Gia Lai: Hướng đến nền nông nghiệp hữu cơ bền vững

Ở Gia Lai, không ít những vườn cây đang dần “quay lưng” với phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật, từng bước hướng đến một nền nông nghiệp hữu cơ bền vững. Hướng đi này không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế, góp phần bảo vệ môi trường mà còn thúc đẩy tiến trình xây dựng và phát triển các sản phẩm OCOP có chất lượng, thương hiệu.

vna_potal_gia_lai_huong_den_nen_nong_nghiep_huu_co_ben_vung_7171591.jpg
Sầu riêng trồng theo hướng hữu cơ tại huyện Ia Grai (Gia Lai). Ảnh: Hồng Điệp - TTXVN

Xuất phát từ niềm đam mê một nền nông nghiệp sạch, thầy giáo dạy văn Bùi Văn Dương đã thành công với sản phẩm chế phẩm sinh học hữu cơ, phục vụ những vườn cây. Lấy cùng lúc 2 bằng đại học ngành Sư phạm văn, cử nhân kinh tế và ngành học không hề liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp nhưng ông Bùi Văn Dương (37 tuổi, trú làng Ngó 3, xã Ia Ka, huyện Chư Păh, Gia Lai) lại rất thành công bên những vườn cây trái trong vùng.

Không thể bén duyên với nghề giáo viên, năm 2019, ông Dương quyết định đầu tư trồng cà phê như bao người dân trong vùng. Ban đầu, chế độ chăm sóc vườn cây cứ theo truyền thống như mọi người vẫn làm, cụ thể là chỉ chăm sóc bằng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật. Theo ông Dương, thời gian đầu, cây có vẻ sinh trưởng và phát triển tốt. Đó cũng là thời điểm giá cà phê đang đạt đỉnh, theo đó bà con tăng cường bón phân vô cơ. Nhưng một thời gian sau đó, do phải “ăn” quá nhiều hóa chất nên vườn cây bắt đầu đi xuống.

Xác định gắn bó lâu dài với vườn cây, ông Dương đã tự tìm tòi phương pháp cứu những vườn cà phê, sầu riêng đang bị ‘ngộ độc”, mà cách duy nhất là phải thay đổi thói quen canh tác, từ vô cơ chuyển sang hữu cơ. Qua quá trình tự học hỏi, thử nghiệm trên chính vườn cây của mình, ông Dương nhận thấy quá trình sản xuất phân bón hữu cơ không khó, thậm chí bất kể ai cũng có thể làm được.

Với các nguyên liệu cơ bản như đạm cá, đạm đậu nành, đạm trứng, các dòng kali hữu cơ, lân hữu cơ... Sau đó, ủ trong những chiếc thùng phuy lớn một thời gian nhất định là có thể đem ra sử dụng. Phân bón hữu cơ dạng này có thể bón, phun, tưới cho cây trồng, hoặc làm thức ăn cho cá. Với cây trồng, phân bón được cho vào hệ thống tưới tiết kiệm, từ đây nước đi đến đâu, phân bón theo đến đó, tiết kiệm được rất nhiều thời gian và công sức.

“Theo tính toán, sản xuất và sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh dạng này tiết kiệm từ 30- 50% chi phí so với dùng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật. Đặc biệt ở những thời điểm giá phân bón hóa học lên cao thì còn tiết kiệm được nhiều hơn nữa” - ông Dương chia sẻ. Bên cạnh đó, sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh còn góp phần cải thiện được môi trường đất, môi trường nước, tạo điều kiện phát triển các vi sinh vật có lợi, từ đó khống chế được bệnh tật trên những vườn cây...

Việc thay đổi thói quen trong sản xuất nông nghiệp ở Gia Lai nói riêng và ngành nông nghiệp cả nước nói chung không thể một sớm một chiều. Tuy nhiên, với phương châm “mưa dầm thấm lâu”, “dám nghĩ dám làm” như cá nhân ông Bùi Văn Dương đã và đang hình thành nên một nền nông nghiệp “sạch”.

Với việc vừa sản xuất phân bón hữu cơ và áp dụng vào vườn cây của chính mình. Thành quả mang lại chính đã giải bài toán tuyên truyền cho người dân thay đổi phương thức canh tác. Bây giờ, phong trào sử dụng sản phẩm phân bón hữu cơ vi sinh của ông Dương không còn xa lạ với bà con trong xã, thậm chí đã lan tỏa ra nhiều vùng trong huyện. Theo ông Dương thì khó thống kê được nhưng có không dưới 1.000 hộ nông dân trong huyện đã thành công khi áp dụng công nghệ sản xuất và sử dụng dòng phân bón hữu cơ vi sinh này.

Đơn cử như vườn cây 2,5 ha cà phê của gia đình ông Nguyễn Văn Trường ở thôn 1, xã Ia Ka, huyện Chư Păh. Cũng như những vườn cà phê khác trong vùng, vườn của ông Trường cũng sử dụng phân bón hóa học ngay từ đầu. Sau thời gian ngắn khai thác, vườn cây nhanh tàn, năng suất giảm rõ rệt. Sau khi đến tham quan, học hỏi phương pháp canh tác của ông Dương, gia đình về áp dụng vào vườn cây của mình.

Khi sử dụng chế phẩm phân bón hữu cơ vi sinh, ngoài tiết kiệm được chi phí và công chăm sóc, ngoài việc thân thiện với môi trường thì đối với vườn cây, hiệu quả là rất cao. Nếu sử dụng phân bón hóa học thì mỗi năm phải 4 lần bón phân, 4 lần làm cành chồi. Còn sử dụng phân bón hữu cơ thì mỗi năm bón phân 5 lần (1 lần mùa khô và 4 lần vào mùa mưa), nhưng chỉ làm cành chồi 2 lần mỗi năm, tiết kiệm được một nửa thời gian làm cành chồi.

Dùng phân bón hữu cơ, vườn cây được xanh tốt quanh năm, không có hiện tượng mất cành, mất tán. Do vậy, năm nào cũng duy trì được năng suất và sản lượng. Đặc biệt quả cà phê to, mọng và đảm bảo sạch- ông rường chia sẻ thêm.

Không chỉ áp dụng vào vườn cà phê, các chế phẩm sinh học của ông Dương cũng rất hiệu nghiệm trên các vườn sầu riêng, nhãn... Hiện, gia đình đang áp dựng phương pháp sử dụng phân bón hữu cơ trên 500 cây sầu riêng, gần 500 cây nhãn hương chi.

Theo ông Dương, bên cạnh niềm vui với các vườn cây xanh mướt, việc bà con đã tiếp nhận được phương pháp tự sản xuất các dạng phân bón hữu cơ vi sinh tự phục vụ cho vườn cây của gia đình cho thấy thành quả của mình đã mang lại nhiều ích lợi cho nền nông nghiệp tại địa phương.

Ông Nay Kiên, Chủ tịch UBND huyện Chư Păh chia sẻ, địa phương đã có chủ trương từ lâu thông qua các đề án phát triển nông nghiệp bền vững, nông nghiệp công nghệ cao với các tiêu chí như truy xuất nguồn gốc, đảm bảo môi trường, tưới tiết kiệm, sử dụng thiên địch để khống chế các loại sâu bệnh gây hại trên cây trồng. Với các loại cây ăn trái, huyện khuyến khích bà con sử dụng các loại phân bón hữu cơ vi sinh thân thiện với môi trường, đảm bảo một nền nông nghiệp sạch.

Quang Thái

(TTXVN)

Có thể bạn quan tâm

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Ở vùng biên giới Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên, nơi điều kiện tiếp cận công nghệ của người dân còn hạn chế, những người lính Đồn Biên phòng Nậm Nhừ đang tìm cách đưa thông tin chính thống và kỹ năng số đến gần hơn với từng bản làng. Từ những chiếc điện thoại, mã QR đến loa truyền thanh di động, họ đang trở thành những “người lính truyền thông số”, giúp bà con chủ động hơn trong tiếp cận thông tin và bảo vệ mình trên không gian mạng.

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Thực hiện chủ trương sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục công lập, năm học 2026-2027, hệ thống trường học trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk bước vào giai đoạn vận hành theo mô hình mới. Toàn tỉnh giảm 642/1.267 cơ sở giáo dục, tương đương 50,7%. Quy mô mạng lưới thay đổi kéo theo những thay đổi lớn về tổ chức, đội ngũ và phương thức quản lý. Những ngày đầu vận hành cho thấy, các trường cơ bản bảo đảm việc dạy và học; đồng thời bắt đầu nhận diện những thuận lợi, khó khăn và từng bước điều chỉnh cách quản trị để phù hợp với mô hình mới.

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Những ngày đầu năm học mới, ở ngôi trường lần đầu vang lên tiếng trống khai trường, 95 học sinh có hoàn cảnh đặc biệt đã bắt đầu một hành trình mới. Các em là con thương binh, liệt sĩ Công an nhân dân, trẻ em dân tộc thiểu số và học sinh thuộc diện bảo trợ xã hội, có hoàn cảnh khó khăn. Từ năm học 2026 – 2027, Trường Văn hóa Công an nhân dân IV tại Tây Ninh trở thành mái nhà chung, nơi các em được chở che, học tập, rèn luyện và tự tin nuôi dưỡng ước mơ.

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Công nghệ số đang ngày càng khẳng định vai trò kỳ diệu trong việc rút ngắn khoảng cách địa lý ở các thôn, bản vùng cao, biên giới Lào Cai. Các mô hình thí điểm thôn số tiêu biểu đã được triển khai bước đầu cho thấy hiệu quả vượt trội trong xóa nghèo công nghệ từ cấp cơ sở; góp phần hình thành thói quen ứng dụng công nghệ số tại cộng đồng dân cư; nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Những năm qua, giáo dục tại các xã biên giới của tỉnh Tây Ninh đã có nhiều chuyển biến tích cực khi mạng lưới trường lớp ngày càng hoàn thiện, tỷ lệ huy động học sinh đến trường được duy trì ở mức cao, chất lượng giáo dục từng bước nâng lên. Tuy nhiên, vẫn còn đó không ít “điểm nghẽn” về điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất và nguồn lực đầu tư đòi hỏi sớm được tháo gỡ nhằm phát triển nguồn nhân lực, giữ dân và giữ vững vùng biên giới.

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Phong trào “Bình dân học vụ số” cùng các chiến dịch như “Mùa hè số cùng VNeID” trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đang được triển khai đồng bộ, tạo chuyển biến tích cực trong chuyển đổi số. Đặc biệt tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, những tiện ích số đang dần được "phủ xanh", phục vụ thiết thực cho cuộc sống hằng ngày của người dân.

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Sáng 27/8, tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Cao Bằng, UBND tỉnh phối hợp với Bộ Công an tổ chức Lễ khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật. Buổi lễ có sự tham dự của Thượng tướng Nguyễn Văn Long, Thứ trưởng Bộ Công an cùng nhiều lãnh đạo Bộ Công an.

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Giảm chi phí, chủ động phòng bệnh, nâng cao chất lượng đàn vật nuôi và bảo vệ môi trường đang là những yêu cầu thiết yếu được người chăn nuôi quan tâm. Từ những thay đổi trong cách chăm sóc, vệ sinh chuồng trại đến xử lý chất thải bằng các giải pháp sinh học, nhiều hộ dân tại Bắc Ninh đang từng bước hình thành phương thức chăn nuôi an toàn, hiệu quả và bền vững.

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Thực hiện sắp xếp cơ sở giáo dục công lập theo hướng tinh gọn, quy mô hợp lý, tỉnh Lạng Sơn đặt mục tiêu giảm mạnh đầu mối, tập trung nguồn lực cho dạy và học; đồng thời bảo đảm quyền học tập của học sinh và phù hợp với đặc thù địa bàn miền núi, biên giới.

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Với những học sinh ở vùng sâu, vùng xa, mô hình trường nội trú không chỉ tạo điều kiện học tập thuận lợi mà còn mở thêm cơ hội tiếp cận giáo dục, từng bước thu hẹp khoảng cách vùng miền. Những ngày này, Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Ia R’vê, xã biên giới Ia R’vê, tỉnh Đắk Lắk, đang khẩn trương hoàn thiện cơ sở vật chất, tổ chức tuyển sinh và vận động học sinh đến trường.

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Những ngày đầu tháng 8, tại nhiều trường tiểu học ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Lắk, các lớp tăng cường tiếng Việt cho trẻ chuẩn bị vào lớp Một diễn ra trong không khí gần gũi, nhẹ nhàng. Từ những con chữ đầu tiên, các em được làm quen với tiếng Việt, trường lớp và nền nếp học tập, tạo tâm thế vững vàng trước khi bước vào năm học mới.

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Tảo hôn là vấn đề ảnh hưởng đến chất lượng dân số và cơ hội phát triển của trẻ em, thanh thiếu niên ở một số địa bàn vùng cao. Để thay đổi nhận thức, tuổi trẻ Điện Biên đã tích cực đổi mới cách tuyên truyền, đồng thời tạo điều kiện để thanh niên học tập, học nghề, lập nghiệp trước khi xây dựng gia đình.

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Đắk Lắk là địa phương có tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số cao, địa bàn rộng, nhiều vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, bãi ngang. Chỉ còn ít tuần nữa năm học 2026-2027 sẽ bắt đầu. Tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, công tác chuẩn bị trường lớp, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và vận động học sinh ra lớp đang được triển khai khẩn trương, với mục tiêu bảo đảm các điều kiện tốt nhất trước ngày khai giảng.

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên đang đẩy mạnh phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca theo hướng tập trung, liên kết sản xuất. Cùng với hoàn thành diện tích trồng mới, các địa phương chú trọng hướng dẫn người dân chăm sóc, trồng dặm, phòng trừ sâu bệnh, tạo nền tảng nâng cao năng suất và hiệu quả cây trồng.