Đổi mới sản xuất và có chiến lược phát triển bền vững nghề muối ở Ninh Thuận

Diêm dân huyện Ninh Hải, Ninh Thuận thu hoạch muối. Ảnh: Nguyễn Thành – TTXVN
Diêm dân huyện Ninh Hải, Ninh Thuận thu hoạch muối. Ảnh: Nguyễn Thành – TTXVN

Ninh Thuận có bờ biển dài hơn 105 km, nước biển có độ mặn cao, năng lượng bức xạ lớn, nhiều nắng, gió...hội tụ những điều kiện lý tưởng để phát triển nghề muối. Tuy vậy, việc làm ra hạt muối vẫn còn nhiều bất cập, cần sớm được tháo gỡ để khai thác tốt nhất tiềm năng vốn có.

Bấp bênh nghề làm muối

Ninh Thuận là địa phương có nghề làm muối truyền thống hàng trăm năm nay và hiện là 1 trong 19 tỉnh thành ven biển có diện tích và sản lượng muối lớn nhất cả nước. Nghề làm muối ở Ninh Thuận tập trung chủ yếu ở các xã Phương Hải, Tri Hải, Nhơn Hải (huyện Ninh Hải); các xã Cà Ná, Phước Diêm, Phước Minh (huyện Thuận Nam).

Đổi mới sản xuất và có chiến lược phát triển bền vững nghề muối ở Ninh Thuận ảnh 1Diêm dân huyện Ninh Hải, Ninh Thuận thu hoạch muối. Ảnh: Nguyễn Thành – TTXVN

Có hơn 20 năm thâm niên làm muối, diêm dân Nguyễn Văn Được (xã Tri Hải, huyện Ninh Hải) chia sẻ, Ninh Thuận có lợi thế về sản xuất muối do khí hậu khô nóng quanh năm, nước biển bốc hơi kết tinh thành hạt nhanh hơn, hạt muối to, khô ráo. Bà con làm muối theo kiểu truyền thống là đầu vụ tiến hành san phẳng, đầm mặt ruộng để tạo “lớp da đất” sau đó bơm nước biển vào ruộng, đợi nước biển bốc hơi khoảng một tuần lễ thì cào muối. Cứ thế, xong đợt một lại tiếp tục bơm nước biển vào, đợi nước bốc hơi và thu hoạch muối, chỉ tạm dừng sản xuất khi trời mưa, bão.

Ông Được chia sẻ, nhờ thời tiết thuận lợi, vụ này gia đình làm 6 sào muối cho sản lượng thu hoạch trên 8 tấn muối/tuần. Sản lượng cao nhưng giá muối lại thấp, gia đình chỉ bán được với giá 450 đồng/kg, sau khi trừ chi phí coi như hòa vốn, đó là chưa tính công lao động của các thành viên trong nhà. Nghề muối là cái nghề vất vả hoàn toàn phải trông chờ vào thiên nhiên, năm nào nắng đều thì sản lượng khá, nếu mưa rải đều là mất vụ.

Đổi mới sản xuất và có chiến lược phát triển bền vững nghề muối ở Ninh Thuận ảnh 2Mô hình sản xuất muối trải bạt kết tinh cho năng suất và chất lượng cao. Ảnh: Nguyễn Thành – TTXVN

Ông Trần Thanh vừa là diêm dân sản xuất 3 ha muối, đồng thời cũng là Giám đốc Hợp tác xã sản xuất, kinh doanh muối Khánh Nhơn (huyện Ninh Hải) cho hay, sản lượng tăng thường tỷ lệ nghịch với giá, đây vốn là điệp khúc “được mùa – mất giá” của nhiều sản phẩm nông nghiệp.

Từ đầu năm 2020 đến nay, do ảnh hưởng bởi đại dịch COVID – 19, các ngành công nghiệp, chế biến thủy sản hoạt động khó khăn nên nhu cầu tiêu thụ muối chậm. Cách làm muối thủ công cho nước biển vào ruộng để kết tinh muối trên đất, sản phẩm sẽ lẫn một số tạp chất không tan; khả năng tích trữ của bà con rất hạn chế; kho chứa muối đa phần tạm bợ trong khi đó nhu cầu cần phải bán ngay để trang trải sinh hoạt nên các thương lái dựa vào để ép mua muối với giá thấp khi vào chính vụ.

Ông Thanh phân tích, để muối bán được với giá cao hơn thì chất lượng muối phải “sạch” – muối ít lẫn tạp chất. Diêm dân làm muối sạch sử dụng công nghệ trải bạt kết tinh. Một đợt làm muối trải bạt kéo dài 7- 10 ngày đủ thời gian để nước biển “đóng hạt” kết tinh hạt muối trắng đẹp, khô ráo. Muối trải bạt có giá bán cao hơn so với muối nền đất do đây là nguồn nguyên liệu sạch để các doanh nghiệp chế biến thành muối tinh chất lượng cao. Tuy nhiên, đầu tư cho sản xuất muối sạch cao, chi phí đầu tư trải bạt khoảng trên 1 tỷ đồng/ha. Do mức đầu tư lớn nên nhiều diêm dân vẫn chấp nhận phương pháp làm muối nền đất.

Dẫn chứng điều này, ông Thanh cho hay gần 200 ha liên kết sản xuất muối của hợp tác xã hiện mới có 3 ha muối áp dụng phương pháp trải bạt. Chưa kể, sau khi hạt muối trải bạt làm ra sẽ phải tiếp tục cạnh tranh đầu ra với muối của các công ty, doanh nghiệp sản xuất với quy mô diện tích, sản lượng lớn hơn gấp nhiều lần.

Chia sẻ về giá muối, bà Nguyễn Thị Thơm, đại diện Công ty Trách nhiệm hữu hạn Ngọc Hân (huyện Ninh Hải) cho biết, công ty chuyên khai thác, chế biến và kinh doanh các loại sản phẩm về muối biển với sản lượng hơn 20.000 tấn/năm. Lâu nay, mọi người vẫn nói giá muối thấp do thương lái ép giá nhưng thực ra sản lượng muối ở địa phương tiêu thụ được là nhờ các thương lái.

Theo quy luật kinh tế thị trường, mỗi công ty phải tính toán hiệu quả kinh doanh để có phương án thu mua, nếu kinh doanh có lãi mới có thể mua muối với giá cao. Công ty cần nguồn nguyên liệu ổn định để sản xuất nhưng đa phần diêm dân sản xuất muối ở quy mô nhỏ lẻ, chất lượng muối chưa cao nên khó đáp ứng được yêu cầu về sản lượng cũng như chất lượng.

Đổi mới sản xuất và có chiến lược phát triển bền vững nghề muối ở Ninh Thuận ảnh 3 Sơ chế muối trước khi đưa đi tiêu thụ. Ảnh: Nguyễn Thành – TTXVN

Muối diêm dân sản xuất theo kiểu truyền thống nhỏ, lẻ, thiếu sự liên kết trong sản xuất, không có hợp đồng mua bán khiến giá cả muối lên xuống thất thường, thu nhập bấp bênh nên nhiều diêm dân không còn mặn mà với nghề, diện tích muối cũng giảm dần.

Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Ninh Thuận, toàn tỉnh hiện có 3.078 ha đất làm muối, giảm 188 ha so với năm 2019; trong đó bao gồm 2.447 ha muối công nghiệp và 631 ha muối diêm dân. Sản lượng muối 6 tháng đầu năm 2020 của tỉnh đạt 484.864 tấn gồm: muối diêm dân sản xuất đạt 187.576 tấn, muối sản xuất công nghiệp 297.288 tấn. Giá muối diêm dân sản xuất dao động ở mức từ 350 – 600 đồng/kg; muối công nghiệp có giá từ 600 - 1.000 đồng/kg.

Phát triển bền vững nghề muối

Chất lượng và tiêu thụ sản phẩm đang đặt ngành muối của tỉnh Ninh Thuận trước yêu cầu phải đổi mới sản xuất và cần có chiến lược phát triển bền vững. Do vậy, việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất muối gắn với đổi mới công nghệ, đầu tư mới và cải tạo đồng muối để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả trên đơn vị diện tích đang là vấn đề cấp thiết đòi hỏi cần có sự phối hợp triển khai đồng bộ từ các Bộ, ngành Trung ương và địa phương.

Đổi mới sản xuất và có chiến lược phát triển bền vững nghề muối ở Ninh Thuận ảnh 4 Sản xuất muối công nghiệp ở huyện Ninh Hải, Ninh Thuận. Ảnh: Nguyễn Thành – TTXVN

Theo ông Đặng Kim Cương, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Ninh Thuận, để nghề làm muối phát triển bền vững, Ninh Thuận hiện đang tập trung triển khai thực hiện Đề án phát triển ngành muối giai đoạn 2021 – 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành tại quyết định số 1325/QĐ – TTg (ngày 31/8/2020) và Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu của tỉnh giai đoạn 2020 tầm nhìn đến năm 2030.

Theo đề án phát triển ngành muối của Chính phủ, Ninh Thuận sẽ là vùng trọng điểm tập trung sản xuất muối quy mô công nghiệp ở Nam Trung bộ để đáp ứng nhu cầu cho ngành công nghiệp hóa chất, nguyên liệu cho chế biến muối tinh cao cấp. Đến năm 2030, Ninh Thuận sẽ là địa phương dẫn đầu về quy mô diện tích và sản lượng muối của cả nước.

Theo đó, giai đoạn 2021 - 2030, quy mô diện tích sản xuất muối của tỉnh là 3.267 ha; trong đó, có 3.055 ha muối công nghiệp; sản lượng muối đến năm 2025 đạt 426.500 tấn/năm (muối công nghiệp 385.000 tấn); đến năm 2030 nâng tổng sản lượng lên 650.000 tấn (muối công nghiệp 550.000 tấn).

Đổi mới sản xuất và có chiến lược phát triển bền vững nghề muối ở Ninh Thuận ảnh 5 Kiểm tra điều kiện muối lưu kho đảm bảo chất lượng sản phẩm. Ảnh: Nguyễn Thành – TTXVN

Để thực hiện mục tiêu phát triển, đề án phê duyệt danh mục xây dựng, nâng cấp cơ sở hạ tầng sản xuất muối công nghiệp hiện có cùng các chương trình nghiên cứu khoa học – công nghệ để chuyển giao vào sản xuất gồm: nghiên cứu, xây dựng mô hình công nghệ cao kết tinh muối ứng dụng hiệu ứng nhà kính theo chuỗi giá trị từ sản xuất đến chế biến. Đồng thời, quy trình xây dựng công nghệ sản xuất muối phơi nước tập trung theo hướng cơ giới hóa gắn với hệ thống cấp nước biển và chế chạt trong quá trình sản xuất muối để ứng dụng cho các đồng muối công nghiệp.

Bên cạnh đó, nghiên cứu cải tạo nền ô kết kinh để thực hiện cơ giới hóa đồng bộ các khâu từ cung cấp nước biển đến thu hoạch, rửa và đánh đống bảo quản muối; thuộc các dự án ưu tiên đầu tư với tổng vốn đầu tư gần 320 tỷ đồng từ các nguồn vốn của Trung ương và các nguồn khác.

Để góp phần bảo đảm nhu cầu muối công nghiệp cho cả nước, ngành nông nghiệp tỉnh đang khẩn trương phối hợp với các đơn vị liên quan, các địa phương rà soát, xây dựng các kế hoạch phát triển sản xuất, chế biến và tiêu thụ muối. Đối với sản xuất muối công nghiệp, tham mưu UBND tỉnh có các chính sách ưu tiên phát triển doanh nghiệp sản xuất quy mô lớn, áp dụng công nghệ sản xuất hiện đại gắn với chế biến đa dạng các sản phẩm sau muối để gia tăng giá trị sản xuất.

Đổi mới sản xuất và có chiến lược phát triển bền vững nghề muối ở Ninh Thuận ảnh 6 Ninh Thuận đẩy mạnh chế biến các sản phẩm từ muối để nâng cao giá trị gia tăng. Ảnh: Nguyễn Thành – TTXVN

Đồng thời hỗ trợ các tổ chức, cá nhân đầu tư, cải tạo nâng cấp hệ thống kho bảo quản muối, bảo đảm muối dự trữ phục vụ sản xuất kinh doanh, mua tạm trữ muối; hỗ trợ đầu tư hệ thống thiết bị chế biến, phân tích chất lượng muối, mẫu mã, bao bì cho các cơ sở sản xuất chế biến muối vừa và nhỏ để đáp ứng nhu cầu thị trường.

Đối với sản xuất muối thủ công, Ninh Thuận huy động các nguồn lực từ các chương trình khuyến nông, khuyến diêm để hỗ trợ bà con đẩy mạnh đầu tư ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, mở rộng diện tích sản xuất muối trải bạt kết tinh để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm; đẩy mạnh nhân rộng các mô hình liên kết sản xuất muối sạch; thành lập hợp tác xã, tổ hợp tác để hỗ trợ diêm dân trong cung ứng vật tư, bao tiêu sản phẩm.

Bên cạnh đó, Ninh Thuận tăng cường phối hợp với các Bộ, ngành, các đơn vị nâng cao năng lực dự báo nhu cầu thị trường, cân đối cung cầu muối để có kế hoạch sản xuất phù hợp; đẩy mạnh hỗ trợ xây dựng, quảng bá thương hiệu sản phẩm sau muối, kết hợp tăng cường xúc tiến thương mại giới thiệu sản phẩm để mở rộng thị trường tiêu thụ muối nhằm góp phần đảm bảo sinh kế, nâng cao thu nhập cho diêm dân.

Nguyễn Thành

(TTXVN)

Có thể bạn quan tâm

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Ở vùng biên giới Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên, nơi điều kiện tiếp cận công nghệ của người dân còn hạn chế, những người lính Đồn Biên phòng Nậm Nhừ đang tìm cách đưa thông tin chính thống và kỹ năng số đến gần hơn với từng bản làng. Từ những chiếc điện thoại, mã QR đến loa truyền thanh di động, họ đang trở thành những “người lính truyền thông số”, giúp bà con chủ động hơn trong tiếp cận thông tin và bảo vệ mình trên không gian mạng.

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Thực hiện chủ trương sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục công lập, năm học 2026-2027, hệ thống trường học trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk bước vào giai đoạn vận hành theo mô hình mới. Toàn tỉnh giảm 642/1.267 cơ sở giáo dục, tương đương 50,7%. Quy mô mạng lưới thay đổi kéo theo những thay đổi lớn về tổ chức, đội ngũ và phương thức quản lý. Những ngày đầu vận hành cho thấy, các trường cơ bản bảo đảm việc dạy và học; đồng thời bắt đầu nhận diện những thuận lợi, khó khăn và từng bước điều chỉnh cách quản trị để phù hợp với mô hình mới.

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Những ngày đầu năm học mới, ở ngôi trường lần đầu vang lên tiếng trống khai trường, 95 học sinh có hoàn cảnh đặc biệt đã bắt đầu một hành trình mới. Các em là con thương binh, liệt sĩ Công an nhân dân, trẻ em dân tộc thiểu số và học sinh thuộc diện bảo trợ xã hội, có hoàn cảnh khó khăn. Từ năm học 2026 – 2027, Trường Văn hóa Công an nhân dân IV tại Tây Ninh trở thành mái nhà chung, nơi các em được chở che, học tập, rèn luyện và tự tin nuôi dưỡng ước mơ.

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Công nghệ số đang ngày càng khẳng định vai trò kỳ diệu trong việc rút ngắn khoảng cách địa lý ở các thôn, bản vùng cao, biên giới Lào Cai. Các mô hình thí điểm thôn số tiêu biểu đã được triển khai bước đầu cho thấy hiệu quả vượt trội trong xóa nghèo công nghệ từ cấp cơ sở; góp phần hình thành thói quen ứng dụng công nghệ số tại cộng đồng dân cư; nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Những năm qua, giáo dục tại các xã biên giới của tỉnh Tây Ninh đã có nhiều chuyển biến tích cực khi mạng lưới trường lớp ngày càng hoàn thiện, tỷ lệ huy động học sinh đến trường được duy trì ở mức cao, chất lượng giáo dục từng bước nâng lên. Tuy nhiên, vẫn còn đó không ít “điểm nghẽn” về điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất và nguồn lực đầu tư đòi hỏi sớm được tháo gỡ nhằm phát triển nguồn nhân lực, giữ dân và giữ vững vùng biên giới.

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Phong trào “Bình dân học vụ số” cùng các chiến dịch như “Mùa hè số cùng VNeID” trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đang được triển khai đồng bộ, tạo chuyển biến tích cực trong chuyển đổi số. Đặc biệt tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, những tiện ích số đang dần được "phủ xanh", phục vụ thiết thực cho cuộc sống hằng ngày của người dân.

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Sáng 27/8, tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Cao Bằng, UBND tỉnh phối hợp với Bộ Công an tổ chức Lễ khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật. Buổi lễ có sự tham dự của Thượng tướng Nguyễn Văn Long, Thứ trưởng Bộ Công an cùng nhiều lãnh đạo Bộ Công an.

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Giảm chi phí, chủ động phòng bệnh, nâng cao chất lượng đàn vật nuôi và bảo vệ môi trường đang là những yêu cầu thiết yếu được người chăn nuôi quan tâm. Từ những thay đổi trong cách chăm sóc, vệ sinh chuồng trại đến xử lý chất thải bằng các giải pháp sinh học, nhiều hộ dân tại Bắc Ninh đang từng bước hình thành phương thức chăn nuôi an toàn, hiệu quả và bền vững.

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Thực hiện sắp xếp cơ sở giáo dục công lập theo hướng tinh gọn, quy mô hợp lý, tỉnh Lạng Sơn đặt mục tiêu giảm mạnh đầu mối, tập trung nguồn lực cho dạy và học; đồng thời bảo đảm quyền học tập của học sinh và phù hợp với đặc thù địa bàn miền núi, biên giới.

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Với những học sinh ở vùng sâu, vùng xa, mô hình trường nội trú không chỉ tạo điều kiện học tập thuận lợi mà còn mở thêm cơ hội tiếp cận giáo dục, từng bước thu hẹp khoảng cách vùng miền. Những ngày này, Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Ia R’vê, xã biên giới Ia R’vê, tỉnh Đắk Lắk, đang khẩn trương hoàn thiện cơ sở vật chất, tổ chức tuyển sinh và vận động học sinh đến trường.

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Những ngày đầu tháng 8, tại nhiều trường tiểu học ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Lắk, các lớp tăng cường tiếng Việt cho trẻ chuẩn bị vào lớp Một diễn ra trong không khí gần gũi, nhẹ nhàng. Từ những con chữ đầu tiên, các em được làm quen với tiếng Việt, trường lớp và nền nếp học tập, tạo tâm thế vững vàng trước khi bước vào năm học mới.

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Tảo hôn là vấn đề ảnh hưởng đến chất lượng dân số và cơ hội phát triển của trẻ em, thanh thiếu niên ở một số địa bàn vùng cao. Để thay đổi nhận thức, tuổi trẻ Điện Biên đã tích cực đổi mới cách tuyên truyền, đồng thời tạo điều kiện để thanh niên học tập, học nghề, lập nghiệp trước khi xây dựng gia đình.

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Đắk Lắk là địa phương có tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số cao, địa bàn rộng, nhiều vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, bãi ngang. Chỉ còn ít tuần nữa năm học 2026-2027 sẽ bắt đầu. Tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, công tác chuẩn bị trường lớp, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và vận động học sinh ra lớp đang được triển khai khẩn trương, với mục tiêu bảo đảm các điều kiện tốt nhất trước ngày khai giảng.

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên đang đẩy mạnh phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca theo hướng tập trung, liên kết sản xuất. Cùng với hoàn thành diện tích trồng mới, các địa phương chú trọng hướng dẫn người dân chăm sóc, trồng dặm, phòng trừ sâu bệnh, tạo nền tảng nâng cao năng suất và hiệu quả cây trồng.