Giúp phụ nữ thay đổi tư duy, nâng cao năng lực và tự tin làm chủ cuộc sống

Ngày 28/8, tỉnh Lai Châu tổ chức Hội nghị đối thoại giữa lãnh đạo UBND tỉnh với phụ nữ Lai Châu năm 2026 với chủ đề: “Phát huy vai trò của phụ nữ trong thích ứng với biến đổi khí hậu và thực hiện bình đẳng giới”.

lai-chau2-2808.jpg
Hội nghị đối thoại giữa lãnh đạo UBND tỉnh với Phụ nữ Lai Châu năm 2026.

Tại hội nghị, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lai Châu Tống Thanh Hải đề nghị các sở, ngành, địa phương và cơ quan liên quan tập trung hỗ trợ phụ nữ phát triển sinh kế, việc làm, mở rộng thị trường và nâng cao khả năng ứng dụng chuyển đổi số; chăm lo tốt hơn sức khỏe, sự an toàn và quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ và trẻ em; tiếp tục tạo điều kiện để tổ chức Hội và đội ngũ cán bộ Hội ở cơ sở hoạt động hiệu quả; theo dõi và giải quyết những ý kiến, kiến nghị chính đáng của phụ nữ sau hội nghị.

Các cấp, ngành, mỗi cán bộ, hội viên, phụ nữ cần giữ vững tinh thần đoàn kết, tự tin, chủ động và sáng tạo; tích cực học tập, nâng cao kiến thức, kỹ năng; mạnh dạn đổi mới cách nghĩ, cách làm; đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số vào sản xuất, kinh doanh và đời sống. Cùng với đó, phụ nữ cần khẳng định tốt hơn vai trò trong xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh; tích cực tham gia các phong trào ở địa phương, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa và đóng góp thiết thực vào sự phát triển chung của tỉnh.

Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Lai Châu Ngô Thị Bích Hạnh nhấn mạnh, đây là dịp để cán bộ, hội viên, phụ nữ trực tiếp trao đổi với lãnh đạo tỉnh, các sở, ngành về giải pháp hỗ trợ phụ nữ và người dân khôi phục sản xuất, ổn định sinh kế sau thiên tai; xây dựng và nhân rộng các mô hình bảo vệ môi trường, sử dụng nước sạch, xử lý rác thải; hỗ trợ phụ nữ phát triển sản xuất, xây dựng chuỗi liên kết và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm; đào tạo nghề, giải quyết việc làm, nâng cao kỹ năng số, ứng dụng thương mại điện tử, bảo đảm an toàn trên không gian mạng; tạo điều kiện để phụ nữ dân tộc thiểu số tiếp cận các chương trình, chính sách, nguồn lực phát triển.

lai-chau1-2808.jpg
Lãnh đạo Sở Nội vụ tỉnh Lai Châu trả lời câu hỏi của hội viên phụ nữ tại Hội nghị.

Tại hội nghị, các cán bộ, hội viên, phụ nữ đã có nhiều câu hỏi liên quan đến nội dung: hỗ trợ người dân tại xã Mường Than ổn định cuộc sống, phục hồi sản xuất, tái thiết sinh kế sau khi thiên tai; hỗ trợ xây dựng, duy trì và nhân rộng các mô hình do phụ nữ làm nòng cốt (như: sử dụng nước sạch, nhà tiêu hợp vệ sinh, phân loại và xử lý rác thải sinh hoạt); hỗ trợ xây dựng chuỗi liên kết sản xuất - tiêu thụ, kết nối thị trường, giúp phụ nữ tiêu thụ ổn định các sản phẩm nông sản của địa phương, nâng cao thu nhập; cơ chế, chính sách hỗ trợ phụ nữ xây dựng thương hiệu, truy xuất nguồn gốc, đưa sản phẩm lên sàn thương mại điện tử; công tác đào tạo nghề cho phụ nữ… Các ý kiến đã được đại diện lãnh đạo các sở, ngành của tỉnh trao đổi, làm rõ nhiều vấn đề được quan tâm.

Trước những tác động của biến đổi khí hậu, Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp trong tỉnh đã phát huy vai trò là cầu nối, đồng hành cùng hội viên phụ nữ, đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức, khơi dậy tinh thần chủ động, sáng tạo trong lao động sản xuất và bảo vệ môi trường.

Trong đó có Dự án “Thúc đẩy vai trò của phụ nữ trong thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng” do tổ chức CARE tài trợ, được triển khai ở Lai Châu từ năm 2024 tại hai xã Pắc Ta và Tân Uyên với 27,9 ha, 64 hộ tham gia mô hình lúa giảm phát thải bằng phương pháp tưới ngập khô xen kẽ; mô hình trồng chuối đầu nguồn kết hợp cây ăn quả trên 10,8 ha với 22 hộ và mô hình VAC sinh thái với 4 hộ tham gia thí điểm hướng tới sản xuất tuần hoàn, tận dụng hiệu quả nguồn tài nguyên sẵn có.

Các mô hình vừa mở thêm hướng sinh kế, vừa góp phần giữ đất, bảo vệ sinh cảnh đầu nguồn. Ngoài ra, dự án thành lập mới 11 tổ tương trợ vốn, hỗ trợ 50 triệu đồng mỗi tổ; đồng thời bổ sung nguồn lực cho 19 tổ cũ mỗi tổ 20 triệu đồng. Không chỉ giúp tiếp cận nguồn vốn, các tổ còn tạo không gian để chị em học hỏi, hỗ trợ nhau phát triển kinh tế và ứng phó với biến đổi khí hậu.

lai-chau-2808.jpg
Hội viên phụ nữ đặt câu hỏi tại Hội nghị.

Triển khai Dự án 8 “Thực hiện bình đẳng giới và giải quyết những vấn đề cấp thiết đối với phụ nữ và trẻ em” thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia, giai đoạn 2021-2025, các cấp Hội và ngành liên quan đã tổ chức 132 lớp tập huấn, 16 hội thi, 140 cuộc đối thoại chính sách; thành lập 471 tổ truyền thông cộng đồng, 85 Câu lạc bộ “Thủ lĩnh của sự thay đổi”; hỗ trợ 494 phụ nữ dân tộc thiểu số sinh đẻ an toàn và củng cố, nâng cao chất lượng 77 địa chỉ tin cậy cộng đồng.

Từ dự án này, phụ nữ Lai Châu đang từng bước thay đổi tư duy, nâng cao năng lực và tự tin làm chủ cuộc sống. Đây không chỉ là tiền đề quan trọng để thúc đẩy bình đẳng giới, mà còn góp phần thực hiện hiệu quả mục tiêu giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương trong giai đoạn mới./.

Dân tộc Dao

Tên tự gọi: Kìm Miền, Kìm Mùn (người rừng).

Tên gọi khác: Mán.

Nhóm địa phương: Dao Ðỏ (Dao Cóc Ngáng, Dao sừng, Dao Dụ lạy, Dao Ðại bản), Dao Quần chẹt (Dao Sơn đầu, Dao Tam đảo, Dao Nga hoàng, Dụ Cùn), Dao Lô gang (Dao Thanh phán, Dao Cóc Mùn), Dao Tiền (Dao Ðeo tiền, Dao Tiểu bản), Dao Quần trắng (Dao Họ), Dao Thanh Y, Dao Làn Tẻn (Dao Tuyển, Dao áo dài).

Dân số: 751.067 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngữ hệ Hmông - Dao.

Lịch sử: Người Dao có nguồn gốc từ Trung Quốc, việc chuyển cư sang Việt Nam kéo dài suốt từ thế kỷ XII, XIII cho đến nửa đầu thế kỷ XX. Họ tự nhận mình là con cháu của Bản Hồ (Bàn vương), một nhân vật huyền thoại rất phổ biến và thiêng liêng ở người Dao.

Hoạt động sản xuất: Nương, thổ canh hốc đá, ruộng là những hình thức canh tác phổ biến ở người Dao. Tuỳ từng nhóm, từng vùng mà hình thức canh tác này hay khác nổi trội lên như: Người Dao Quần Trắng, Dao áo Dài, Dao Thanh Y chuyên làm ruộng nước. Người Dao Ðỏ - thổ canh hốc đá. Phần lớn các nhóm Dao khác làm nương du canh hay định canh. Cây lương thực chính là lúa, ngô, các loại rau màu quan trọng như bầu, bí, khoai... Họ chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà ở vùng lưng chừng núi và vùng cao còn nuôi ngựa, dê.

Nghề trồng bông, dệt vải phổ biến ở các nhóm Dao. Họ ưa dùng vải nhuộm chàm.

Hầu hết các xóm đều có lò rèn để sửa chữa nông cụ. Nhiều nơi còn làm súng hoả mai, súng kíp, đúc những hạt đạn bằng gang. Nghề thợ bạc là nghề gia truyền, chủ yếu làm những đồ trang sức như vòng cổ, vòng chân, vòng tay, vòng tai, nhẫn, dây bạc, hộp đựng trầu...

Nhóm Dao Ðỏ và Dao Tiền có nghề làm giấy bản. Giấy bản dùng để chép sách cúng, sách truyện, sách hát hay dùng cho các lễ cúng như viết sớ, tiền ma. Nhiều nơi có nghề ép dầu thắp sáng hay dầu ăn, nghề làm đường mật.

Ăn: Người Dao thường ăn hai bữa chính trong ngày, bữa trưa và bữa tối. Chỉ những ngày mùa bận rộn mới ăn thêm bữa sáng. Người Dao ăn cơm là chính, ở một số nơi lại ăn ngô nhiều hơn ăn cơm hoặc ăn cháo. Cối xay lúa thường dùng là loại cối gỗ đóng dăm tre. Cối giã có nhiều loại như cối gỗ hình trụ, cối máng giã bằng chày tay, cối đạp chân, cối giã bằng sức nước. Họ thích ăn thịt luộc, các món thịt sấy khô, ướp chua, canh măng chua. Khi ăn xong, người ra kiêng để đũa ngang miệng bát vì đó là dấu hiệu trong nhà có người chết.

Phổ biến là rượu cất, ở một vài nơi lại uống hoãng, thứ rượu không qua trưng cất, có vị chua và ít cay.

Người Dao thường hút thuốc lá và thuốc lào bằng điếu cầy hay tẩu.

Mặc: Trước đây đàn ông để tóc dài, búi sau gáy hoặc để chỏm tóc dài trên đỉnh đầu, xung quanh cạo nhẵn. Các nhóm Dao thường có cách đội khăn khác nhau. áo có hai loại, áo dài và áo ngắn.

Phụ nữ Dao mặc rất đa dạng, thường mặc áo dài yếm, váy hoặc quần. Y phục theo rất sặc sỡ. Họ không theo theo mẫu vẽ sẵn trên vải mà hoàn toàn dựa vào trí nhớ, thêu ở mặt trái của vải để hình mẫu nổi lên mặt phải. Nhiều loại hoa văn như chữ vạn, cây thông, hình chim, người, động vật, lá cây. Cách in hoa văn trên vải bằng sáp ong ở người Dao rất độc đáo. Muốn hình gì người ta dùng bút vẽ hay nhúng khuôn in vào sáp ong nóng chẩy rồi in lên vải. Vải sau khi nhuộm chàm sẽ hiện lên hoa văn mầu xanh lơ do phủ lớp sáp ong không bị thấm chàm.

: Người Dao thường sống ở vùng lưng chừng núi hầu khắp các tỉnh miền núi miền Bắc. Tuy nhiên một số nhóm như Dao Quần trắng ở thung lũng, còn Dao Ðỏ lại ở trên núi cao. Thôn xóm phần nhiều phân tán, rải rác, năm bẩy nóc nhà. Nhà của người Dao rất khác nhau, tuỳ nơi họ ở nhà trệt, nhà sàn hay nhà nửa sàn, nửa đất.

Phương tiện vận chuyển: Người Dao ở vùng cao quen dùng địu có hai quai đeo vai, vùng thấp gánh bằng đôi dậu. Túi vải hay túi lưới đeo vai rất được họ ưa dùng.

Quan hệ xã hội: Trong thôn xóm tồn tại chủ yếu các quan hệ xóm giềng và quan hệ dòng họ.

Người Dao có nhiều họ, phổ biến nhất là các họ Bàn, Ðặng, Triệu. Các dòng họ, chi họ thường có gia phả riêng và có hệ thống tên đệm để phân biệt giữa những người thuộc các thế hệ khác nhau.

Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ ngồi, đẻ ngay trong buồng ngủ. Trẻ sơ sinh được tắm bằng nước nóng. Nhà có người ở cữ người ta treo cành lá xanh hay cài hoa chuối trước cửa để làm dấu không cho người lạ vào nhà vì sợ vía độc ảnh hưởng tới sức khoẻ đứa trẻ. Trẻ sơ sinh được ba ngày thì làm lễ cúng mụ.

Cưới xin: Trai gái muốn lấy được nhau phải so tuổi, bói chân gà xem có hợp nhau không. Có tục chăng dây, hát đối đáp giữa nhà trai và nhà gái trước khi vào nhà, hát trong đám cưới. Lúc đón dâu, cô dâu được cõng ra khỏi nhà gái và bước qua cái kéo mà thầy cúng đã làm phép mới được vào nhà trai.

Ma chay: Thày tào có vị trí quan trọng trong việc ma và làm chay. Nhà có người chết con cái đến nhà thầy mời về chủ trì các nghi lễ, tìm đất đào huyệt. Người ta kiêng khâm liệm người chết vào giờ sinh của những người trong gia đình. Người chết được liệm vào quan tài để trong nhà hay chỉ bó chiếu ra đến huyệt rồi mới cho vào quan tài. Mộ được đắp đất, xếp đá ở chân mộ. ở một số nơi có tục hoả táng cho những người chết từ 12 tuổi trở lên.

Lễ làm chay cho người chết diễn ra sau nhiều năm, thường được kết hợp với lễ cấp sắc cho một người đàn ông nào đó đang sống trong gia đình. Lễ tổ chức ba ngày, ngày đầu gọi là lễ phá ngục, giải thoát hồn cho người chết, ngày thứ hai gọi là lễ tắm hương hoa cho người chết trước khi đưa hồn về bàn thờ tổ tiên trong nhà, ngày thứ ba lễ cấp sắc. Người chết được cúng đưa hồn về quê cũ ở Dương Châu.


Nhà mới: Muốn làm nhà phải xem tuổi những người trong gia đình, nhất là tuổi chủ gia đình. Nghi lễ chọn đất được coi là quan trọng. Buổi tối, người ta đào một hố to bằng miệng bát, xếp một số hạt gạo tượng trưng cho người, trâu bò, tiền bạc, thóc lúa, tài sản rồi úp bát lên. Dựa vào mộng báo đêm đó mà biết điềm xấu hay tốt. Sáng hôm sau ra xem hỗ, các hạt gạo vẫn giữa nguyên vị trí là có thể làm nhà được.

Thờ cúng: Người Dao vừa tin theo các tín ngưỡng nguyên thuỷ, các nghi lễ nông nghiệp vừa chịu ảnh hưởng sâu sắc của Khổng giáo, Phật giáo và nhất là Ðạo giáo. Bàn vương được coi là thuỷ tổ của người Dao nên được cúng chung với tổ tiên từng gia đình. Theo truyền thống tất cả đàn ông đã đến tuổi trưởng thành đều phải qua lễ cấp sắc. một nghi lễ vừa mang tính chất của Ðạo giáo, vừa mang những vết của lễ thành đinh xa xưa.

Lịch: Người Dao quen dùng âm lịch để tính thời gian sản xuất và sinh hoạt.

Học: Hầu hết các xóm thôn người Dao đều có người biết chữ Hán, nôm Dao. Người ta học chữ để đọc sách cúng, sách truyện, thơ.

Văn nghệ: Người Dao có vốn văn nghệ dân gian rất phong phú, nhiều truyện cổ, bài hát, thơ ca. Ðặc biệt truyện Quả bầu với nạn hồng thuỷ, Sự tích Bàn Vương rất phổ biến trong người Dao. Múa, nhạc được họ sử dụng chủ yếu trong các nghi lễ tôn giáo.

Chơi: Người Dao thích chơi đu, chơi quay, đi cà kheo.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Dao
Dân tộc Thái

Tên tự gọi: Tay hoặc Thay

Tên gọi khác: Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ.

Nhóm địa phương: Ngành Ðen (Tay Ðăm), Ngành trắng (Tay Ðón hoặc Khao).

Dân số: 1.550.423 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm.

Hoạt động sản xuất: Người Thái sớm đi vào nghề trồng lúa nước trong hệ thống thuỷ lợi thích hợp được đúc kế như một thành ngữ - "mương, phai, lái, lịn" (khơi mương, đắp đập, dẫn nước qua vật chướng ngại, đặt máng) trên các cánh đồng thung lũng. Họ làm ruộng cấy một vụ lúa nếp, nay chuyển sang 2 vụ lúa tẻ. Họ còn làm nương để trồng thêm lúa, ngô, hoa màu, cây thực phẩm và đặc biệt bông, cây thuốc nhuộm, dâu tằm để dệt vải.

Cót xát rất phổ biến ở vùng người Thái, dùng để trải trên sàn trước khi xếp chiếu phục tay và các tấm đệm ngủ lên trên. Cót được đan bằng cây mạy loi, một loại cây thuộc loài tre, nứa mọc trên núi đá vôi cao.

Ăn: Ngày nay gạo tẻ đã trở thành lương thực chính, gạo nếp vẫn được coi là lương ăn truyền thống. Gạo nếp ngâm, bỏ vào chõ, đặt lên bếp, đồ thành xôi. Trên mâm ăn không thể thiếu được món ớt giã hoà muối, tỏi, có rau thơm, mùi, lá hành... có thể thêm gan gà luộc chín, ruột cá, cá nướng... gọi chung là chéo. Hễ có thịt các con vật ăn cỏ thuộc loài nhai lại thì buộc phải có nước nhúng lấy từ lòng non (nặm pịa). Thịt cá ăn tươi thì làm món nộm, nhúng (lạp, cỏi), ướp muối, thính làm mắm; ăn chín, thích hợp nhất phải kể đến các món chế biến từ cách nướng, lùi, đồ, sấy, sau đó mới đến canh, xào, rang, luộc...

Họ ưa thức ăn có các vị: cay, chua, đắng, chát, bùi, ít dùng các món ngọt, lợ, đậm, nồng... hay uống rượu cần, cất rượu. Người Thái hút thuốc lào bằng điếu ống tre, nứa và chạm bằng mảnh đóm tre ngâm, khô nỏ. Người Thái Trắng trước khi hút còn có lệ mời người xung quanh như trước khi ăn.

Mặc: Cô gái Thái đẹp nhờ mặc áo cánh ngắn, đủ màu sắc, đính khuy bạc hình bướm, nhện, ve sầu... chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân, ăn nhịp với chiếc váy vải màu thâm, hình ống; thắt eo bằng dải lụa màu xanh lá cây; đeo dây xà tích bạc ở bên hông. Ngày lễ có thể vận thêm áo dài đen, xẻ nách, hoặc kiểu chui đầu, hở ngực có hàng khuy bướm của áo cánh, chiết eo, vai phồng, đính vải trang trí ở nách, và đối vai ở phía trước như của Thái Trắng. Nữ Thái Ðen đội khăn piêu nổi tiếng trong các hình hoa văn thêu nhiều màu sắc rực rỡ. Nam người Thái mặc quần cắt để thắt lưng; áo cánh xẻ ngực có túi ở hai bên gấu vạt, áo người Thái Trắng có thêm một túi ở ngực trái; cài khuy tết bằng dây vải. Màu quần áo phổ biến là đen, có thể màu gạch non, hoa kẻ sọc hoặc trắng. Ngày lễ mặc áo đen dài, xẻ nách, bên trong có một lần áo trắng, tương tự để mặc lót. Bình thường cuốn khăn đen theo kiểu mỏ rìu. Khi vào lễ cuốn dải khăn dài một sải tay.

: Ở nhà sàn, dáng vẻ khác nhau: nhà mái tròn khum hình mai rùa, hai đầu mai rùa, hai đầu mái hồi có khau cút; nhà 4 mái mặt bằng sàn hình chữ nhật gần vuông, hiên có lan can; nhà sàn dài, cao, mỗi gian hồi làm tiền sảnh; nhà mái thấp, hẹp lòng, gần giống nhà người Mường.

Phương tiện vận chuyển: Gánh là phổ biến, ngoài ra gùi theo kiểu chằng dây đeo vắt qua trán, dùng ngựa cưỡi, thồ nay. ở dọc các con sông lớn họ rất nổi tiếng trong việc xuôi ngược bằng thuyền đuôi én.

Quan hệ xã hội: Cơ cấu xã hội cổ truyền được gọi là bản mường hay theo chế độ phìa tạo Tông tộc Thái gọi là Ðằm. Mỗi người có 3 quan hệ dòng họ trọng yếu: Ải Noong (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể). (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể).

Cưới xin: Trước kia người Thái theo chế độ hôn nhân mua bán và ở rể nên việc lấy vợ và lấy chồng phải qua nhiều bước, trong đó có 2 bước cơ bản:

Cưới lên (đong khửn) - đưa rể đến cư trú nhà vợ - là bước thử thách phẩm giá, lao động của chàng rể. Người Thái Ðen có tục búi tóc ngược lên đỉnh đầu cho người vợ ngay sau lễ cưới này. Tục ở rể từ 8 đến 12 năm.

Cưới xuống (đong lông) đưa gia đình trở về với họ cha.

Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ theo tư thế ngồi, nhau bỏ vào ống tre đem treo trên cành cây ở rừng. Sản phụ được sưởi lửa, ăn cơm lam và kiêng khem một tháng; ống lam bó đem treo trên cành cây. Có nghi thức dạy trẻ lao động theo giới và mời Lung Ta đến đặt tên chi cháu.

Ma chay: Lễ tang có 2 bước cơ bản:

Pông: Phúng viếng tiễn đưa hồn người chết lên cõi hư vô, đưa thi thể ra rừng chôn (Thái Trắng), thiếu (Thái Ðen).

Xống: gọi ma trở về ngụ ở gian thờ cúng tổ tiên ở trong nhà.

Nhà mới: Dẫn chủ nhân lên nhận nhà Lung Ta châm lửa đốt củi ở bếp mới. Người ta thực hiện tại nghi lễ, cúng đọc bài mo xua đuổi điều ác thu điều lành, cúng tổ tiên, vui chơi.

Lễ tết: Cúng tổ tiên ở người Thái Ðen vào tháng 7, 8 âm lịch. Người Thái Trắng ăn tết theo âm lịch. Bản Mường có cúng thần đất, núi, nước và linh hồn người làm trụ cột.

Lịch: Theo hệ can chi như âm lịch. Lịch của người Thái Ðen chênh với âm lịch 6 tháng.

Học: Người Thái có mẫu tự theo hệ Sanscrit. Họ học theo lệ truyền khẩu. Người Thái có nhiều tác phẩm cổ viết về lịch sử, phong tục, luật tục và văn học.

Văn nghệ: Người Thái có các điệu xoè, các loại sáo lam và tiêu, có hát thơ, đối đáp giao duyên phong phú.

Chơi: Trò chơi của người Thái phổ biến là ném còn, kéo co, đua ngựa, dạo thuyền, bắn nỏ, múa xoè, chơi quay và quả mák lẹ. Nhiều trò chơi cho trẻ em.

Mỗi nhà người Thái thường có hai bếp, một bếp để tiếp khách, sưởi ấm, một bếp khác để nấu cơm. Chõ xôi (ninh đồng, chõ gỗ) được đặt trên 3 ông đầu rau bằng đá. Phía trên bếp có giàn để các thức cần sấy khô. Người Thái thường dùng ghế mây tròn để ngồi quanh bếp.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Thái

Có thể bạn quan tâm

Sơn La huy động lực lượng, tăng tốc làm sạch dữ liệu đất đai trước 30/10

Sơn La huy động lực lượng, tăng tốc làm sạch dữ liệu đất đai trước 30/10

Ngày 28/8, Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La tổ chức Hội nghị sơ kết thực hiện Kế hoạch số 2959/KH-BNNMT-BCA của liên Bộ Nông nghiệp và Môi trường - Bộ Công an về tăng cường đẩy mạnh công tác đo đạc, lập bản đồ địa chính, lập hồ sơ địa chính và hoàn thành cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai.

Mở tương lai tươi sáng cho trẻ em vùng biên

Mở tương lai tươi sáng cho trẻ em vùng biên

Chỉ còn ít ngày nữa, năm học 2026 - 2027 sẽ chính thức bắt đầu. Cùng với niềm vui tựu trường của học sinh trên cả nước, tại các xã biên giới, những ngôi trường phổ thông nội trú liên cấp đang gấp rút hoàn thiện những công việc cuối cùng để sẵn sàng đón học sinh.

Công bố các quyết định về bộ máy và cán bộ tại Lai Châu

Công bố các quyết định về bộ máy và cán bộ tại Lai Châu

Sáng 28/8, Ban Thường vụ Tỉnh ủy tỉnh Lai Châu tổ chức Hội nghị công bố các quyết định về công tác tổ chức bộ máy và cán bộ. Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Lai Châu Lê Minh Ngân dự, phát biểu chỉ đạo tại hội nghị.

Sắp xếp, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị

Sắp xếp, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị

Tối 27/8, Tỉnh ủy Sơn La tổ chức Hội nghị công bố các Quyết định về việc thành lập 2 đảng bộ; đổi tên Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy thành Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy và công bố các Quyết định của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về công tác cán bộ.

Xã vùng cao biên giới Thu Lũm sẵn sàng hành trình 'Gieo con chữ'

Xã vùng cao biên giới Thu Lũm sẵn sàng hành trình 'Gieo con chữ'

Là xã biên giới xa nhất của tỉnh Lai Châu, địa hình chia cắt, điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, Thu Lũm luôn đứng trước không ít thách thức trong việc nâng cao chất lượng giáo dục. Song, bằng sự chủ động và quyết tâm, cấp ủy, chính quyền cùng các nhà trường đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, từ sắp xếp tổ chức bộ máy, chuẩn bị cơ sở vật chất, rà soát, huy động học sinh đến tranh thủ các nguồn lực hỗ trợ.

Đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các trường nội trú liên cấp biên giới

Đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các trường nội trú liên cấp biên giới

Chiều 26/8, UBND tỉnh Sơn La tổ chức Phiên họp thứ năm để xem xét, thảo luận tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026; đồng thời, cho ý kiến đối với một số nội dung thuộc thẩm quyền của UBND tỉnh.

Hiệu quả mô hình tự quản vùng biên Môn Sơn, Nghệ An

Hiệu quả mô hình tự quản vùng biên Môn Sơn, Nghệ An

Với hơn 4000 hộ dân và 36,5km đường biên giới tiếp giáp nước bạn Lào; địa hình chia cắt, đời sống còn nhiều khó khăn, xã vùng biên Môn Sơn (Nghệ An) từng đối mặt với không ít thách thức trong công tác quản lý địa bàn và bảo đảm an ninh trật tự. Tuy nhiên, bằng việc phát huy sức mạnh 'thế trận lòng dân' thông qua các mô hình tự quản sáng tạo, Môn Sơn không chỉ giữ vững sự bình yên hôm nay, mà còn tạo nền tảng vững chắc để vùng biên viễn phát triển.

Linh hoạt sắp xếp trường lớp, tạo thuận lợi cho người học, người dạy

Linh hoạt sắp xếp trường lớp, tạo thuận lợi cho người học, người dạy

Thực hiện chủ trương sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục công lập, các địa phương ở tỉnh Đắk Lắk đang chủ động chuẩn bị các điều kiện để mô hình mới hoạt động ổn định. Yêu cầu được đặt ra là tinh gọn đầu mối nhưng không làm gián đoạn việc dạy và học, nhất là tại những địa bàn vùng xa.

Đắk Lắk xem xét trách nhiệm các địa phương chậm giải quyết hồ sơ đất đai

Đắk Lắk xem xét trách nhiệm các địa phương chậm giải quyết hồ sơ đất đai

Liên quan đến vấn đề tồn đọng hồ sơ đất đai tại Đắk Lắk mà phóng viên TTXVN đã phản ánh, ngày 24/8, UBND tỉnh Đắk Lắk ban hành văn bản 13291//UBND-PVHCC về việc xử lý dứt điểm hồ sơ thủ tục hành chính lĩnh vực đất đai còn tồn đọng. Đây là vấn đề đã được UBND tỉnh nhiều lần chỉ đạo nhưng vẫn chưa được xử lý dứt điểm.

Điện Biên: Khởi công Tổ hợp giáo dục liên thông đa cấp học gần 650 tỷ đồng

Điện Biên: Khởi công Tổ hợp giáo dục liên thông đa cấp học gần 650 tỷ đồng

Sáng 25/8, tại phường Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên, Tổ hợp Giáo dục FPT Điện Biên được khởi công với tổng vốn đầu tư gần 650 tỷ đồng. Dự án được xây dựng theo mô hình giáo dục liên thông, đa cấp học, từ phổ thông đến giáo dục nghề nghiệp và đại học, hướng tới đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho Điện Biên và khu vực Tây Bắc.

Tuyên Quang: Người dân tự giác giao nộp 263 súng tự chế, 283 viên đạn

Tuyên Quang: Người dân tự giác giao nộp 263 súng tự chế, 283 viên đạn

Thực hiện đợt cao điểm tuyên truyền, vận động nhân dân tự nguyện giao nộp vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ và pháo, lực lượng Công an tỉnh Tuyên Quang đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, hướng mạnh về cơ sở. Qua đó, người dân đã tự giác giao nộp 263 súng tự chế, 283 viên đạn, 29 kíp nổ cùng nhiều loại vũ khí, công cụ hỗ trợ khác, góp phần phòng ngừa nguy cơ mất an ninh, trật tự ngay từ địa bàn dân cư.

Trường lớp khang trang, sẵn sàng đón học sinh vào năm học mới

Trường lớp khang trang, sẵn sàng đón học sinh vào năm học mới

Trước thềm năm học mới 2026 - 2027, tỉnh Quảng Trị đang khẩn trương hoàn thiện cơ sở vật chất trường, lớp, chuẩn bị các điều kiện cần thiết phục vụ giảng dạy và học tập. Nhiều công trình đang được đẩy nhanh tiến độ, từng bước tạo diện mạo trường lớp khang trang, an toàn, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và sẵn sàng đón học sinh trở lại trường.

Điện Biên tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân

Điện Biên tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân

Trong bối cảnh kinh tế tư nhân ngày càng khẳng định vai trò trong phát triển kinh tế - xã hội, xã Sam Mứn, tỉnh Điện Biên đang tập trung tạo môi trường thuận lợi, hỗ trợ người dân, doanh nghiệp, hợp tác xã đầu tư, mở rộng sản xuất, kinh doanh. Qua đó, từng bước khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế địa phương, tạo việc làm, nâng cao thu nhập và góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển bền vững.

Giữ bình yên biên giới, ngăn chặn xuất nhập cảnh trái phép từ sớm

Giữ bình yên biên giới, ngăn chặn xuất nhập cảnh trái phép từ sớm

Trên tuyến biên giới đất liền dài gần 369 km tiếp giáp Vương quốc Campuchia, hoạt động giao thương, đi lại giữa nhân dân hai nước diễn ra thường xuyên, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ bị các đối tượng lợi dụng để xuất nhập cảnh trái phép và thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật.

Phú Thọ giảm 1.206 đầu mối cơ sở giáo dục sau sắp xếp

Phú Thọ giảm 1.206 đầu mối cơ sở giáo dục sau sắp xếp

UBND tỉnh Phú Thọ đã phê duyệt phương án tổng thể sắp xếp các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, giáo dục thường xuyên và giáo dục nghề nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh. Sau sắp xếp, toàn tỉnh Phú Thọ còn 655 cơ sở giáo dục, giảm 1.206 đầu mối, tương đương 64,8% so với trước sắp xếp.

Hỗ trợ trẻ em khuyết tật có hoàn cảnh khó khăn dịp năm học mới

Hỗ trợ trẻ em khuyết tật có hoàn cảnh khó khăn dịp năm học mới

Nhằm hỗ trợ, động viên trẻ em khuyết tật vượt lên hoàn cảnh khó khăn, vững bước vào năm học mới 2026 - 2027, ngày 22/8, Quỹ vì trẻ em khuyết tật Việt Nam phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Gia Lai, Hội bảo trợ trẻ em và người khuyết tật tỉnh Gia Lai tổ chức chương trình trao học bổng Hoa Xương Rồng đợt 1, năm 2026.

Ưu tiên các địa bàn đặc thù, xây dựng phên giậu biên cương vững chắc

Ưu tiên các địa bàn đặc thù, xây dựng phên giậu biên cương vững chắc

Tây Ninh đang hiện thực hóa cam kết chính trị mạnh mẽ "không để ai bị bỏ lại phía sau" thông qua việc phê duyệt danh sách các địa bàn đặc thù thụ hưởng chính sách ưu tiên để khơi thông nguồn lực phát triển phù hợp. Đây là bước đi mang tính đột phá nhằm thay đổi căn bản diện mạo nông thôn, nâng cao toàn diện đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số, đồng thời củng cố vững chắc thế trận lòng dân tại vùng biên cương trọng yếu.

Quảng Ngãi: Kiểm tra tình hình sạt lở, thiệt hại do mưa lũ

Quảng Ngãi: Kiểm tra tình hình sạt lở, thiệt hại do mưa lũ

Ngày 21/8, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi Đỗ Tâm Hiển kiểm tra trực tiếp tại các điểm sạt lở; thăm hỏi, động viên các hộ dân bị ảnh hưởng do mưa lớn, sạt lở, gió mạnh trên địa bàn các xã Tu Mơ Rông, Măng Ri. 

Chăm lo, tiếp sức học sinh khó khăn vùng biên giới tỉnh Quảng Trị

Chăm lo, tiếp sức học sinh khó khăn vùng biên giới tỉnh Quảng Trị

Ngày 21/8, Đoàn công tác Ban Chỉ đạo công tác biên giới tỉnh Quảng Trị do ông Hoàng Nam, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo đến thăm, động viên và trao tặng 200 suất quà cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn tại các xã biên giới trên địa bàn tỉnh.

Đẩy nhanh tiến độ thực hiện, giải ngân các chương trình mục tiêu quốc gia

Đẩy nhanh tiến độ thực hiện, giải ngân các chương trình mục tiêu quốc gia

Sáng 21/8, ông Đỗ Tâm Hiển, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã chủ trì cuộc làm việc với các sở, ngành và địa phương nhằm đánh giá tình hình và tháo gỡ các vướng mắc, quyết tâm đẩy nhanh tiến độ thực hiện cũng như giải ngân vốn của hai Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững được kéo dài sang năm 2026.

Nỗ lực chăm sóc sức khỏe cho người dân biên giới

Nỗ lực chăm sóc sức khỏe cho người dân biên giới

Cụ thể hóa Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 9/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, tỉnh Lai Châu đang tập trung triển khai Chiến dịch 90 ngày đêm khám sức khỏe miễn phí cho người dân. Từ vùng thấp đến các xã vùng cao, biên giới, ngành Y tế cùng cấp ủy, chính quyền và các lực lượng đang đưa dịch vụ y tế đến gần dân, từng bước hiện thực hóa mục tiêu chăm sóc sức khỏe toàn dân.

Tạo nền tảng tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số

Tạo nền tảng tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số

Những ngày đầu tháng 8, tại nhiều trường tiểu học ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Lắk, các lớp tăng cường tiếng Việt cho trẻ chuẩn bị vào lớp Một diễn ra trong không khí gần gũi, nhẹ nhàng. Từ những con chữ đầu tiên, các em được làm quen với tiếng Việt, trường lớp và nền nếp học tập, tạo tâm thế vững vàng trước khi bước vào năm học mới.