Theo bà Nguyễn Thị Hồng Huệ, Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách, Bộ Dân tộc và Tôn giáo, những giá trị văn hóa, nghề truyền thống, tri thức bản địa và sản vật đặc hữu của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nếu được nhận diện đúng, tổ chức phù hợp và kết nối với thị trường sẽ trở thành nguồn lực nội sinh, tạo ra sản phẩm, thương hiệu, dịch vụ có giá trị gia tăng, việc làm và sinh kế bền vững cho cộng đồng.
* Nghị quyết số 80-NQ/TW xác định văn hóa là nguồn lực nội sinh và động lực quan trọng cho phát triển bền vững. Thưa bà, từ góc độ công tác dân tộc, quan điểm này đặt ra yêu cầu như thế nào đối với việc bảo tồn, khai thác và phát huy các giá trị văn hóa, nghề truyền thống và tri thức bản địa trong phát triển sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số?
Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là một không gian văn hóa đặc sắc, nơi lưu giữ nguồn tài nguyên rất phong phú về bản sắc văn hóa, nghề truyền thống, tri thức bản địa, sản vật đặc hữu và kinh nghiệm sản xuất được trao truyền qua nhiều thế hệ.
Đây không chỉ là những giá trị cần được bảo tồn, mà còn là nguồn lực nội sinh quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Nếu được nhận diện đúng, tổ chức lại phù hợp và kết nối với thị trường, những giá trị này hoàn toàn có thể chuyển hóa thành sản phẩm, thương hiệu, dịch vụ có giá trị gia tăng, qua đó tạo việc làm và sinh kế cho cộng đồng.
Thực tế thời gian qua cho thấy đã có những mô hình bước đầu phát huy tốt hướng đi này. Chẳng hạn, nghề dệt thổ cẩm của đồng bào Mông, Thái, Dao đã từng bước được phát triển thành các sản phẩm thời trang, quà tặng và sản phẩm phục vụ du lịch. Chè Shan tuyết vùng cao không chỉ là sản phẩm nông nghiệp mà còn gắn với điều kiện sinh thái, tri thức canh tác và câu chuyện văn hóa của cộng đồng. Hay du lịch cộng đồng gắn với không gian văn hóa, ẩm thực và nghề truyền thống của đồng bào Thái, Mông, Tày, Dao đã tạo thêm nguồn thu và sinh kế tại chỗ.
Những kết quả đó cho thấy tiềm năng là rất lớn. Tuy nhiên, mức độ khai thác hiện nay vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Nhiều sản phẩm mới khai thác được phần “vật chất”, trong khi những giá trị tạo nên sức hấp dẫn và giá trị gia tăng cao hơn như câu chuyện văn hóa, tri thức bản địa, thương hiệu, thiết kế và trải nghiệm vẫn chưa được phát huy đầy đủ.
Số liệu về sản phẩm OCOP cũng cho thấy dư địa này còn rất lớn. Đến tháng 6/2025, cả nước có trên 16.800 sản phẩm OCOP từ 3 sao trở lên, với hơn 9.800 chủ thể; trong đó người dân tộc thiểu số chiếm khoảng 17% số chủ thể . Đây là một tín hiệu tích cực, cho thấy văn hóa, tri thức và lợi thế địa phương đang từng bước được chuyển hóa thành giá trị kinh tế.
Vì vậy, theo chúng tôi, cần chuyển mạnh từ tư duy “bảo tồn những gì đang có” sang “bảo tồn để phát huy và phát triển”. Đây cũng là tinh thần của Nghị quyết số 80-NQ/TW và được cụ thể hóa thêm trong Nghị định số 269/2026/NĐ-CP: bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống phải gắn với phát triển kinh tế, tạo sinh kế bền vững và phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng.
* Từ góc độ quản lý nhà nước về công tác dân tộc, theo bà, đâu là những khoảng trống trong cơ chế, chính sách và phối hợp liên ngành đang cản trở quá trình chuyển hóa các giá trị văn hóa thành giá trị kinh tế?
Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là khoảng cách giữa giá trị văn hóa mà cộng đồng đang nắm giữ và giá trị kinh tế mà thị trường có thể tạo ra từ những giá trị đó.
Kết quả điều tra 53 dân tộc thiểu số năm 2024 cho thấy, trong gần 3,9 triệu hộ dân tộc thiểu số, nhưng chỉ có 6.114 hộ dân tộc thiểu số làm dịch vụ du lịch; 10.568 hộ làm nghề thủ công truyền thống; trong khi số hộ sản xuất nông, lâm, thủy sản lên tới 2.778.126. Điều đó cho thấy quá trình chuyển dịch từ tài nguyên văn hóa và tri thức bản địa sang các ngành nghề, sản phẩm có giá trị gia tăng cao còn rất hạn chế.
Khoảng trống trước hết nằm ở khâu nhận diện và tổ chức giá trị. Có nghề truyền thống nhưng chưa được thiết kế lại phù hợp với thị trường; có sản vật đặc hữu nhưng chưa xây dựng được thương hiệu; có tri thức bản địa quý nhưng chưa được bảo vệ, trao truyền và khai thác bền vững.
Một khoảng trống khác là liên kết chuỗi. Nhà nước, địa phương, doanh nghiệp và cộng đồng ở một số nơi chưa thực sự cùng tham gia từ khâu xác định sản phẩm, tổ chức sản xuất, hoàn thiện chất lượng, xây dựng thương hiệu đến tiêu thụ.
Chính vì vậy, các chương trình, chính sách thời gian qua đã ngày càng chú trọng kết hợp bảo tồn, phát huy văn hóa với phát triển du lịch và sinh kế. Đây cũng là hướng tiếp cận được tiếp tục khẳng định trong Nghị định số 269/2026/NĐ-CP.
Theo chúng tôi, để khai thác hiệu quả nguồn lực này, cần giữ vững bốn nguyên tắc.
Một là, cộng đồng phải là chủ thể. Đồng bào là người sáng tạo, gìn giữ và trao truyền văn hóa, vì vậy phải được tham gia thực chất vào quá trình phát triển sản phẩm.
Hai là, phát triển nhưng không làm mất bản sắc. Thương mại hóa không có nghĩa là biến đổi hoặc làm sai lệch những giá trị cốt lõi của văn hóa truyền thống.
Ba là, phải bảo đảm cộng đồng được hưởng lợi. Khi giá trị văn hóa được chuyển hóa thành giá trị kinh tế, lợi ích phải quay trở lại cộng đồng, tạo thu nhập và động lực để tiếp tục bảo tồn, trao truyền.
Bốn là, chuyển từ hỗ trợ đơn lẻ sang phát triển chuỗi giá trị. Nhà nước kiến tạo chính sách; địa phương tổ chức thực hiện; doanh nghiệp kết nối thị trường; cộng đồng cung cấp tri thức, bản sắc và trực tiếp tham gia chuỗi giá trị.
Theo tôi, đây là điều kiện để giải quyết căn bản bài toán “có văn hóa nhưng chưa có sản phẩm; có sản phẩm nhưng chưa có thị trường; có thị trường nhưng cộng đồng chưa hưởng lợi tương xứng”.
* Thưa bà, để hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW, thời gian tới Bộ Dân tộc và Tôn giáo sẽ ưu tiên những chính sách và hoạt động nào nhằm bảo tồn, trao truyền và đưa giá trị văn hóa, tri thức bản địa vào phát triển sản phẩm, tạo sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số? Bộ sẽ phối hợp với các bộ, ngành và địa phương như thế nào?
Để hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã cụ thể hóa các nhiệm vụ được giao trong Kế hoạch thực hiện Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Trong đó, một định hướng quan trọng là phát huy sức mạnh, giá trị văn hóa đặc sắc của các dân tộc thiểu số, gắn bảo tồn văn hóa với quảng bá hình ảnh, phát triển kinh tế và nâng cao đời sống của đồng bào.
Trước hết, Bộ sẽ phối hợp với các bộ, ngành, địa phương đẩy mạnh tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu các giá trị văn hóa đặc sắc của 54 dân tộc Việt Nam, gắn với các chương trình, chiến lược truyền thông, quảng bá hình ảnh Việt Nam trong nước và ra quốc tế. Bộ cũng triển khai các nhiệm vụ liên quan đến xây dựng Đề án “Quảng bá hình ảnh cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam - Thống nhất trong đa dạng, nhân ái và sáng tạo”.
Tôi cho rằng đây là một hướng rất quan trọng, bởi quảng bá văn hóa ngày nay không chỉ là giới thiệu hình ảnh, mà còn phải góp phần tạo ra giá trị và mở rộng thị trường cho sản phẩm. Một sản phẩm thổ cẩm, một sản vật vùng cao hay một nghề truyền thống sẽ có giá trị cao hơn khi phía sau sản phẩm đó có một câu chuyện văn hóa xác thực, một thương hiệu và một hình ảnh cộng đồng được nhận diện rõ ràng.
Cùng với quảng bá, Bộ sẽ tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành và địa phương bảo tồn, trao truyền và phát huy tri thức bản địa, nghề truyền thống và các giá trị văn hóa đặc sắc, trong đó phát huy vai trò của nghệ nhân, người có uy tín và những người am hiểu văn hóa trong cộng đồng. Đây cũng là tinh thần được cụ thể hóa trong Nghị định số 269/2026/NĐ-CP, theo hướng bảo tồn văn hóa gắn với phát huy giá trị, phát triển kinh tế và tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng.
Về tổ chức thực hiện, chúng tôi cho rằng cần hình thành mối liên kết thực chất giữa Nhà nước, địa phương, doanh nghiệp và cộng đồng.
Nhà nước giữ vai trò kiến tạo chính sách, định hướng và điều phối nguồn lực; địa phương là nơi tổ chức thực hiện, xác định và phát huy những giá trị, sản phẩm có lợi thế; doanh nghiệp giữ vai trò kết nối thị trường, hoàn thiện sản phẩm, xây dựng thương hiệu và tổ chức tiêu thụ; còn cộng đồng đồng bào dân tộc thiểu số phải là chủ thể sáng tạo, gìn giữ và trực tiếp hưởng lợi.
Đặc biệt, cần chuyển từ tư duy “làm ra sản phẩm rồi mới tìm thị trường” sang “phát triển sản phẩm theo nhu cầu thị trường nhưng trên nền tảng giá trị văn hóa của cộng đồng”. Doanh nghiệp, nhà thiết kế, các đơn vị du lịch và cộng đồng cần tham gia ngay từ khâu lựa chọn giá trị, thiết kế, hoàn thiện sản phẩm đến quảng bá và tiêu thụ. Có như vậy mới vừa giữ được bản sắc, vừa nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm.
Bên cạnh phát triển sản phẩm, Bộ cũng quan tâm phát huy giá trị tích cực của văn hóa tín ngưỡng, tôn giáo, các thiết chế văn hóa cơ sở và xây dựng đời sống văn hóa ở cộng đồng, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tạo môi trường thuận lợi để các giá trị văn hóa được gìn giữ, trao truyền và phát huy trong đời sống.
Mục tiêu cuối cùng là hình thành một vòng phát triển bền vững là Bảo tồn văn hóa, trao truyền tri thức đến quảng bá giá trị và nâng tầm sản phẩm, từ đó mở rộng thị trường, tăng thu nhập, tạo động lực tiếp tục gìn giữ và phát huy văn hóa.
Qua đó, thực hiện đúng tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW: đưa văn hóa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh và động lực phát triển; biến những giá trị văn hóa đặc sắc của 54 dân tộc thành nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời bảo đảm đồng bào dân tộc thiểu số vừa là chủ thể văn hóa, vừa là chủ thể phát triển và là người trực tiếp hưởng lợi từ những giá trị văn hóa của mình.
Trân trọng cảm ơn bà!