Định hướng phát triển sắn tại Việt Nam

Định hướng phát triển sắn tại Việt Nam

Ngày 8/4, Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với UBND tỉnh Gia Lai tổ chức hội nghị “Thực trạng và định hướng phát triển sắn bền vững tại Việt Nam”.

Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lê Quốc Doanh, cơ cấu giống sắn ở Việt Nam có sự thay đổi lớn về năng suất, chất lượng từ sau năm 2005. Cụ thể, giống sắn cũ đã được thay thế bằng một số bộ giống sắn mới có năng suất củ tươi và hàm lượng tinh bột cao phục vụ chế biến như KM60, KM94, KM95, SM937, KM98-1 VÀ KM140, KM98-7.

Hiện, các giống sắn mới được trồng phổ biến tại các tỉnh, vùng trồng sắn với khoảng 75% tổng diện tích sắn cả nước, đặc biệt là vùng Duyên hải Nam Trung bộ, tạo sự đột phá về năng suất, sản lượng góp phần mang lại lợi nhuận cao cho nông dân trồng sắn, xoá đói giảm nghèo, tăng sức cạnh tranh của các sản phẩm khác chế biến từ sắn.

Định hướng phát triển sắn tại Việt Nam ảnh 1Quang cảnh Hội nghị. Ảnh: Hồng Điệp - TTXVN

Tính đến năm 2021, diện tích sắn trên cả nước đạt hơn 500.000 ha, tập trung tại 5 vùng Trung du miền núi phía Bắc, Bắc Trung bộ, Duyên hải Nam trung bộ, vùng Tây Nguyên, Đông Nam bộ với năng suất bình quân đạt 20,3 tấn/ha; sản lượng đạt gần 10,7 triệu tấn.

Cục Trồng trọt - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho rằng, để tăng hiệu quả sử dụng đất và giải quyết nguyên liệu đầu vào cho các nhà máy chế biến, ngoài việc nghiên cứu chọn tạo các giống sắn có năng suất củ tươi và hàm lượng tinh bột cao, khả năng chống chịu tốt với sâu bệnh, đặc biệt là bệnh khảm lá sắn thì tiêu chí thời gian sinh trưởng ngắn, có thể trồng rải vụ cung cấp củ tươi cho công nghiệp chế biến đang được tập trung nghiên cứu.

Từ đó, Viện Nông nghiệp khoa học Việt Nam và các Viện thành viên đã phối hợp với Trung tâm Nông nghiệp nhiệt đới quốc tế - CIAT, Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản - JICA và tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc - FAO triển khai đánh giá tập đoàn các giống sắn trong nước và nhập nội. Đã có 9 giống sắn mới được công nhận và lưu hành, trong đó có 6 giống có khả năng kháng bệnh khảm lá sắn (HN3, HN5, HN, HN36, HN80, HN97) và HL-S12, HL-S14, STB1. Các nhóm này có thời gian sinh trưởng từ 270-300 ngày, kháng bệnh khảm lá Sri Lanka, có khả năng xuất tinh bột cao hơn so với đối chứng.

Liên quan đến việc quản lý bệnh trên cây sắn, Cục Trồng trọt cũng cho biết, đến nay trên cả nước đã có 26 tỉnh, thành phố ghi nhận bệnh khảm lá sắn với diện tích hơn 65.000 ha. Để phòng, chống bệnh kịp thời, hiệu quả, Cục Bảo vệ thực vật đã ban hành quy trình kỹ thuật phòng trừ bệnh khảm lá sắn để các địa phương phổ biến, tuyên truyền, hướng dẫn nông dân áp dụng.

Đánh giá chung về thực trạng sắn Việt Nam hiện nay, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho rằng, trong giai đoạn 2015-2021, chế biến và tiêu thụ sắn tại nước ta đã đạt được kết quả đáng ghi nhận và giá trị kim ngạch xấu khẩu. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại cho thấy sự phát triển sắn còn thiếu tính bền vững. Theo đó, giá trị, sản lượng chế biến và xuất khẩu sắn lát và tinh bột sắn tăng trưởng nhanh qua từng năm, hiện Việt Nam đang là nước xuất khẩu sắn đứng thứ 2 trên thế giới sau Thái Lan. Việc nâng cấp hệ thống chế biến tinh bột sắn và đưa các nhà máy chế biến ethanol từ sắn mở ra một tiềm năng phát triển đầu ra cho cây sắn.

Tuy nhiên, thị trường xuất khẩu sang Trung Quốc chiếm 95,8% tổng lượng tinh bột sắn xuất khẩu của cả nước đều phụ thuộc hoàn toàn vào Trung Quốc, điều này dẫn đến thiếu bền vững và bị động. Trong khi đó, tiêu thụ sắn và cac sản phẩm sắn trong nước chỉ chiếm khoảng 30% tổng sản lượng dùng để chế biến thức ăn chăn nuôi, làm thức ăn cho gia súc, nguyên liệu đầu vào cho công nghiệp... nhưng chúng ta lại phải nhập khẩu khá nhiều nguyên liệu chế biến thức ăn chăn nuôi, nguyên liệu chế biến thực phẩm. Công nghệ trong nhiều nhà máy còn lạc hậu khiến hiệu quả đầu tư thấp, lãng phí và ảnh hưởng tới môi trường, chưa có nhiều giống sắn cho năng suất cao, hàm lượng tinh bột cao và chống chịu dịch bệnh là những tồn tại mà sự phát triển cây sắn tại Việt Nam đang mắc phải.

Qua nhiều thảo luận của các đại biểu tham dự Hội nghị của các ban ngành liên quan cũng như các tỉnh lân cận có nhiều diện tích, khí hậu trồng sắn tương đồng với Gia Lai, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng đã đưa ra định hướng phát triển sản xuất bền vững, hiệu quả, tập trung trồng sắn tại các vùng có lợi thế với diện tích khoảng 500.000 ha. Tạo các vùng sản xuất nguyên liệu tập trung quy mô lớn gắn các nhà máy, doanh nghiệp chế biến; tăng cường đầu tư khoa học công nghệ trong trồng và chế biến, đa dạng hóa sản phẩm từ sắn, đa dạng hóa thị trường, tổ chức lại sản xuất để đẩy mạnh liên kết, gắn vùng sản xuất nguyên liệu và nhà máy chế biến.

Tại hội nghị, Trung tâm Khuyến nông quốc gia cũng đã đưa ra một số mô hình canh tác sắn hiệu quả, bền vững để các địa phương học hỏi kinh nghiệm. Theo đó, vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải Miền Trung bộ có diện tích sắn lớn nhất cả nước, sau đó Đến vùng Tây Nguyên và Trung du miền núi phía Bắc, vùng Đông Nam bộ.

Tại các vùng này, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã thực hiện các dự án khuyến nông trung ương như "xây dựng mô hình canh tác bền vững trên đất dốc với cây trồng chính là ngô và sắn tại vùng núi phía Bắc" thực hiện từ năm 2019-2021. Qua 3 năm thực hiện, mô hình đã trồng được 150 ha với 400 hộ nông dân tỉnh Yên Bái và Phú Thọ tham gia, vượt hơn 15-27% năng suất so với cách làm truyền thống, mức độ xói mòn của đất dốc giảm từ 40-47%.

Hoặc như dự án "xây dựng mô hình sản xuất giống sạch bệnh, thâm canh, quản lý tổng hợp phòng trừ bệnh khảm lá sắn do Virus gây hại tại vùng trồng sắn trọng điểm". Dự án này đã thực hiện tại 5 tỉnh; trong đó có Gia Lai, duy trì được năng suất và hoàn thiện quy trình phòng trừ bệnh khảm lá sắn để áp dụng rộng rãi trong sản xuất.

Riêng đối với địa bàn tỉnh Gia Lai, ông Đoàn Ngọc Có, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Gia Lai cho rằng, để cây sắn phát triển bền vững tại địa phương, các bộ, ngành trung ương và địa phương cần xây dựng kế hoạch cụ thể, phù hợp, hiệu quả cho từng địa phương. Chỉ tập trung phát triển sắn ở những vùng có điều kiện thuận lợi về thâm canh, nhà máy và thuận tiện trong áp dụng khoa học kỹ thuật và cơ giới hóa trong sản xuất. Đồng thời, khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển các dự án liên kết theo chuỗi giá trị, mô hình có hiệu quả kinh tế cao, đẩy mạnh các khâu liên kết trong sản xuất, tiêu thụ, chế biến sắn.

Ngoài ra, ngành nông nghiệp Việt Nam cũng cần xây dựng thị trường sắn và các sản phẩm từ sắn, tăng cường trao đổi thông tin về cảnh báo thị trường, yêu cầu thị trường, rào cản kỹ thuật, kiến thức hội nhập để các doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác chủ động xây dựng kế hoạch phát triển, thâm nhập, mở rộng thị trường xuất khẩu sang các nước.

Hội nghị cũng đưa ra thảo luận thống nhất các giải pháp thực hiện những định hướng phát triển cây sắn tại Việt Nam, như tăng cường nghiên cứu chọn tạo, nhân nhanh, chuyển giao mạnh mẽ các tiến bộ kỹ thuật về giống sắn và canh tác, đẩy mạnh cơ giới hóa trong sản xuất sắn.

Thứ trưởng Lê Quốc Doanh cho rằng, các nhà máy sản xuất sắn phải tập trung đầu tư, đổi mới công nghệ chế biến sắn, các sản phẩm từ sắn, giải quyết triệt để các vấn đề xử lý chất thải trong chế biến sắn đảm bảo an toàn môi trường. Đồng thời, ngành nông nghiệp cũng cần đẩy mạnh phát triển và mở rộng thị trường xuất khẩu, nâng cao tỷ lệ tiêu thụ nội địa phục vụ công nghiệp thực phẩm, sản xuất Ethanol, thức ăn chăn nuôi.

Ngoài ra, các giải pháp về tăng cường liên kết vùng sản xuất và nhà máy chế biến, tổ chức lại sản xuất tập trung phát triển theo mô hình hợp tác xã tại các vùng sản xuất sắn cũng cần được chú trọng.

Hồng Điệp

(TTXVN)

Có thể bạn quan tâm

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Ở vùng biên giới Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên, nơi điều kiện tiếp cận công nghệ của người dân còn hạn chế, những người lính Đồn Biên phòng Nậm Nhừ đang tìm cách đưa thông tin chính thống và kỹ năng số đến gần hơn với từng bản làng. Từ những chiếc điện thoại, mã QR đến loa truyền thanh di động, họ đang trở thành những “người lính truyền thông số”, giúp bà con chủ động hơn trong tiếp cận thông tin và bảo vệ mình trên không gian mạng.

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Thực hiện chủ trương sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục công lập, năm học 2026-2027, hệ thống trường học trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk bước vào giai đoạn vận hành theo mô hình mới. Toàn tỉnh giảm 642/1.267 cơ sở giáo dục, tương đương 50,7%. Quy mô mạng lưới thay đổi kéo theo những thay đổi lớn về tổ chức, đội ngũ và phương thức quản lý. Những ngày đầu vận hành cho thấy, các trường cơ bản bảo đảm việc dạy và học; đồng thời bắt đầu nhận diện những thuận lợi, khó khăn và từng bước điều chỉnh cách quản trị để phù hợp với mô hình mới.

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Những ngày đầu năm học mới, ở ngôi trường lần đầu vang lên tiếng trống khai trường, 95 học sinh có hoàn cảnh đặc biệt đã bắt đầu một hành trình mới. Các em là con thương binh, liệt sĩ Công an nhân dân, trẻ em dân tộc thiểu số và học sinh thuộc diện bảo trợ xã hội, có hoàn cảnh khó khăn. Từ năm học 2026 – 2027, Trường Văn hóa Công an nhân dân IV tại Tây Ninh trở thành mái nhà chung, nơi các em được chở che, học tập, rèn luyện và tự tin nuôi dưỡng ước mơ.

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Công nghệ số đang ngày càng khẳng định vai trò kỳ diệu trong việc rút ngắn khoảng cách địa lý ở các thôn, bản vùng cao, biên giới Lào Cai. Các mô hình thí điểm thôn số tiêu biểu đã được triển khai bước đầu cho thấy hiệu quả vượt trội trong xóa nghèo công nghệ từ cấp cơ sở; góp phần hình thành thói quen ứng dụng công nghệ số tại cộng đồng dân cư; nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Những năm qua, giáo dục tại các xã biên giới của tỉnh Tây Ninh đã có nhiều chuyển biến tích cực khi mạng lưới trường lớp ngày càng hoàn thiện, tỷ lệ huy động học sinh đến trường được duy trì ở mức cao, chất lượng giáo dục từng bước nâng lên. Tuy nhiên, vẫn còn đó không ít “điểm nghẽn” về điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất và nguồn lực đầu tư đòi hỏi sớm được tháo gỡ nhằm phát triển nguồn nhân lực, giữ dân và giữ vững vùng biên giới.

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Phong trào “Bình dân học vụ số” cùng các chiến dịch như “Mùa hè số cùng VNeID” trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đang được triển khai đồng bộ, tạo chuyển biến tích cực trong chuyển đổi số. Đặc biệt tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, những tiện ích số đang dần được "phủ xanh", phục vụ thiết thực cho cuộc sống hằng ngày của người dân.

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Sáng 27/8, tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Cao Bằng, UBND tỉnh phối hợp với Bộ Công an tổ chức Lễ khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật. Buổi lễ có sự tham dự của Thượng tướng Nguyễn Văn Long, Thứ trưởng Bộ Công an cùng nhiều lãnh đạo Bộ Công an.

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Giảm chi phí, chủ động phòng bệnh, nâng cao chất lượng đàn vật nuôi và bảo vệ môi trường đang là những yêu cầu thiết yếu được người chăn nuôi quan tâm. Từ những thay đổi trong cách chăm sóc, vệ sinh chuồng trại đến xử lý chất thải bằng các giải pháp sinh học, nhiều hộ dân tại Bắc Ninh đang từng bước hình thành phương thức chăn nuôi an toàn, hiệu quả và bền vững.

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Thực hiện sắp xếp cơ sở giáo dục công lập theo hướng tinh gọn, quy mô hợp lý, tỉnh Lạng Sơn đặt mục tiêu giảm mạnh đầu mối, tập trung nguồn lực cho dạy và học; đồng thời bảo đảm quyền học tập của học sinh và phù hợp với đặc thù địa bàn miền núi, biên giới.

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Với những học sinh ở vùng sâu, vùng xa, mô hình trường nội trú không chỉ tạo điều kiện học tập thuận lợi mà còn mở thêm cơ hội tiếp cận giáo dục, từng bước thu hẹp khoảng cách vùng miền. Những ngày này, Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Ia R’vê, xã biên giới Ia R’vê, tỉnh Đắk Lắk, đang khẩn trương hoàn thiện cơ sở vật chất, tổ chức tuyển sinh và vận động học sinh đến trường.

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Những ngày đầu tháng 8, tại nhiều trường tiểu học ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Lắk, các lớp tăng cường tiếng Việt cho trẻ chuẩn bị vào lớp Một diễn ra trong không khí gần gũi, nhẹ nhàng. Từ những con chữ đầu tiên, các em được làm quen với tiếng Việt, trường lớp và nền nếp học tập, tạo tâm thế vững vàng trước khi bước vào năm học mới.

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Tảo hôn là vấn đề ảnh hưởng đến chất lượng dân số và cơ hội phát triển của trẻ em, thanh thiếu niên ở một số địa bàn vùng cao. Để thay đổi nhận thức, tuổi trẻ Điện Biên đã tích cực đổi mới cách tuyên truyền, đồng thời tạo điều kiện để thanh niên học tập, học nghề, lập nghiệp trước khi xây dựng gia đình.

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Đắk Lắk là địa phương có tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số cao, địa bàn rộng, nhiều vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, bãi ngang. Chỉ còn ít tuần nữa năm học 2026-2027 sẽ bắt đầu. Tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, công tác chuẩn bị trường lớp, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và vận động học sinh ra lớp đang được triển khai khẩn trương, với mục tiêu bảo đảm các điều kiện tốt nhất trước ngày khai giảng.

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên đang đẩy mạnh phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca theo hướng tập trung, liên kết sản xuất. Cùng với hoàn thành diện tích trồng mới, các địa phương chú trọng hướng dẫn người dân chăm sóc, trồng dặm, phòng trừ sâu bệnh, tạo nền tảng nâng cao năng suất và hiệu quả cây trồng.