Giải bài toán tiêu thụ nông sản (Bài 3)

Người tiêu dùng chọn mua các loại nông sản (rau, củ, quả) được trồng tại tỉnh Tây Ninh, phân phối tại hệ thống siêu thị Co.op Mart. Ảnh: Minh Phú - TTXVN
Người tiêu dùng chọn mua các loại nông sản (rau, củ, quả) được trồng tại tỉnh Tây Ninh, phân phối tại hệ thống siêu thị Co.op Mart. Ảnh: Minh Phú - TTXVN

Bài 3: Nắm bắt nhu cầu thị trường cần

Với xu thế người tiêu dùng thắt chặt chi tiêu hiện nay, nhiều loại nông sản đang gặp khó khăn trong tiêu thụ. Chính vì vậy, để nông sản thu hoạch có thể tiêu thụ ngay, việc liên kết với doanh nghiệp là điều cần thiết. Trong đó, các doanh nghiệp là đơn vị cầm trịch, hướng dẫn nông dân kỹ thuật sản xuất, thu hoạch và bảo quản để đảm bảo chất lượng cao nhất mà người tiêu dùng mong muốn.

Giải bài toán tiêu thụ nông sản (Bài 3) ảnh 1Người tiêu dùng chọn mua các loại nông sản (rau, củ, quả) được trồng tại tỉnh Tây Ninh, phân phối tại hệ thống siêu thị Co.op Mart. Ảnh: Minh Phú - TTXVN

Chủ động thị trường

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Đồng bằng sông Cửu Long là vùng sản xuất lương thực, thực phẩm, thủy hải sản và trái cây lớn nhất của cả nước; đóng góp khoảng 95% lượng gạo, gần 65% lượng thủy sản nuôi trồng và gần 70% các loại trái cây xuất khẩu. Sinh kế của đa số người dân trong vùng phần lớn gắn bó mật thiết với khu vườn, mảnh ruộng, dòng sông quanh nhà và hiệu quả mang lại từ sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, việc tiêu thụ nông sản của khu vực này không phải lúc nào cũng dễ dàng. Do đó, các đơn vị sản xuất cần một đơn vị có thể nắm bắt thị trường nhanh nhất, hiểu rõ nhu cầu để hướng dẫn nông dân sản xuất phù hợp với nhu cầu thị trường nhất.

Bà Ngô Tường Vy, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Tập đoàn xuất nhập khẩu trái cây Chánh Thu cho biết, Chánh Thu xuất khẩu các loại trái cây sang thị trường Mỹ, Hàn Quốc và một số nước châu Á khác. Chính vì vậy, Chánh Thu đã xây dựng vùng nguyên liệu tại các địa phương thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long để có đủ số lượng sản phẩm đạt chất lượng thị trường nhập khẩu yêu cầu. Trong trường hợp một số sản phẩm khách hàng yêu cầu mà vùng nguyên liệu chưa thể đáp ứng được, Chánh Thu liên hệ với các hợp tác xã để đặt hàng. Tuy nhiên, việc liên kết hợp tác này phải được ký kết trước đó, để khi có yêu cầu các hợp tác xã có đủ nguồn hàng đạt tiêu chuẩn xuất khẩu cung ứng cho Chánh Thu.

“Sở dĩ nông dân cần có sự liên kết, hợp tác với doanh nghiệp, bởi doanh nghiệp hiểu rõ thị trường đang cần cái gì để đầu tư. Việc liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp, nông dân, hợp tác xã sẽ tạo ra xu hướng minh bạch và tạo ra giá trị san sẻ lợi nhuận để tiếp tục đầu tư, phát triển bền vững. Theo đó, người nông dân bảo đảm tuân thủ các tiêu chuẩn chất lượng, kỹ thuật, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật để đạt các chứng nhận về sản xuất mà thị trường yêu cầu. Về phía doanh nghiệp xuất khẩu, cũng cần thận trọng trong lựa chọn sản phẩm, bảo đảm chất lượng từng lô hàng…”, bà Ngô Tường Vy chia sẻ thêm.

Đối với nông dân, việc liên kết với doanh nghiệp tiêu thụ như một giấy chứng nhận bảo đảm cho an toàn sản xuất của mình. Chính vì vậy, nông dân tích cực thực hiện các quy chuẩn mà doanh nghiệp đưa ra để đáp ứng cho thị trường.

Theo ông Lâm Văn Lam, Giám đốc Hợp tác xã nông nghiệp Bửu Long, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang, kể từ khi cây mía không đạt hiệu quả kinh tế như mong muốn, Hợp tác xã Bửu Long đã chuyển sang sản xuất cây khóm (dứa) và liên kết với Công ty cổ phần Chế biến thực phẩm xuất khẩu Miền Tây (WestFood). Doanh nghiệp này cung ứng giống, phân, thuốc bảo vệ thực vật, hướng dẫn kỹ thuật, ký hợp đồng bao tiêu toàn bộ sản phẩm khi thu hoạch với giá ổn định 5.700 đồng/kg và thu mua cả chồi khóm giống.

“Đến nay, hợp tác xã đã mở rộng diện tích lên 200 ha, đạt mức thu nhập cao từ 100-150 triệu đồng/ha, bà con cũng rất an tâm về "đầu ra" của trái khóm” ông Lâm Văn Lam phấn khởi chia sẻ.

Giải bài toán tiêu thụ nông sản (Bài 3) ảnh 2Anh Nguyễn Văn Thuận, quản lý tại Cơ sở chế biến hạt điều Nam Long kiểm tra sản phẩm trước khi đưa ra thị trường tiêu thụ. Ảnh: Hoàng Nhị - TTXVN

Đầu tư nâng tầm chất lượng

Mặc dù sự liên kết của doanh nghiệp với nông dân là một đảm bảo để sản xuất trở nên hiệu quả, nông dân có thu nhập cao, nhưng các doanh nghiệp hiện nay cũng đang gặp nhiều khó khăn trong việc liên kết bao tiêu sản phẩm cho nông dân. Đặc biệt là đối với các mặt hàng rau quả tươi sống, doanh nghiệp cần nguồn hàng chất lượng, đảm bảo số lượng để có thể cung ứng theo yêu cầu của nhà nhập khẩu.

Bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc Westfood cho biết, trái cây Việt Nam đã chiếm lĩnh nhiều thị trường trên thế giới; trong đó có nhiều thị trường "khó tính" như Mỹ, châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc. Đây là cơ hội cho trái cây Việt Nam phát triển. Để có thể tận dụng được tiềm năng của các thị trường, bản thân doanh nghiệp cũng phải đẩy mạnh đầu tư công nghệ, kho chứa phù hợp với yêu cầu thị trường nhập khẩu, đặc biệt là thị trường Trung Quốc. Trong năm 2022, Westfood đã trồng được 140 ha dứa MD2, dự kiến đến năm 2028 đạt 1.000 ha. Trong đó, vùng đạt chuẩn Global Gap chiếm 50% diện tích. Ngoài dứa giống King MD2, công ty cũng chủ trương phát triển các vùng nguyên liệu cho sản phẩm chủ lực của công ty như xoài, hạt sen, đu đủ, thanh long.

Do đó, từ nửa cuối năm 2023, Westfood đặt mục tiêu trọng tâm là nắm bắt nhu cầu thị trường, thị hiếu của khách hàng Trung Quốc, hợp tác, kết nối và đẩy mạnh xuất khẩu, qua đó góp phần quảng bá, nâng tầm giá trị thương hiệu nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế. Thêm vào đó, công ty có kế hoạch khởi công xây dựng nhà máy Westfood tại Hậu Giang đạt chuẩn châu Âu, diện tích đất 70.000 m2 và dự kiến đi vào hoạt động năm 2024. Điều này, giúp Westfood gia tăng công suất tạo ra nhiều dòng sản phẩm mới tiêu chuẩn chất lượng cao bên cạnh những sản phẩm hiện có.

Theo ông Nguyễn Đình Tùng, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Vina T&T, rau quả trái cây tươi là lợi thế của Việt Nam. Vina T&T cũng đã đầu tư vùng nguyên liệu đạt tiêu chuẩn xuất khẩu đi thị trường châu Âu, Mỹ, Australia liên kết với nông dân và hướng dẫn nông dân sản xuất đúng với tiêu chuẩn xuất khẩu. Tuy nhiên, khi không có công nghệ bảo quản phù hợp để đảm bảo chất lượng tốt nhất cho các sản phẩm thì trái cây Việt Nam cũng chỉ đi được thị trường gần. Ở những thị trường xa, để sản phẩm này lên kệ siêu thị, doanh nghiệp phải tự thân đầu tư công nghệ bảo quản. Đây là chi phí rất tốn kém. Tuy nhiên, nếu nhiều doanh nghiệp cùng đầu tư công nghệ bảo quản tốt thì sẽ giảm bớt chi phí, tăng cạnh tranh, tăng cơ hội cho trái cây Việt Nam.

“Trong sản xuất và tiêu thụ nông sản, đặc biệt là các loại nông sản tươi sống như rau củ, trái cây thì kho lạnh và kho bảo quản nhiều cấp là điều kiện cần thiết của một đơn vị tiêu thụ. Chất lượng càng tốt, giá trị càng cao, nông dân càng được lợi”, ông Paule Lê, Tổng giám đốc Tập đoàn Central Retail cho hay.

Giải bài toán tiêu thụ nông sản (Bài 3) ảnh 3Khách hàng quan tâm đến đặc sản bánh tráng siêu mỏng của Tây Ninh được bán tại hệ thống siêu thị của Saigon Co.op. Ảnh: Minh Phú - TTXVN

Theo ông Ngô Hồng Phong, Phó Cục trưởng Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường nông sản, nhằm thúc đẩy chế biến gắn với phát triển thị trường nông, lâm, thủy sản, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề ra định hướng trong giai đoạn 2023-2025, sẽ đẩy mạnh tổ chức sản xuất tập trung các sản phẩm chủ lực quốc gia, sản phẩm chủ lực địa phương theo chuỗi giá trị gắn với chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ cao. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng triển khai xây dựng các vùng nguyên liệu tập trung, đáp ứng yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm, cấp mã số vùng trồng, vùng nuôi, ao nuôi bảo đảm truy xuất nguồn gốc; mã cơ sở đóng gói, nhãn mác hàng nông sản. Đồng thời, tăng cường tổ chức các hoạt động giao thương, quảng bá, kết nối xuất khẩu tại các khu vực thị trường đang duy trì tốt đà tăng trưởng như Trung Quốc, Nhật Bản, châu Âu… (Xem tiếp Bài 4: Khơi thông nguồn vốn)

Hồng Nhung

(TTXVN)

Có thể bạn quan tâm

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Ở vùng biên giới Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên, nơi điều kiện tiếp cận công nghệ của người dân còn hạn chế, những người lính Đồn Biên phòng Nậm Nhừ đang tìm cách đưa thông tin chính thống và kỹ năng số đến gần hơn với từng bản làng. Từ những chiếc điện thoại, mã QR đến loa truyền thanh di động, họ đang trở thành những “người lính truyền thông số”, giúp bà con chủ động hơn trong tiếp cận thông tin và bảo vệ mình trên không gian mạng.

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Thực hiện chủ trương sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục công lập, năm học 2026-2027, hệ thống trường học trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk bước vào giai đoạn vận hành theo mô hình mới. Toàn tỉnh giảm 642/1.267 cơ sở giáo dục, tương đương 50,7%. Quy mô mạng lưới thay đổi kéo theo những thay đổi lớn về tổ chức, đội ngũ và phương thức quản lý. Những ngày đầu vận hành cho thấy, các trường cơ bản bảo đảm việc dạy và học; đồng thời bắt đầu nhận diện những thuận lợi, khó khăn và từng bước điều chỉnh cách quản trị để phù hợp với mô hình mới.

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Những ngày đầu năm học mới, ở ngôi trường lần đầu vang lên tiếng trống khai trường, 95 học sinh có hoàn cảnh đặc biệt đã bắt đầu một hành trình mới. Các em là con thương binh, liệt sĩ Công an nhân dân, trẻ em dân tộc thiểu số và học sinh thuộc diện bảo trợ xã hội, có hoàn cảnh khó khăn. Từ năm học 2026 – 2027, Trường Văn hóa Công an nhân dân IV tại Tây Ninh trở thành mái nhà chung, nơi các em được chở che, học tập, rèn luyện và tự tin nuôi dưỡng ước mơ.

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Công nghệ số đang ngày càng khẳng định vai trò kỳ diệu trong việc rút ngắn khoảng cách địa lý ở các thôn, bản vùng cao, biên giới Lào Cai. Các mô hình thí điểm thôn số tiêu biểu đã được triển khai bước đầu cho thấy hiệu quả vượt trội trong xóa nghèo công nghệ từ cấp cơ sở; góp phần hình thành thói quen ứng dụng công nghệ số tại cộng đồng dân cư; nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Những năm qua, giáo dục tại các xã biên giới của tỉnh Tây Ninh đã có nhiều chuyển biến tích cực khi mạng lưới trường lớp ngày càng hoàn thiện, tỷ lệ huy động học sinh đến trường được duy trì ở mức cao, chất lượng giáo dục từng bước nâng lên. Tuy nhiên, vẫn còn đó không ít “điểm nghẽn” về điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất và nguồn lực đầu tư đòi hỏi sớm được tháo gỡ nhằm phát triển nguồn nhân lực, giữ dân và giữ vững vùng biên giới.

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Phong trào “Bình dân học vụ số” cùng các chiến dịch như “Mùa hè số cùng VNeID” trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đang được triển khai đồng bộ, tạo chuyển biến tích cực trong chuyển đổi số. Đặc biệt tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, những tiện ích số đang dần được "phủ xanh", phục vụ thiết thực cho cuộc sống hằng ngày của người dân.

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Sáng 27/8, tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Cao Bằng, UBND tỉnh phối hợp với Bộ Công an tổ chức Lễ khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật. Buổi lễ có sự tham dự của Thượng tướng Nguyễn Văn Long, Thứ trưởng Bộ Công an cùng nhiều lãnh đạo Bộ Công an.

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Giảm chi phí, chủ động phòng bệnh, nâng cao chất lượng đàn vật nuôi và bảo vệ môi trường đang là những yêu cầu thiết yếu được người chăn nuôi quan tâm. Từ những thay đổi trong cách chăm sóc, vệ sinh chuồng trại đến xử lý chất thải bằng các giải pháp sinh học, nhiều hộ dân tại Bắc Ninh đang từng bước hình thành phương thức chăn nuôi an toàn, hiệu quả và bền vững.

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Thực hiện sắp xếp cơ sở giáo dục công lập theo hướng tinh gọn, quy mô hợp lý, tỉnh Lạng Sơn đặt mục tiêu giảm mạnh đầu mối, tập trung nguồn lực cho dạy và học; đồng thời bảo đảm quyền học tập của học sinh và phù hợp với đặc thù địa bàn miền núi, biên giới.

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Với những học sinh ở vùng sâu, vùng xa, mô hình trường nội trú không chỉ tạo điều kiện học tập thuận lợi mà còn mở thêm cơ hội tiếp cận giáo dục, từng bước thu hẹp khoảng cách vùng miền. Những ngày này, Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Ia R’vê, xã biên giới Ia R’vê, tỉnh Đắk Lắk, đang khẩn trương hoàn thiện cơ sở vật chất, tổ chức tuyển sinh và vận động học sinh đến trường.

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Những ngày đầu tháng 8, tại nhiều trường tiểu học ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Lắk, các lớp tăng cường tiếng Việt cho trẻ chuẩn bị vào lớp Một diễn ra trong không khí gần gũi, nhẹ nhàng. Từ những con chữ đầu tiên, các em được làm quen với tiếng Việt, trường lớp và nền nếp học tập, tạo tâm thế vững vàng trước khi bước vào năm học mới.

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Tảo hôn là vấn đề ảnh hưởng đến chất lượng dân số và cơ hội phát triển của trẻ em, thanh thiếu niên ở một số địa bàn vùng cao. Để thay đổi nhận thức, tuổi trẻ Điện Biên đã tích cực đổi mới cách tuyên truyền, đồng thời tạo điều kiện để thanh niên học tập, học nghề, lập nghiệp trước khi xây dựng gia đình.

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Đắk Lắk là địa phương có tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số cao, địa bàn rộng, nhiều vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, bãi ngang. Chỉ còn ít tuần nữa năm học 2026-2027 sẽ bắt đầu. Tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, công tác chuẩn bị trường lớp, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và vận động học sinh ra lớp đang được triển khai khẩn trương, với mục tiêu bảo đảm các điều kiện tốt nhất trước ngày khai giảng.

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên đang đẩy mạnh phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca theo hướng tập trung, liên kết sản xuất. Cùng với hoàn thành diện tích trồng mới, các địa phương chú trọng hướng dẫn người dân chăm sóc, trồng dặm, phòng trừ sâu bệnh, tạo nền tảng nâng cao năng suất và hiệu quả cây trồng.