Giảm nghèo bền vững ở vùng đồng bào dân tộc Khmer

Giảm nghèo bền vững ở vùng đồng bào dân tộc Khmer

Tỉnh Trà Vinh có gần 330.000 người là dân tộc Khmer, chiếm hơn 31,5% dân số của tỉnh. Để giảm nghèo bền vững vùng đồng bào dân tộc Khmer, cùng với việc thực thi các chính sách dân tộc, hoàn thiện hệ thống hạ tầng, tỉnh chú trọng các giải pháp hỗ trợ hộ Khmer sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng để tăng hiệu quả kinh tế trên cùng một đơn vị diện tích. Đồng bào Khmer địa phương phần lớn cư trú ở nông thôn với nguồn thu nhập chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp.

Giảm nghèo bền vững ở vùng đồng bào dân tộc Khmer ảnh 1Nhiều hộ nông dân Khmer trên vùng giồng cát tỉnh Trà Vinh chuyển sang trồng các loại cây màu chịu hạn, thích ứng với biến đổi khí hậu, cho hiệu quả kinh tế cao. Ảnh: Phúc Thanh

Trà Cú là huyện nghèo vùng sâu của tỉnh Trà Vinh với dân số hơn 156.000 người, trong đó, đồng bào Khmer chiếm hơn 62%. Đây là địa phương có tỷ lệ đồng bào Khmer cao nhất tỉnh. Ông Huỳnh Văn Thảo, Trưởng Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Trà Cú cho biết, toàn huyện có 14.000 ha đất trồng lúa, hơn 6.000 ha trồng màu và trên 1.100 ha nuôi thủy sản. Là địa bàn thuần nông, nên những năm qua, huyện ưu tiên hỗ trợ người dân phát triển sản xuất nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Trong 5 năm qua, huyện đã chuyển đổi hơn 7.400 ha đất sản xuất các loại cây kém hiệu quả sang các cây, con có giá trị kinh tế cao, cho hiệu quả tăng gấp nhiều lần trên cùng vùng đất. Nhiều mô hình cho lợi nhuận cao hơn từ 3 lần trở lên sau chuyển đổi, đang tiếp tục được nhân rộng tại địa phương, như nuôi lươn thương phẩm, nuôi tôm, trồng lúa hữu cơ, rau an toàn, khoai môn, lạc, ớt chỉ thiên...

Bà Quách Thị Út, xã An Quảng Hữu, huyện Trà Cú trồng rau an toàn khoảng 5 năm nay. Bà Út chia sẻ, trước đây, nông dân địa phương chủ yếu trồng lúa nhưng năng suất rất thấp do địa phương thường xuyên bị thiếu nước tưới vào mùa khô. Từ khi được địa phương vận động chuyển sang trồng rau an toàn, tham gia tổ hợp tác, vườn rau 2.000 mét vuông của gia đình bà luôn cho thu nhập bình quân khoảng 8 triệu đồng/tháng. Vì thị trường đầu ra nông sản an toàn khá ổn định nên  nhiều hộ trên địa bàn đã thoát nghèo, thu nhập được cải thiện đáng kể.

Giảm nghèo bền vững ở vùng đồng bào dân tộc Khmer ảnh 2Làng nghề đan lát các sản phẩm từ tre, trúc ở ấp Giồng Đình, xã Đại An, huyện Trà Cú (Trà Vinh) mỗi năm sản xuất hàng chục ngàn sản phẩm như: giỏ, thúng, rổ..., tạo việc làm ổn định cho hàng trăm lao động dân tộc Khmer tại địa phương. Ảnh: Phúc Thanh

Theo Chủ tịch UBND huyện Trà Cú Lê Hồng Phúc, được Trung ương và tỉnh quan tâm, cùng quyết tâm của cả hệ thống chính trị, sự đồng thuận của nhân dân trên địa bàn, thời gian qua huyện đã thực hiện nhiều giải pháp lồng ghép đồng bộ các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội,  các chính sách an sinh xã hội nên bộ mặt nông thôn các xã vùng sâu, vùng khó khăn có nhiều đổi mới.

Giai đoạn 2011-2020, huyện đã giải ngân tổng số tiền gần 1.772 tỷ đồng thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững. Nhờ vậy, hàng nghìn hộ nghèo trên địa bàn huyện được hỗ trợ vốn phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế, đào tạo nghề, tạo việc làm, hỗ trợ nhà ở, đất ở…

Giảm nghèo bền vững ở vùng đồng bào dân tộc Khmer ảnh 3Nông dân huyện Châu Thành (Trà Vinh) được hỗ trợ chuyển đổi cơ cấu cây trồng cho thu nhập tăng gấp 4 lần so với trồng lúa. Ảnh: Thanh Hòa

Xác định một trong những nguyên nhân dẫn đến nghèo là do thiếu vốn sản xuất, lãnh đạo huyện đã chỉ đạo các xã, thị trấn phối hợp Phòng Giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện thực hiện đầu tư tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo, cận nghèo, hộ mới thoát nghèo. Đây là giải pháp tích cực giúp các hộ nghèo có nguồn vốn làm ăn để vươn lên thoát nghèo bền vững. 10 năm qua, đã có hơn 65.000 lượt hộ được vay ưu đãi tổng số tiền hơn 791 tỷ đồng. Đến cuối năm 2019, thu nhập bình quân đầu người của huyện đạt 40,52 triệu đồng/người/năm, tăng 28 triệu/người/năm so với năm 2011. Tỷ lệ hộ nghèo của huyện từ hơn 33% (cuối năm 2010) đã giảm còn 4,6% (cuối năm 2019).

Tương tự, hàng nghìn hộ nghèo, cận nghèo, hộ nghèo dân tộc, hộ nghèo có chủ hộ là nữ, hộ nghèo thuộc đối tượng chính sách, người có công, hộ nghèo thuộc đối tượng chính sách bảo trợ xã hội ở huyện Duyên Hải được tiếp cận được các chính sách của Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững. Nhờ vậy, tỷ lệ hộ nghèo của huyện được kéo giảm bình quân 4,5%/năm, riêng các xã đặc biệt khó khăn giảm 5,3%/năm, hộ nghèo dân tộc thiểu số giảm 6,5% theo chuẩn nghèo quốc gia giai đoạn 2016 – 2020.

Huyện Duyên Hải xác định việc hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo là nhiệm vụ trọng tâm trong công tác giảm nghèo. Vì vậy, huyện tích cực triển khai chương trình trợ giúp trực tiếp về giống cây, vật tư nông nghiệp cho hộ nghèo tại các địa phương tùy theo điều kiện thực tiễn. Theo đó, nhiều hộ nghèo đã mạnh dạn đầu tư trồng trọt, phát triển kinh tế, từng bước ổn định cuộc sống và  tích lũy lợi nhuận để tái đầu tư sản xuất.

Bà Thạch Thị Hiền, xã Đôn Châu, huyện Duyên Hải chia sẻ, nhờ sự hỗ trợ vốn sản xuất kịp thời của chính quyền, đoàn thể xã Đôn Châu và huyện Duyên Hải, gia đình bà mới thoát được nghèo. Việc hỗ trợ đã giúp gia đình bà giải quyết khó khăn kinh tế, vừa tạo động lực để thành viên trong gia đình hăng hái lao động, sản xuất. Theo bà Hiền, gia đình bà thuộc diện hộ nghèo nhiều năm do thiếu vốn sản xuất. Đầu năm 2018, được Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Duyên Hải hỗ trợ vốn 12 triệu đồng đầu tư xây dựng nhà lưới trồng rau màu, cây giống, hệ thống tưới tiêu. Bên cạnh đó, gia đình tranh thủ ngồn vốn hỗ trợ sinh kế cho phụ nữ nghèo làm chủ hộ của Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Đôn Châu, cùng vốn đối ứng, bà đầu tư gần 30 triệu đồng xây dựng nhà lưới trồng rau an toàn trên diện tích 1.000 mét vuông. Thêm sự cần cù, vượt khó của các thành viên trong gia đình, cuối năm 2018, hộ bà Thạch Thị Hiền đã thoát nghèo thành công. Từ lợi nhuận trồng rau màu, bà Hiền mạnh dạn chăn nuôi bò sinh sản để tăng thêm nguồn thu nhập, phát triển kinh tế gia đình.

Giảm nghèo bền vững ở vùng đồng bào dân tộc Khmer ảnh 4Thu hoạch lúa bằng máy gặt đập liên hợp tại xã Phước Hưng, huyện Trà Cú (Trà Vinh). Ảnh: Phúc Thanh


Gia đình ông Thạch Vơ, xã Đôn Xuân, huyện Duyên Hải chỉ có 1.000 mét vuông sản xuất nông nghiệp nhưng hiện có thu nhập rất ổn định nhờ được hỗ trợ chuyển đổi cơ cấu cây trồng hợp lý, thu nhập từ 80-100 triệu đồng/năm, tăng gấp 4-5 lần so với trồng lúa trước đó. Ông Thạch Vơ chia sẻ, trước đây gia đình là hộ nghèo thường xuyên ở địa phương. Năm 2013, ông vay vốn 15 triệu đồng từ Ngân hàng chính sách xã hội để phát triển sản xuất, cải thiện kinh tế gia đình.

Được chính quyền hướng dẫn, ông dùng số tiền này nuôi bò sinh sản; đồng thời chuyển đổi 1.000 mét vuông đất trồng lúa sang trồng màu trong nhà lưới. Hiện, ruộng rau của ông luân canh các loại như rau muống, hành lá, khổ qua…  8 vụ/năm cho thu nhập bình quân từ 80-100 triệu đồng/năm. Ông cũng xuất bán được nhiều lứa bê với lợi nhuận 10 triệu đồng/con. Gia đình ông đã trả được nợ ngân hàng, thoát nghèo, kinh tế gia đình hiện khá ổn định.

Tỉnh Trà Vinh hiện còn 1 huyện nghèo loại II, 23 xã khu vực III, 10 ấp đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số thuộc diện đầu tư của Chương trình 135; 4 xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển, 6 xã đảo và 5 xã an toàn khu. Đến cuối năm 2019, tỉnh còn 9.214 hộ nghèo, giảm 2,73% so với năm 2018, trong đó hộ nghèo dân tộc Khmer còn 5.394 hộ, giảm 5,22%.  Năm 2020, Trà Vinh đặt mục tiêu giảm tối thiểu 1,5% số hộ nghèo, riêng hộ dân tộc Khmer nghèo giảm từ 2-3%./.

Thanh Hòa, Phúc Thanh

(DTMN)
Dân tộc Khmer

Tên tự gọi: Người Khmer.

Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.

Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.

Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.

Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).

Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.

Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu (2).JPG
Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu

: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.

Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.

Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.

Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.

Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.

Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.

Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.

Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.

Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.

Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.

Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).

Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.

Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm.jpg
Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm

Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Khmer

Có thể bạn quan tâm

Những người không ngủ nơi phên dậu Tổ quốc

Những người không ngủ nơi phên dậu Tổ quốc

Trong những ngày nghỉ lễ dịp 30/4-1/5, trên tuyến biên giới miền Tây Nghệ An, cán bộ, chiến sĩ các đồn biên phòng bước vào cao điểm trực sẵn sàng chiến đấu. Quân số được duy trì nghiêm túc 24/24 giờ, các tổ, chốt được tăng cường, sẵn sàng xử lý mọi tình huống phát sinh, không để bị động, bất ngờ.

Sắc màu nhộn nhịp nơi chợ vùng cao Tuyên Quang

Sắc màu nhộn nhịp nơi chợ vùng cao Tuyên Quang

Giữa núi non trùng điệp của Tuyên Quang, những phiên chợ vùng cao hiện lên như bức tranh sống động, đậm đà bản sắc văn hóa các dân tộc.

Không chỉ là nơi trao đổi hàng hóa, chợ còn là không gian gặp gỡ, giao lưu, nơi lưu giữ những phong tục, tập quán và nét sinh hoạt mộc mạc, chân tình của đồng bào, tạo nên sức hút riêng cho du lịch vùng cao.

Khơi thông nguồn lực kinh tế biên mậu vùng Tây Nam của Tổ quốc

Khơi thông nguồn lực kinh tế biên mậu vùng Tây Nam của Tổ quốc

Nằm ở cửa ngõ Tây Nam đất nước, An Giang không chỉ gánh vác sứ mệnh bảo vệ chủ quyền thiêng liêng mà còn là “cầu nối” chiến lược trong dòng chảy hội nhập quốc tế. Với đường biên giới dài gần 150km, tỉnh vừa giữ vững từng tấc đất biên cương, vừa phát triển kinh tế biên mậu, nâng cao đời sống người dân vùng biên, xây dựng vùng biên giới thành “phên giậu” vững chắc của Tổ quốc.

Bàn giao 5 công trình dân sinh, sẻ chia khó khăn với người dân biên giới

Bàn giao 5 công trình dân sinh, sẻ chia khó khăn với người dân biên giới

Nhân dịp kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026), ngày 30/4, Đồn Biên phòng Hướng Phùng (Bộ đội Biên phòng Quảng Trị) đã tổ chức lễ dâng hương tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ và phối hợp với nhóm thiện nguyện “Vì nụ cười trẻ thơ” thành phố Hải Phòng bàn giao 5 công trình giếng khoan phục vụ dân sinh cho người dân trên địa bàn xã Hướng Phùng.

Hiệu quả trong ứng dụng công nghệ trong cảnh báo cháy rừng

Hiệu quả trong ứng dụng công nghệ trong cảnh báo cháy rừng

Trước những diễn biến phức tạp của thời tiết trong mùa khô, việc ứng dụng công nghệ vào quản lý, bảo vệ rừng đang trở thành giải pháp quan trọng. Tại Hạt kiểm lâm Sìn Hồ, Chi cục Kiểm lâm Lai Châu, hệ thống quan trắc, cảnh báo cháy rừng sớm đã phát huy hiệu quả, giúp lực lượng kiểm lâm chủ động hơn trong phát hiện và xử lý các điểm cháy.

Đổi thay trên vùng đất Ô Lâm anh hùng

Đổi thay trên vùng đất Ô Lâm anh hùng

Nằm giữa lòng vùng Bảy Núi huyền thoại, xã Ô Lâm (tỉnh An Giang) hôm nay không chỉ là bản hùng ca bất tử về tinh thần “kiên cường bám trụ, giữ vững núi Tô”, mà còn là minh chứng sống động cho sự hồi sinh kỳ diệu từ tro tàn chiến tranh. Tựa lưng vào những địa danh lịch sử lừng lẫy, vùng đất căn cứ cách mạng năm xưa đang chuyển mình mạnh mẽ trong vận hội mới, viết tiếp chương sử ấm no trên hành trình xây dựng nông thôn mới trù phú, an lành.

Phát huy hiệu quả mô hình lúa gạo sạch theo chuỗi liên kết

Phát huy hiệu quả mô hình lúa gạo sạch theo chuỗi liên kết

Mô hình liên kết sản xuất lúa gạo sạch tại xã Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi đã chứng minh một điều, khi nông dân, doanh nghiệp và địa phương cùng tham gia, hạt lúa có thêm cơ hội nâng cao giá trị. Quy trình canh tác an toàn, đầu ra ổn định, lợi nhuận tăng là những yếu tố triển vọng để nhân rộng trong thời gian tới.

‘Bảo mẫu’ cho đàn voi giữa đại ngàn Buôn Đôn

‘Bảo mẫu’ cho đàn voi giữa đại ngàn Buôn Đôn

Mùa khô ở Tây Nguyên, giữa nắng như thiêu như đốt trong rừng khộp Buôn Đôn, nài voi của của Trung tâm Bảo tồn voi, cứu hộ động vật và quản lý bảo vệ rừng tỉnh Đắk Lắk vẫn rong ruổi cùng những chú voi đi tìm kiếm nguồn nước, thức ăn và chăm sóc sức khỏe cho voi.

'Bạch mã' giúp người dân miền núi xứ Lạng làm giàu

'Bạch mã' giúp người dân miền núi xứ Lạng làm giàu

Chăn nuôi ngựa, nhất là ngựa bạch những năm gần đây đang phát triển mạnh ở các địa phương tại tỉnh Lạng Sơn. Vật nuôi này mang lại hiệu quả kinh tế cao, giúp đồng bào các dân tộc xứ Lạng ổn định cuộc sống, nhiều hộ vươn lên làm giàu...

Nơi chắp cánh ước mơ cho học sinh vùng cao biên giới Lai Châu

Nơi chắp cánh ước mơ cho học sinh vùng cao biên giới Lai Châu

Không còn bó hẹp trong những chiếc bảng đen, phấn trắng truyền thống, những tiết học tại Trường Phổ thông Dân tộc Bán trú Tiểu học và Trung học cơ sở Trung Chải (xã Pa Tần, tỉnh Lai Châu) giờ đây trở lên sinh động từ những màn hình tương tác thông minh.

Sớm di dời người dân vùng nguy cơ sạt lở đến nơi an toàn

Sớm di dời người dân vùng nguy cơ sạt lở đến nơi an toàn

Thực hiện Đề án “Sắp xếp ổn định dân cư khu vực có nguy cơ cao xảy ra lũ ống, lũ quét, sạt lở đất tại các huyện miền núi giai đoạn 2021-2025,” đến nay tỉnh Thanh Hóa đã sắp xếp, vận động được 574 hộ xây nhà và di chuyển đến nơi ở mới. Tuy nhiên, tới nay vẫn đang còn nhiều hộ dân sống trong vùng nguy cơ sạt lở, các hộ dân sống tại những khu vực này không có đủ kinh phí để di chuyển đến nơi ở mới và luôn phải sống trong tâm trạng bất an khi mùa mưa bão về.

Người dân vùng cao Thanh Hóa rất cần nước sạch sinh hoạt

Người dân vùng cao Thanh Hóa rất cần nước sạch sinh hoạt

Nhiều năm qua, tiêu chí nước sạch luôn giữ vai trò then chốt trong xây dựng nông thôn mới tại tỉnh Thanh Hóa, tiêu chí này trực tiếp nâng cao chất lượng cuộc sống và bảo đảm an sinh cho người dân. Tuy nhiên, tại khu vực các xã miền núi của tỉnh đang thiếu nhiều công trình cấp nước sạch, nhiều xã đang thiếu nguồn lực đầu tư, gặp khó khăn trong quản lý, vận hành, làm người dân nhiều xã miền núi luôn sống trong cảnh thiếu nước sạch.

Vùng cao Quảng Trị tập trung chống hạn cứu lúa

Vùng cao Quảng Trị tập trung chống hạn cứu lúa

Nắng nóng kéo dài khiến nhiều diện tích lúa vụ Đông Xuân ở xã Tuyên Lâm nói riêng, nhiều địa phương miền núi tỉnh Quảng Trị nói chung đối mặt nguy cơ thiếu nước, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất cuối vụ.

Khánh thành điểm dân cư liền kề chốt dân quân biên giới xã tại Lâm Đồng

Khánh thành điểm dân cư liền kề chốt dân quân biên giới xã tại Lâm Đồng

Ngày 28/4, Bộ Tư lệnh Quân khu 7 (Bộ Quốc phòng) phối hợp với tỉnh Lâm Đồng tổ chức Lễ khánh thành, bàn giao công trình Điểm dân cư liền kề chốt dân quân biên giới xã Quảng Trực. Đây là hoạt động thiết thực hướng tới kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026).

Xóa bỏ rào cản, 'gõ cửa' nhà dân để hoàn tất thủ tục hành chính

Xóa bỏ rào cản, 'gõ cửa' nhà dân để hoàn tất thủ tục hành chính

Bằng những cách làm sáng tạo như Chiến dịch “Ngày thứ 7 hành chính lưu động” hay tổ chức các tổ công tác về tận thôn, xóm, chính quyền các địa phương tại tỉnh Quảng Ngãi đang từng bước xóa bỏ rào cản về khoảng cách địa lý, thực hiện mục tiêu xây dựng một nền hành chính phục vụ, gần dân và sát dân.

 Nghị quyết được cụ thể hóa để đánh thức tiềm năng cơ sở

Nghị quyết được cụ thể hóa để đánh thức tiềm năng cơ sở

Giữa những dãy núi đá tai mèo trùng điệp, nơi gió hun hút thổi qua từng triền đá xám, Mèo Vạc hôm nay đang chuyển mình bằng một nhịp điệu mới - nhịp điệu của hành động, của đổi thay, bắt đầu từ những nghị quyết được cụ thể hóa ngay từ cơ sở. 

Đồng hành cùng học sinh vùng khó bước vào kỳ thi lớp 10

Đồng hành cùng học sinh vùng khó bước vào kỳ thi lớp 10

Ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Sơn La đang triển khai nhiều giải pháp, từ xây dựng kế hoạch ôn tập thống nhất toàn tỉnh, tổ chức thi thử, hỗ trợ học sinh bán trú đến tăng cường phụ đạo miễn phí, tạo mọi điều kiện để các em tự tin bước vào kỳ thi lớp10 - kỳ thi quan trọng đầu tiên trên hành trình học tập.

'Vàng xanh' tạo động lực phát triển kinh tế vùng Tây Côn Lĩnh

'Vàng xanh' tạo động lực phát triển kinh tế vùng Tây Côn Lĩnh

Vụ chè xuân Shan tuyết đang vào chính vụ tại các xã vùng cao, vùng biên dưới chân dãy Tây Côn Lĩnh như: Thanh Thủy, Cao Bồ, Lao Chải (Tuyên Quang). Những năm gần đây, cây chè không chỉ mang lại nguồn thu ổn định mà còn trở thành hướng phát triển kinh tế chủ lực, góp phần xóa đói giảm nghèo bền vững, từng bước nâng cao đời sống cho người dân địa phương.

Chăm lo cho đoàn viên, người lao động vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Chăm lo cho đoàn viên, người lao động vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Sáng 28/4, tỉnh Lạng Sơn tổ chức phát động Tháng công nhân và Tháng hành động về An toàn vệ sinh lao động năm 2026 với chủ đề: “Công nhân Việt Nam: Đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động”, “Đổi mới quản lý và nâng cao hiệu quả công tác an toàn, vệ sinh lao động trong kỷ nguyên số”.

Hiện thực hóa mục tiêu 'đi làm thuê - về làm chủ'

Hiện thực hóa mục tiêu 'đi làm thuê - về làm chủ'

Tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tỉnh Đồng Tháp đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm đưa lao động đi làm việc hợp pháp ở nước ngoài hiệu quả hơn, qua đó góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống người dân.

Khai thác tối đa dư địa, bảo đảm nguồn thu thuế xuất nhập khẩu

Khai thác tối đa dư địa, bảo đảm nguồn thu thuế xuất nhập khẩu

Hoạt động thương mại biên giới tại tỉnh Lạng Sơn đang có sự gia tăng đáng kể về lưu lượng hàng hóa xuất nhập khẩu. Trước yêu cầu tạo thuận lợi thương mại và đảm bảo nguồn thu ngân sách nhà nước, lực lượng hải quan đã và đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm tăng thu thuế xuất nhập khẩu bền vững và hiệu quả.

Cần Thơ đưa nông thôn mới đi vào chiều sâu

Cần Thơ đưa nông thôn mới đi vào chiều sâu

Theo ông Trần Chí Hùng, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ, thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi năm 2026, thành phố Cần Thơ phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, sự đồng thuận xã hội, sự năng động, sáng tạo, chủ động tham gia trực tiếp của người dân đi vào chiều sâu, hiệu quả, bền vững.