Giúp phụ nữ thay đổi tư duy, nâng cao năng lực và tự tin làm chủ cuộc sống

Ngày 28/8, tỉnh Lai Châu tổ chức Hội nghị đối thoại giữa lãnh đạo UBND tỉnh với phụ nữ Lai Châu năm 2026 với chủ đề: “Phát huy vai trò của phụ nữ trong thích ứng với biến đổi khí hậu và thực hiện bình đẳng giới”.

lai-chau2-2808.jpg
Hội nghị đối thoại giữa lãnh đạo UBND tỉnh với Phụ nữ Lai Châu năm 2026.

Tại hội nghị, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lai Châu Tống Thanh Hải đề nghị các sở, ngành, địa phương và cơ quan liên quan tập trung hỗ trợ phụ nữ phát triển sinh kế, việc làm, mở rộng thị trường và nâng cao khả năng ứng dụng chuyển đổi số; chăm lo tốt hơn sức khỏe, sự an toàn và quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ và trẻ em; tiếp tục tạo điều kiện để tổ chức Hội và đội ngũ cán bộ Hội ở cơ sở hoạt động hiệu quả; theo dõi và giải quyết những ý kiến, kiến nghị chính đáng của phụ nữ sau hội nghị.

Các cấp, ngành, mỗi cán bộ, hội viên, phụ nữ cần giữ vững tinh thần đoàn kết, tự tin, chủ động và sáng tạo; tích cực học tập, nâng cao kiến thức, kỹ năng; mạnh dạn đổi mới cách nghĩ, cách làm; đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số vào sản xuất, kinh doanh và đời sống. Cùng với đó, phụ nữ cần khẳng định tốt hơn vai trò trong xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh; tích cực tham gia các phong trào ở địa phương, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa và đóng góp thiết thực vào sự phát triển chung của tỉnh.

Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Lai Châu Ngô Thị Bích Hạnh nhấn mạnh, đây là dịp để cán bộ, hội viên, phụ nữ trực tiếp trao đổi với lãnh đạo tỉnh, các sở, ngành về giải pháp hỗ trợ phụ nữ và người dân khôi phục sản xuất, ổn định sinh kế sau thiên tai; xây dựng và nhân rộng các mô hình bảo vệ môi trường, sử dụng nước sạch, xử lý rác thải; hỗ trợ phụ nữ phát triển sản xuất, xây dựng chuỗi liên kết và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm; đào tạo nghề, giải quyết việc làm, nâng cao kỹ năng số, ứng dụng thương mại điện tử, bảo đảm an toàn trên không gian mạng; tạo điều kiện để phụ nữ dân tộc thiểu số tiếp cận các chương trình, chính sách, nguồn lực phát triển.

lai-chau1-2808.jpg
Lãnh đạo Sở Nội vụ tỉnh Lai Châu trả lời câu hỏi của hội viên phụ nữ tại Hội nghị.

Tại hội nghị, các cán bộ, hội viên, phụ nữ đã có nhiều câu hỏi liên quan đến nội dung: hỗ trợ người dân tại xã Mường Than ổn định cuộc sống, phục hồi sản xuất, tái thiết sinh kế sau khi thiên tai; hỗ trợ xây dựng, duy trì và nhân rộng các mô hình do phụ nữ làm nòng cốt (như: sử dụng nước sạch, nhà tiêu hợp vệ sinh, phân loại và xử lý rác thải sinh hoạt); hỗ trợ xây dựng chuỗi liên kết sản xuất - tiêu thụ, kết nối thị trường, giúp phụ nữ tiêu thụ ổn định các sản phẩm nông sản của địa phương, nâng cao thu nhập; cơ chế, chính sách hỗ trợ phụ nữ xây dựng thương hiệu, truy xuất nguồn gốc, đưa sản phẩm lên sàn thương mại điện tử; công tác đào tạo nghề cho phụ nữ… Các ý kiến đã được đại diện lãnh đạo các sở, ngành của tỉnh trao đổi, làm rõ nhiều vấn đề được quan tâm.

Trước những tác động của biến đổi khí hậu, Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp trong tỉnh đã phát huy vai trò là cầu nối, đồng hành cùng hội viên phụ nữ, đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức, khơi dậy tinh thần chủ động, sáng tạo trong lao động sản xuất và bảo vệ môi trường.

Trong đó có Dự án “Thúc đẩy vai trò của phụ nữ trong thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng” do tổ chức CARE tài trợ, được triển khai ở Lai Châu từ năm 2024 tại hai xã Pắc Ta và Tân Uyên với 27,9 ha, 64 hộ tham gia mô hình lúa giảm phát thải bằng phương pháp tưới ngập khô xen kẽ; mô hình trồng chuối đầu nguồn kết hợp cây ăn quả trên 10,8 ha với 22 hộ và mô hình VAC sinh thái với 4 hộ tham gia thí điểm hướng tới sản xuất tuần hoàn, tận dụng hiệu quả nguồn tài nguyên sẵn có.

Các mô hình vừa mở thêm hướng sinh kế, vừa góp phần giữ đất, bảo vệ sinh cảnh đầu nguồn. Ngoài ra, dự án thành lập mới 11 tổ tương trợ vốn, hỗ trợ 50 triệu đồng mỗi tổ; đồng thời bổ sung nguồn lực cho 19 tổ cũ mỗi tổ 20 triệu đồng. Không chỉ giúp tiếp cận nguồn vốn, các tổ còn tạo không gian để chị em học hỏi, hỗ trợ nhau phát triển kinh tế và ứng phó với biến đổi khí hậu.

lai-chau-2808.jpg
Hội viên phụ nữ đặt câu hỏi tại Hội nghị.

Triển khai Dự án 8 “Thực hiện bình đẳng giới và giải quyết những vấn đề cấp thiết đối với phụ nữ và trẻ em” thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia, giai đoạn 2021-2025, các cấp Hội và ngành liên quan đã tổ chức 132 lớp tập huấn, 16 hội thi, 140 cuộc đối thoại chính sách; thành lập 471 tổ truyền thông cộng đồng, 85 Câu lạc bộ “Thủ lĩnh của sự thay đổi”; hỗ trợ 494 phụ nữ dân tộc thiểu số sinh đẻ an toàn và củng cố, nâng cao chất lượng 77 địa chỉ tin cậy cộng đồng.

Từ dự án này, phụ nữ Lai Châu đang từng bước thay đổi tư duy, nâng cao năng lực và tự tin làm chủ cuộc sống. Đây không chỉ là tiền đề quan trọng để thúc đẩy bình đẳng giới, mà còn góp phần thực hiện hiệu quả mục tiêu giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương trong giai đoạn mới./.

Dân tộc Dao

Tên tự gọi: Kìm Miền, Kìm Mùn (người rừng).

Tên gọi khác: Mán.

Nhóm địa phương: Dao Ðỏ (Dao Cóc Ngáng, Dao sừng, Dao Dụ lạy, Dao Ðại bản), Dao Quần chẹt (Dao Sơn đầu, Dao Tam đảo, Dao Nga hoàng, Dụ Cùn), Dao Lô gang (Dao Thanh phán, Dao Cóc Mùn), Dao Tiền (Dao Ðeo tiền, Dao Tiểu bản), Dao Quần trắng (Dao Họ), Dao Thanh Y, Dao Làn Tẻn (Dao Tuyển, Dao áo dài).

Dân số: 751.067 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngữ hệ Hmông - Dao.

Lịch sử: Người Dao có nguồn gốc từ Trung Quốc, việc chuyển cư sang Việt Nam kéo dài suốt từ thế kỷ XII, XIII cho đến nửa đầu thế kỷ XX. Họ tự nhận mình là con cháu của Bản Hồ (Bàn vương), một nhân vật huyền thoại rất phổ biến và thiêng liêng ở người Dao.

Hoạt động sản xuất: Nương, thổ canh hốc đá, ruộng là những hình thức canh tác phổ biến ở người Dao. Tuỳ từng nhóm, từng vùng mà hình thức canh tác này hay khác nổi trội lên như: Người Dao Quần Trắng, Dao áo Dài, Dao Thanh Y chuyên làm ruộng nước. Người Dao Ðỏ - thổ canh hốc đá. Phần lớn các nhóm Dao khác làm nương du canh hay định canh. Cây lương thực chính là lúa, ngô, các loại rau màu quan trọng như bầu, bí, khoai... Họ chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà ở vùng lưng chừng núi và vùng cao còn nuôi ngựa, dê.

Nghề trồng bông, dệt vải phổ biến ở các nhóm Dao. Họ ưa dùng vải nhuộm chàm.

Hầu hết các xóm đều có lò rèn để sửa chữa nông cụ. Nhiều nơi còn làm súng hoả mai, súng kíp, đúc những hạt đạn bằng gang. Nghề thợ bạc là nghề gia truyền, chủ yếu làm những đồ trang sức như vòng cổ, vòng chân, vòng tay, vòng tai, nhẫn, dây bạc, hộp đựng trầu...

Nhóm Dao Ðỏ và Dao Tiền có nghề làm giấy bản. Giấy bản dùng để chép sách cúng, sách truyện, sách hát hay dùng cho các lễ cúng như viết sớ, tiền ma. Nhiều nơi có nghề ép dầu thắp sáng hay dầu ăn, nghề làm đường mật.

Ăn: Người Dao thường ăn hai bữa chính trong ngày, bữa trưa và bữa tối. Chỉ những ngày mùa bận rộn mới ăn thêm bữa sáng. Người Dao ăn cơm là chính, ở một số nơi lại ăn ngô nhiều hơn ăn cơm hoặc ăn cháo. Cối xay lúa thường dùng là loại cối gỗ đóng dăm tre. Cối giã có nhiều loại như cối gỗ hình trụ, cối máng giã bằng chày tay, cối đạp chân, cối giã bằng sức nước. Họ thích ăn thịt luộc, các món thịt sấy khô, ướp chua, canh măng chua. Khi ăn xong, người ra kiêng để đũa ngang miệng bát vì đó là dấu hiệu trong nhà có người chết.

Phổ biến là rượu cất, ở một vài nơi lại uống hoãng, thứ rượu không qua trưng cất, có vị chua và ít cay.

Người Dao thường hút thuốc lá và thuốc lào bằng điếu cầy hay tẩu.

Mặc: Trước đây đàn ông để tóc dài, búi sau gáy hoặc để chỏm tóc dài trên đỉnh đầu, xung quanh cạo nhẵn. Các nhóm Dao thường có cách đội khăn khác nhau. áo có hai loại, áo dài và áo ngắn.

Phụ nữ Dao mặc rất đa dạng, thường mặc áo dài yếm, váy hoặc quần. Y phục theo rất sặc sỡ. Họ không theo theo mẫu vẽ sẵn trên vải mà hoàn toàn dựa vào trí nhớ, thêu ở mặt trái của vải để hình mẫu nổi lên mặt phải. Nhiều loại hoa văn như chữ vạn, cây thông, hình chim, người, động vật, lá cây. Cách in hoa văn trên vải bằng sáp ong ở người Dao rất độc đáo. Muốn hình gì người ta dùng bút vẽ hay nhúng khuôn in vào sáp ong nóng chẩy rồi in lên vải. Vải sau khi nhuộm chàm sẽ hiện lên hoa văn mầu xanh lơ do phủ lớp sáp ong không bị thấm chàm.

: Người Dao thường sống ở vùng lưng chừng núi hầu khắp các tỉnh miền núi miền Bắc. Tuy nhiên một số nhóm như Dao Quần trắng ở thung lũng, còn Dao Ðỏ lại ở trên núi cao. Thôn xóm phần nhiều phân tán, rải rác, năm bẩy nóc nhà. Nhà của người Dao rất khác nhau, tuỳ nơi họ ở nhà trệt, nhà sàn hay nhà nửa sàn, nửa đất.

Phương tiện vận chuyển: Người Dao ở vùng cao quen dùng địu có hai quai đeo vai, vùng thấp gánh bằng đôi dậu. Túi vải hay túi lưới đeo vai rất được họ ưa dùng.

Quan hệ xã hội: Trong thôn xóm tồn tại chủ yếu các quan hệ xóm giềng và quan hệ dòng họ.

Người Dao có nhiều họ, phổ biến nhất là các họ Bàn, Ðặng, Triệu. Các dòng họ, chi họ thường có gia phả riêng và có hệ thống tên đệm để phân biệt giữa những người thuộc các thế hệ khác nhau.

Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ ngồi, đẻ ngay trong buồng ngủ. Trẻ sơ sinh được tắm bằng nước nóng. Nhà có người ở cữ người ta treo cành lá xanh hay cài hoa chuối trước cửa để làm dấu không cho người lạ vào nhà vì sợ vía độc ảnh hưởng tới sức khoẻ đứa trẻ. Trẻ sơ sinh được ba ngày thì làm lễ cúng mụ.

Cưới xin: Trai gái muốn lấy được nhau phải so tuổi, bói chân gà xem có hợp nhau không. Có tục chăng dây, hát đối đáp giữa nhà trai và nhà gái trước khi vào nhà, hát trong đám cưới. Lúc đón dâu, cô dâu được cõng ra khỏi nhà gái và bước qua cái kéo mà thầy cúng đã làm phép mới được vào nhà trai.

Ma chay: Thày tào có vị trí quan trọng trong việc ma và làm chay. Nhà có người chết con cái đến nhà thầy mời về chủ trì các nghi lễ, tìm đất đào huyệt. Người ta kiêng khâm liệm người chết vào giờ sinh của những người trong gia đình. Người chết được liệm vào quan tài để trong nhà hay chỉ bó chiếu ra đến huyệt rồi mới cho vào quan tài. Mộ được đắp đất, xếp đá ở chân mộ. ở một số nơi có tục hoả táng cho những người chết từ 12 tuổi trở lên.

Lễ làm chay cho người chết diễn ra sau nhiều năm, thường được kết hợp với lễ cấp sắc cho một người đàn ông nào đó đang sống trong gia đình. Lễ tổ chức ba ngày, ngày đầu gọi là lễ phá ngục, giải thoát hồn cho người chết, ngày thứ hai gọi là lễ tắm hương hoa cho người chết trước khi đưa hồn về bàn thờ tổ tiên trong nhà, ngày thứ ba lễ cấp sắc. Người chết được cúng đưa hồn về quê cũ ở Dương Châu.


Nhà mới: Muốn làm nhà phải xem tuổi những người trong gia đình, nhất là tuổi chủ gia đình. Nghi lễ chọn đất được coi là quan trọng. Buổi tối, người ta đào một hố to bằng miệng bát, xếp một số hạt gạo tượng trưng cho người, trâu bò, tiền bạc, thóc lúa, tài sản rồi úp bát lên. Dựa vào mộng báo đêm đó mà biết điềm xấu hay tốt. Sáng hôm sau ra xem hỗ, các hạt gạo vẫn giữa nguyên vị trí là có thể làm nhà được.

Thờ cúng: Người Dao vừa tin theo các tín ngưỡng nguyên thuỷ, các nghi lễ nông nghiệp vừa chịu ảnh hưởng sâu sắc của Khổng giáo, Phật giáo và nhất là Ðạo giáo. Bàn vương được coi là thuỷ tổ của người Dao nên được cúng chung với tổ tiên từng gia đình. Theo truyền thống tất cả đàn ông đã đến tuổi trưởng thành đều phải qua lễ cấp sắc. một nghi lễ vừa mang tính chất của Ðạo giáo, vừa mang những vết của lễ thành đinh xa xưa.

Lịch: Người Dao quen dùng âm lịch để tính thời gian sản xuất và sinh hoạt.

Học: Hầu hết các xóm thôn người Dao đều có người biết chữ Hán, nôm Dao. Người ta học chữ để đọc sách cúng, sách truyện, thơ.

Văn nghệ: Người Dao có vốn văn nghệ dân gian rất phong phú, nhiều truyện cổ, bài hát, thơ ca. Ðặc biệt truyện Quả bầu với nạn hồng thuỷ, Sự tích Bàn Vương rất phổ biến trong người Dao. Múa, nhạc được họ sử dụng chủ yếu trong các nghi lễ tôn giáo.

Chơi: Người Dao thích chơi đu, chơi quay, đi cà kheo.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Dao
Dân tộc Thái

Tên tự gọi: Tay hoặc Thay

Tên gọi khác: Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ.

Nhóm địa phương: Ngành Ðen (Tay Ðăm), Ngành trắng (Tay Ðón hoặc Khao).

Dân số: 1.550.423 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm.

Hoạt động sản xuất: Người Thái sớm đi vào nghề trồng lúa nước trong hệ thống thuỷ lợi thích hợp được đúc kế như một thành ngữ - "mương, phai, lái, lịn" (khơi mương, đắp đập, dẫn nước qua vật chướng ngại, đặt máng) trên các cánh đồng thung lũng. Họ làm ruộng cấy một vụ lúa nếp, nay chuyển sang 2 vụ lúa tẻ. Họ còn làm nương để trồng thêm lúa, ngô, hoa màu, cây thực phẩm và đặc biệt bông, cây thuốc nhuộm, dâu tằm để dệt vải.

Cót xát rất phổ biến ở vùng người Thái, dùng để trải trên sàn trước khi xếp chiếu phục tay và các tấm đệm ngủ lên trên. Cót được đan bằng cây mạy loi, một loại cây thuộc loài tre, nứa mọc trên núi đá vôi cao.

Ăn: Ngày nay gạo tẻ đã trở thành lương thực chính, gạo nếp vẫn được coi là lương ăn truyền thống. Gạo nếp ngâm, bỏ vào chõ, đặt lên bếp, đồ thành xôi. Trên mâm ăn không thể thiếu được món ớt giã hoà muối, tỏi, có rau thơm, mùi, lá hành... có thể thêm gan gà luộc chín, ruột cá, cá nướng... gọi chung là chéo. Hễ có thịt các con vật ăn cỏ thuộc loài nhai lại thì buộc phải có nước nhúng lấy từ lòng non (nặm pịa). Thịt cá ăn tươi thì làm món nộm, nhúng (lạp, cỏi), ướp muối, thính làm mắm; ăn chín, thích hợp nhất phải kể đến các món chế biến từ cách nướng, lùi, đồ, sấy, sau đó mới đến canh, xào, rang, luộc...

Họ ưa thức ăn có các vị: cay, chua, đắng, chát, bùi, ít dùng các món ngọt, lợ, đậm, nồng... hay uống rượu cần, cất rượu. Người Thái hút thuốc lào bằng điếu ống tre, nứa và chạm bằng mảnh đóm tre ngâm, khô nỏ. Người Thái Trắng trước khi hút còn có lệ mời người xung quanh như trước khi ăn.

Mặc: Cô gái Thái đẹp nhờ mặc áo cánh ngắn, đủ màu sắc, đính khuy bạc hình bướm, nhện, ve sầu... chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân, ăn nhịp với chiếc váy vải màu thâm, hình ống; thắt eo bằng dải lụa màu xanh lá cây; đeo dây xà tích bạc ở bên hông. Ngày lễ có thể vận thêm áo dài đen, xẻ nách, hoặc kiểu chui đầu, hở ngực có hàng khuy bướm của áo cánh, chiết eo, vai phồng, đính vải trang trí ở nách, và đối vai ở phía trước như của Thái Trắng. Nữ Thái Ðen đội khăn piêu nổi tiếng trong các hình hoa văn thêu nhiều màu sắc rực rỡ. Nam người Thái mặc quần cắt để thắt lưng; áo cánh xẻ ngực có túi ở hai bên gấu vạt, áo người Thái Trắng có thêm một túi ở ngực trái; cài khuy tết bằng dây vải. Màu quần áo phổ biến là đen, có thể màu gạch non, hoa kẻ sọc hoặc trắng. Ngày lễ mặc áo đen dài, xẻ nách, bên trong có một lần áo trắng, tương tự để mặc lót. Bình thường cuốn khăn đen theo kiểu mỏ rìu. Khi vào lễ cuốn dải khăn dài một sải tay.

: Ở nhà sàn, dáng vẻ khác nhau: nhà mái tròn khum hình mai rùa, hai đầu mai rùa, hai đầu mái hồi có khau cút; nhà 4 mái mặt bằng sàn hình chữ nhật gần vuông, hiên có lan can; nhà sàn dài, cao, mỗi gian hồi làm tiền sảnh; nhà mái thấp, hẹp lòng, gần giống nhà người Mường.

Phương tiện vận chuyển: Gánh là phổ biến, ngoài ra gùi theo kiểu chằng dây đeo vắt qua trán, dùng ngựa cưỡi, thồ nay. ở dọc các con sông lớn họ rất nổi tiếng trong việc xuôi ngược bằng thuyền đuôi én.

Quan hệ xã hội: Cơ cấu xã hội cổ truyền được gọi là bản mường hay theo chế độ phìa tạo Tông tộc Thái gọi là Ðằm. Mỗi người có 3 quan hệ dòng họ trọng yếu: Ải Noong (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể). (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể).

Cưới xin: Trước kia người Thái theo chế độ hôn nhân mua bán và ở rể nên việc lấy vợ và lấy chồng phải qua nhiều bước, trong đó có 2 bước cơ bản:

Cưới lên (đong khửn) - đưa rể đến cư trú nhà vợ - là bước thử thách phẩm giá, lao động của chàng rể. Người Thái Ðen có tục búi tóc ngược lên đỉnh đầu cho người vợ ngay sau lễ cưới này. Tục ở rể từ 8 đến 12 năm.

Cưới xuống (đong lông) đưa gia đình trở về với họ cha.

Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ theo tư thế ngồi, nhau bỏ vào ống tre đem treo trên cành cây ở rừng. Sản phụ được sưởi lửa, ăn cơm lam và kiêng khem một tháng; ống lam bó đem treo trên cành cây. Có nghi thức dạy trẻ lao động theo giới và mời Lung Ta đến đặt tên chi cháu.

Ma chay: Lễ tang có 2 bước cơ bản:

Pông: Phúng viếng tiễn đưa hồn người chết lên cõi hư vô, đưa thi thể ra rừng chôn (Thái Trắng), thiếu (Thái Ðen).

Xống: gọi ma trở về ngụ ở gian thờ cúng tổ tiên ở trong nhà.

Nhà mới: Dẫn chủ nhân lên nhận nhà Lung Ta châm lửa đốt củi ở bếp mới. Người ta thực hiện tại nghi lễ, cúng đọc bài mo xua đuổi điều ác thu điều lành, cúng tổ tiên, vui chơi.

Lễ tết: Cúng tổ tiên ở người Thái Ðen vào tháng 7, 8 âm lịch. Người Thái Trắng ăn tết theo âm lịch. Bản Mường có cúng thần đất, núi, nước và linh hồn người làm trụ cột.

Lịch: Theo hệ can chi như âm lịch. Lịch của người Thái Ðen chênh với âm lịch 6 tháng.

Học: Người Thái có mẫu tự theo hệ Sanscrit. Họ học theo lệ truyền khẩu. Người Thái có nhiều tác phẩm cổ viết về lịch sử, phong tục, luật tục và văn học.

Văn nghệ: Người Thái có các điệu xoè, các loại sáo lam và tiêu, có hát thơ, đối đáp giao duyên phong phú.

Chơi: Trò chơi của người Thái phổ biến là ném còn, kéo co, đua ngựa, dạo thuyền, bắn nỏ, múa xoè, chơi quay và quả mák lẹ. Nhiều trò chơi cho trẻ em.

Mỗi nhà người Thái thường có hai bếp, một bếp để tiếp khách, sưởi ấm, một bếp khác để nấu cơm. Chõ xôi (ninh đồng, chõ gỗ) được đặt trên 3 ông đầu rau bằng đá. Phía trên bếp có giàn để các thức cần sấy khô. Người Thái thường dùng ghế mây tròn để ngồi quanh bếp.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Thái

Có thể bạn quan tâm

Đổi mới về quản trị phát triển giáo dục, dồn lực cho vùng khó khăn

Đổi mới về quản trị phát triển giáo dục, dồn lực cho vùng khó khăn

Năm học 2026-2027 đánh dấu bước chuyển mạnh mẽ, thực chất của ngành Giáo dục trong triển khai Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Trọng tâm năm học này là đổi mới mạnh mẽ quản trị phát triển giáo dục; cắt giảm tối đa thủ tục hành chính, các cuộc thi mang tính hình thức, hội họp không cần thiết; tập trung nguồn lực tháo gỡ những “điểm nghẽn” của ngành Giáo dục, nhất là tại các địa bàn, vùng còn nhiều khó khăn.

Nông sản đắt hàng nhờ nhãn hiệu OCOP và truy xuất nguồn gốc

Nông sản đắt hàng nhờ nhãn hiệu OCOP và truy xuất nguồn gốc

Tỉnh Phú Thọ có nhiều sản vật đặc trưng, mang đậm dấu ấn vùng miền. Trước đây, phần lớn nông sản được sản xuất nhỏ lẻ, chủ yếu phục vụ thị trường trong tỉnh và khu vực lân cận. Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) đã tạo động lực để các địa phương khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế, từng bước đổi mới phương thức sản xuất và tư duy phát triển sản phẩm.

Vượt khó đưa học sinh vùng cao vào năm học mới

Vượt khó đưa học sinh vùng cao vào năm học mới

Năm học 2026-2027 đã đến. Ở những địa bàn vùng cao tỉnh Điện Biên, để học sinh có thể đến trường đầy đủ trong ngày khai giảng, các thầy cô giáo đang nỗ lực vượt qua nhiều khó khăn, từ vận động học sinh ra lớp đến chuẩn bị trường lớp, cơ sở vật chất và những điều kiện cần thiết cho một năm học mới.

Cuộc sống mới của đồng bào dân tộc biên giới Tây Ninh

Cuộc sống mới của đồng bào dân tộc biên giới Tây Ninh

Tỉnh Tây Ninh đang triển khai hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhiều lĩnh vực được ghi nhận với những kết quả tích cực, tạo nền tảng vững chắc để hoàn thành các mục tiêu của năm 2026.

Phát động đợt thi đua cao điểm '80 ngày hành động vì cộng đồng'

Phát động đợt thi đua cao điểm '80 ngày hành động vì cộng đồng'

Ngày 3/9, tại Trường Phổ thông Dân tộc Bán trú Tiểu học Nấm Dẩn (xã Nấm Dẩn, tỉnh Tuyên Quang), Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam phối hợp với Hội Chữ thập đỏ tỉnh Tuyên Quang tổ chức Lễ phát động cấp quốc gia đợt thi đua cao điểm “80 ngày hành động vì cộng đồng”, hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Hội Chữ thập đỏ Việt Nam (23/11/1946 - 23/11/2026).

Đời sống đồng bào dân tộc thiểu số ở TP Hồ Chí Minh khởi sắc

Đời sống đồng bào dân tộc thiểu số ở TP Hồ Chí Minh khởi sắc

Trong suốt chăng đường xây dựng và phát triển đất nước, TP Hồ Chí Minh đã triển khai nhiều chính sách, cách làm hay, chương trình hỗ trợ linh hoạt, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc. Nhân dịp kỷ niệm 81 năm ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2026), phóng viên Báo Tin tức và Dân tộc đã có cuộc phỏng vấn ông Lâm Đình Thắng, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo Thành phố Hồ Chí Minh, để làm rõ hơn những chuyển biến tích cực trong đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS), đặc biệt trong giai đoạn đất nước đang đổi mới, phát triển và hội nhập.

Tết Độc lập nơi đảo tiền tiêu của Tổ quốc

Tết Độc lập nơi đảo tiền tiêu của Tổ quốc

Nhân 81 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Hòn Khoai cùng các lực lượng đứng chân trên đảo đã tổ chức nhiều hoạt động thiết thực, tạo không khí vui tươi, đoàn kết, góp phần giáo dục truyền thống, nâng cao ý thức trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia trên biển.

Hợp tác mở không gian phát triển vùng biên giới - Bài cuối: Hợp tác bén rễ trên những vườn cây

Hợp tác mở không gian phát triển vùng biên giới - Bài cuối: Hợp tác bén rễ trên những vườn cây

Không có đường biên trực tiếp với Lào, nhưng Đắk Lắk đang triển khai các thỏa thuận hợp tác với Champasak, Attapeu, Salavan và Sekong. Từ đề nghị của Attapeu về chuyên gia và kỹ thuật sầu riêng, một hướng hợp tác mới đang hiện rõ: kết nối vùng nguyên liệu bằng tri thức, hợp tác xã và cơ chế theo dõi đến cùng.

Hợp tác mở không gian phát triển vùng biên giới - Bài 1: Từ đường biên đến hành lang phát triển

Hợp tác mở không gian phát triển vùng biên giới - Bài 1: Từ đường biên đến hành lang phát triển

Cùng hướng tới một không gian hợp tác rộng hơn với tỉnh Mondulkiri của Vương quốc Campuchia và các tỉnh Nam Lào, hai tỉnh Lâm Đồng và Đắk Lắk đang đứng trước yêu cầu chuyển những bản ghi nhớ cấp tỉnh thành dòng hàng, vùng nguyên liệu, chương trình chuyển giao kỹ thuật và sinh kế cụ thể ở khu vực biên giới. Giá trị của hợp tác vì thế không chỉ được đo bằng số cuộc gặp, mà bằng khả năng mở đường cho từng nhu cầu từ cơ sở đi đến đúng nơi giải quyết.

Đưa đặc sản từ bản làng vào ‘giỏ hàng’ thường xuyên của người tiêu dùng

Đưa đặc sản từ bản làng vào ‘giỏ hàng’ thường xuyên của người tiêu dùng

Theo ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương), sản phẩm của đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã từng bước hiện diện rõ hơn trên thị trường, nhưng để đứng vững và tạo giá trị gia tăng tương xứng, cần chuyển từ tư duy đưa sản phẩm đi giới thiệu sang xây dựng năng lực để sản phẩm cạnh tranh, tiêu thụ lâu dài.

Nhiều chính sách đột phá vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Cần Thơ

Nhiều chính sách đột phá vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Cần Thơ

Trong hành trình phát triển của đất nước, Đảng bộ, chính quyền thành phố Cần Thơ đã thực hiện hàng loạt chương trình, chính sách cụ thể, tạo chuyển biến tích cực trong cộng đồng người dân tộc thiểu số (DTTS). Nhân dịp kỷ niệm 81 năm ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2026), phóng viên Báo Tin tức và Dân tộc đã có cuộc phỏng vấn ông Lâm Hoàng Mẫu, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo thành phố Cần Thơ để làm rõ hơn về vấn đề này.

Từ giá trị văn hóa đến sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số

Từ giá trị văn hóa đến sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số

Trao đổi với phóng viên, ông Nguyễn Đình Tứ, Phó Giám đốc, Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Phú Thọ cho biết, để văn hóa thực sự trở thành động lực phát triển, Phú Thọ xác định phải đồng bộ nhiều giải pháp từ đầu tư hạ tầng, lựa chọn sản phẩm đặc trưng, tăng liên kết đến kết nối doanh nghiệp, logistics và du lịch…

Lai Châu thiếu không gian sinh hoạt chung sau sáp nhập thôn, bản

Lai Châu thiếu không gian sinh hoạt chung sau sáp nhập thôn, bản

Sau sáp nhập thôn, bản, quy mô dân cư tăng lên nhưng nhiều nhà văn hóa không còn đáp ứng nhu cầu hội họp, sinh hoạt cộng đồng. Tại xã Than Uyên, tỉnh Lai Châu, tình trạng thừa nhà văn hóa nhưng thiếu không gian sinh hoạt chung đang đặt ra yêu cầu có giải pháp phù hợp với thực tế sau sáp nhập.

Cây sâm bén rễ, tình quân dân thêm gắn bó nơi biên cương

Cây sâm bén rễ, tình quân dân thêm gắn bó nơi biên cương

Phát triển kinh tế gắn với củng cố quốc phòng, an ninh đang được các địa phương khu vực biên giới Lai Châu triển khai bằng nhiều cách làm thiết thực, phù hợp điều kiện thực tế. Trong đó, việc đưa cây Sâm Lai Châu - loại dược liệu quý có giá trị kinh tế cao vào trồng tại khu vực biên giới đang mở ra hướng sinh kế mới cho đồng bào các dân tộc thiểu số.

Đưa giá trị văn hóa thành nguồn lực phát triển kinh tế và nâng cao đời sống đồng bào

Đưa giá trị văn hóa thành nguồn lực phát triển kinh tế và nâng cao đời sống đồng bào

Theo bà Nguyễn Thị Hồng Huệ, Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách, Bộ Dân tộc và Tôn giáo, những giá trị văn hóa, nghề truyền thống, tri thức bản địa và sản vật đặc hữu của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nếu được nhận diện đúng, tổ chức phù hợp và kết nối với thị trường sẽ trở thành nguồn lực nội sinh, tạo ra sản phẩm, thương hiệu, dịch vụ có giá trị gia tăng, việc làm và sinh kế bền vững cho cộng đồng.

Sơn La huy động lực lượng, tăng tốc làm sạch dữ liệu đất đai trước 30/10

Sơn La huy động lực lượng, tăng tốc làm sạch dữ liệu đất đai trước 30/10

Ngày 28/8, Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La tổ chức Hội nghị sơ kết thực hiện Kế hoạch số 2959/KH-BNNMT-BCA của liên Bộ Nông nghiệp và Môi trường - Bộ Công an về tăng cường đẩy mạnh công tác đo đạc, lập bản đồ địa chính, lập hồ sơ địa chính và hoàn thành cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai.

Mở tương lai tươi sáng cho trẻ em vùng biên

Mở tương lai tươi sáng cho trẻ em vùng biên

Chỉ còn ít ngày nữa, năm học 2026 - 2027 sẽ chính thức bắt đầu. Cùng với niềm vui tựu trường của học sinh trên cả nước, tại các xã biên giới, những ngôi trường phổ thông nội trú liên cấp đang gấp rút hoàn thiện những công việc cuối cùng để sẵn sàng đón học sinh.

Công bố các quyết định về bộ máy và cán bộ tại Lai Châu

Công bố các quyết định về bộ máy và cán bộ tại Lai Châu

Sáng 28/8, Ban Thường vụ Tỉnh ủy tỉnh Lai Châu tổ chức Hội nghị công bố các quyết định về công tác tổ chức bộ máy và cán bộ. Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Lai Châu Lê Minh Ngân dự, phát biểu chỉ đạo tại hội nghị.

Sắp xếp, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị

Sắp xếp, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị

Tối 27/8, Tỉnh ủy Sơn La tổ chức Hội nghị công bố các Quyết định về việc thành lập 2 đảng bộ; đổi tên Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy thành Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy và công bố các Quyết định của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về công tác cán bộ.

Xã vùng cao biên giới Thu Lũm sẵn sàng hành trình 'Gieo con chữ'

Xã vùng cao biên giới Thu Lũm sẵn sàng hành trình 'Gieo con chữ'

Là xã biên giới xa nhất của tỉnh Lai Châu, địa hình chia cắt, điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, Thu Lũm luôn đứng trước không ít thách thức trong việc nâng cao chất lượng giáo dục. Song, bằng sự chủ động và quyết tâm, cấp ủy, chính quyền cùng các nhà trường đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, từ sắp xếp tổ chức bộ máy, chuẩn bị cơ sở vật chất, rà soát, huy động học sinh đến tranh thủ các nguồn lực hỗ trợ.

Đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các trường nội trú liên cấp biên giới

Đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các trường nội trú liên cấp biên giới

Chiều 26/8, UBND tỉnh Sơn La tổ chức Phiên họp thứ năm để xem xét, thảo luận tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026; đồng thời, cho ý kiến đối với một số nội dung thuộc thẩm quyền của UBND tỉnh.

Hiệu quả mô hình tự quản vùng biên Môn Sơn, Nghệ An

Hiệu quả mô hình tự quản vùng biên Môn Sơn, Nghệ An

Với hơn 4000 hộ dân và 36,5km đường biên giới tiếp giáp nước bạn Lào; địa hình chia cắt, đời sống còn nhiều khó khăn, xã vùng biên Môn Sơn (Nghệ An) từng đối mặt với không ít thách thức trong công tác quản lý địa bàn và bảo đảm an ninh trật tự. Tuy nhiên, bằng việc phát huy sức mạnh 'thế trận lòng dân' thông qua các mô hình tự quản sáng tạo, Môn Sơn không chỉ giữ vững sự bình yên hôm nay, mà còn tạo nền tảng vững chắc để vùng biên viễn phát triển.