thành sản phẩm hữu ích

Những năm trước đây, lưới vụn sau khi người dân xã đảo Long Sơn, Thành phố Hồ Chí Minh sử dụng nuôi trồng và khai thác thủy sản đều bị bỏ đi thì nay đã được "hồi sinh" nhờ đôi tay khéo léo của các chị em ở địa phương. Từ loại rác thải khó phân hủy, chúng được “tái sinh” thành những sản phẩm hữu ích, góp phần mở ra hướng đi mới cho kinh tế tuần hoàn và sinh kế bền vững.

Thầy giáo quân hàm xanh mang 'ánh sáng số' đến nơi biên giới

Thầy giáo quân hàm xanh mang 'ánh sáng số' đến nơi biên giới

Thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, thời gian qua, những người lính Biên phòng tỉnh Lai Châu không chỉ chắc tay súng bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh biên giới quốc gia mà còn miệt mài mang “ánh sáng số” đến với đồng bào các dân tộc trong tỉnh qua mô hình đầy nhân văn: “Thầy giáo quân hàm xanh, đẩy nhanh chuyển đổi số”.

Người dân miền núi Sơn Thủy mong mỏi sớm có cây cầu để học sinh đến trường an toàn

Người dân miền núi Sơn Thủy mong mỏi sớm có cây cầu để học sinh đến trường an toàn

Xã Sơn Thủy mới được hình thành dựa trên cơ sở sáp nhập nguyên trạng 3 xã cũ: Sơn Thủy, Sơn Trung và Sơn Hải. Đây là xã miền núi đặc biệt khó khăn của tỉnh Quảng Ngãi, có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, chủ yếu là người H’re. Trong đó, có hơn 737 hộ dân/8.937 nhân khẩu thuộc 4 thôn Làng Rin, Làng Nà, Làng Đèo, Gia Ry thuộc xã Sơn Trung (cũ) nằm tách biệt và bị ngăn cách với phần còn lại của xã Sơn Thủy (mới) bởi 2 dòng sông Rin và sông Xà Lò; 759 hộ dân/2843 nhân khẩu của 3 thôn Tà Pía, Tà Bi, Tà Bần thuộc xã Sơn Hải và Sơn Thủy (cũ) bị chia cắt bởi sông Re.